Nguồn gốc Mă Lai của dân tộc Việt Nam

B́nh-nguyên Lộc

 

Chương IV

Mă Lai chủng

Chúng tôi hẹn nghiên cứu các chủng Mông Gô Lích ở phần A của chương II, nhưng mới nghiên cứu được có ba chủng: Bắc Mông Gô Lích, Trung Mông Gô Lích và Nam Mông Gô Lích rồi phải bước sang những vấn đề khác, v́ mạch của sách phải đi như vậy.

Chúng tôi cần chứng minh rằng không có di cư ồ ạt của Tàu đến Giao Chỉ như sử gia Nguyễn Phương đă nói để kết luận rằng Việt Nam không phải là đồng bào của hai bà Trưng mà chỉ là con cháu của Tàu di cư. Mà muốn chứng minh như thế, chúng tôi lại phải bác thêm thuyết của L. Aurousseau và Trần Kinh Hoà cho rằng Tây Âu và Tượng Quận là Cổ Việt Nam. Muốn vậy, phải nghiên cứu người Tây Âu. Đi lạc đường quá xa v́ những lư do đó.

Nhưng không thể không đi xa ngoài đề v́ cái mục đích xoá hẳn bao nhiêu ngộ nhận từ trước tới nay về những ǵ xảy ra vào năm Lộ Bác Đức tới chinh phục ta, bởi những sự kiện lịch sử của thời ấy bị các sử gia Tây, Tàu, Việt làm rối nát hết.

Bây giờ th́ chúng tôi nghiên cứu về chủng của ta được rồi, nhưng lại không bắt đầu từ thời Mă Viện đi lên, mà xuất phát ngay tại nơi và thời bắt đầu, tức nói chuyện cách đây 5.000 năm rồi đi xuống lần cho tới gặp Mă Viện là xong.

Tại sao chúng tôi không ngược ḍng như đă làm từ chương I cho tới chương nầy? V́ chúng tôi dựa vào khoa khảo tiền sử, mà khoa ấy đi xuôi chớ không lội ngược.

Xin nhắc rằng là lúc bắt đầu làm việc chúng tôi không có đủ tài liệu khảo tiền sử trong tay, nó tản mác ở nhiều tạp chí trên thế giới rất khó t́m, lại có những tài liệu không phải viết bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh nên chúng tôi không được đọc và không đọc được, nếu có t́m được đi chăng nữa.

Thế nên chúng tôi đă tạm dùng hai chứng tích, một chứng tích tắt là t́m những cái khoen trung gian nó nối kết Mă Lai Đông Sơn với Việt Nam mang màu sắc Trung Hoa phần nào. Chúng tôi lại dùng chứng tích gián tiếp là cổ sử Nhựt Bổn và kim sử Nhựt Bổn. Cả hai chứng tích đó đều đưa chúng tôi tới kết luận đúng là:

 

Việt = Mă Lai

 

Nhưng rồi làm việc nửa chừng, chúng tôi lại nhờ tóm lược của ông G. Coedès về những công tŕnh khảo tiền sử ở toàn cơi Á Châu, chứng tích nầy khoa học hơn, nên rốt cuộc chứng tích quư báu là khoa khảo tiền sử lại nằm trên hai chứng tích mà chúng tôi đă dùng lúc ban đầu.

Ông G. Coedès không có khảo cứu ǵ hết. Trong xă hội ta, sách ấy có thể được xem là sách khảo cứu có giá trị, nhưng trong giới bác học, nó chỉ là travail de compilation, theo loại của quyển “Lịch sử thành lập đất Việt”, mà soạn giả gồm tất cả những công tŕnh khảo cứu trong ṿng một trăm năm của hàng trăm nhà bác học ở khắp nơi để tóm lược lại trong sách, không phải để phổ thông trong dân chúng mà để giúp cho các sử gia tuỳ nghi sử dụng với điều kiện là phải biết dùng những trang sách ấy, bằng cách kiểm soát nó bằng khoa chủng tộc học và ngôn ngữ tỷ hiệu.

Thế là rốt cuộc chúng tôi làm việc với đầy đủ ba chứng tích căn bản, không kể những chứng tích phụ thuộc mà chúng tôi cũng đă học qua rồi.

Chúng tôi trích dịch ông G. Coedès mà thú nhận, chớ không ăn gian nói rằng ḿnh đọc được thẳng các tài liệu đó, mặc dầu rất dễ ăn gian v́ ông G. Coedès có cho biết tên tất cả sách báo khảo tiền sử ở toàn cơi Á Đông.

Nhưng chúng tôi sẽ chỉ trích ông G. Coedès v́ ông không làm việc một cách lạnh lùng như các nhà khảo tiền sử, mà lại thỉnh thoảng suy luận để kết luận, v́ ông có thử viết sử, chớ không phải chỉ làm travail de compilation mà thôi. Mà ông lại suy luận sai và kết luận sai.

Nhưng ta phải nh́n nhận rằng việc khảo tiền sử là chiếc đèn pha độc nhứt đủ khả năng soi sáng những ǵ xảy ra vào cổ thời mà ta cứ đoán ṃ măi theo mớ sử liệu Tàu hoặc theo cổ vật Đông Sơn, v́ thế mà ta cứ đoán sai.

Sách của ông G. Coedès là tài liệu thường, ra đời năm 1962 và có bán ở Sài G̣n năm 1964, được những người Việt Nam mua đọc, nhưng không ai sử dụng được v́ những lẽ mà chúng tôi đă nêu ra. Đó là một cuộc sa lầy thứ ba của ta: họ không hiểu hai từ Indonésien và Austro trong đó. Hơn thế, không ai kiểm soát được công tŕnh khảo tiền sử ấy bằng các chứng tích khác, nên không ai dám tin để mà sử dụng công tŕnh đồ sộ đó.

Đây, nguồn sáng từ dưới âm ty chiếu lên hay từ 5.000 năm trước chiếu lại, một khúc phim của quá khứ mà các cuộc đào bới cho thấy khá rơ ràng, mặc dầu cũng c̣n vài khuyết điểm mà chúng tôi phê b́nh và bổ túc sau, không phải chỉ ở chương nầy mà ở nhiều chương khác nữa.

  1. Cách đây lối 5.000 năm, chủng Anh-Đô-Nê-Diêng, tức cổ Mă Lai, từ đâu không biết, và không biết v́ lẽ ǵ, di cư đến Triều Tiên, đến Nhựt Bổn, đến Đài Loan, đến Cổ Việt và đến đảo Célèbes ở Nam Dương.

Đồng thời họ cũng di cư sang Đông Ấn Độ rồi từ Đông Ấn Độ họ đi sang Đông Dương (tức có cả Miến Điện và Thái Lan trong đó và nên nhớ rằng dân của nước Thái Lan chỉ mới di cư tới nước Thái Lan nay kể từ thế kỷ thứ 8, thứ 9 S.K. và đến thế kỷ thứ 13 th́ họ đă đủ đông để đuổi người Cao Miên, đang làm chủ ở đó, để dựng lên nước Xiêm, vậy nếu ở đất Thái Lan có dấu vết của bọn di cư nói trên th́ bọn ấy cũng không phải là tổ tiên của người Thái).

  1. Sọ của bọn Cổ Mă Lai nầy cho thấy rằng họ có lai giống với một vài nhóm Mông Cổ, nhưng không biết là nhóm nào. (Khoa chủng tộc học dùng danh từ Mongoloide. Danh từ nầy có nghĩa là có tánh cách Mông Cổ nhiều hay ít và chúng tôi đă tŕnh ra hai thứ dân là Trung Mông Gô Lích, tức người Hoa Bắc, và dân Nam Mông Gô Lích, tức người Hoa Nam. Vậy danh từ Mongoloide có nghĩa rất rộng, có thể là lai thẳng với Mông Cổ mà cũng có thể là lai với Tàu Hoa Bắc, nhưng không thể với Tàu Hoa Nam, v́ cách đây 5.000 năm, chủng Nam Mông Gô Lích chưa có mặt trên quả địa cầu).
  2. Tại Miến Điện xưa và Cao Miên xưa, tức ở Trung Lào nay, bọn Cổ Mă Lai lai giống quá nhiều với dân thổ trước, thuộc chủng Mê-la-nê, có lai nhiều v́ ở những nơi đó chủng Mê-la-nê đă tiến bộ lắm, bắt đầu tiến tới thời đại Tân Thạch, giỏi gần bằng bọn mới đến. Thế nên bọn di cư ấy mới đen da.

Ở Cổ Việt Nam th́ thổ trước Mê-la-nê c̣n ở trong thời đại Cựu Thạch nên rất ít có hợp chủng Cổ Mă Lai + Mê-la-nê, thế nên người Việt Nam trắng da hơn Môn và Khơ Me.

  1. Vũ khí và dụng cụ độc nhứt của họ là lưỡi ŕu đá mài có tay cầm.
  2. Cạnh sọ Mă Lai và lưỡi ŕu tay cầm không thấy dụng cụ xay, giă, nghiền hay tán ǵ hết để có thể kết luận họ đă biết trồng trọt.
  3. Nếu chỉ có một ḿnh họ di cư mà thôi th́ không cần đặt tên mới cho họ, nhưng c̣n một đợt di cư sau, cũng là của chủng Cổ Mă Lai, sau đó lối 2.500 năm, nên bọn trước được đặt tên là Austro-asiatiques để phân biệt với bọn sau.

(Chú ư: Antro-asiatique chỉ có nghĩa là người Á Đông phương Nam, chớ không có nghĩa ǵ là Úc Á cả, như tất cả các sách Việt đều đă dịch sai như thế).

  1. Cách đây lối 2.500 năm chủng Cổ Mă Lai từ cực Nam Hoa Nam đi thẳng xuống bán đảo Mă Lai Á, rồi từ đó sang Nam Dương quần đảo và từ Nam Dương sang Madagascar và Phi Luật Tân. Có một bọn lại đi ngược lên Nhựt Bổn.
  2. Sọ của bọn sau, thuần chủng cổ Mă Lai, không có lai giống với nhóm Mông Cổ nào hết.
  3. Vũ khí của họ là lưỡi ŕu đá mài h́nh chữ nhựt.
  4. Cạnh lưỡi ŕu có nhiều dụng cụ cho thấy họ đă biết nông nghiệp và nhứt là biết làm đồ đất nung, biết nuôi súc vật.

Khoa học đặt tên bọn sau là Austronésiens.

Khoa khảo tiền sử mới, được thế giới khoa học nh́n nhận là đúng, đă làm cho giáo sư Kim Định “hố” lớn ở trang 25, khi ông chủ trương rằng dân Anh-Đô-Nê là dân thổ trước ở Bắc Việt.

Ông đă hiểu rằng Anh-Đô-Nê là Mọi th́ ông chủ trương như thế là đúng theo ông G. Coedès 20 năm trước. Mọi ấy bị Việt từ Hoa Nam tràn xuống và đuổi vào rừng.

Nhưng ông G. Coedès đă tự đính chánh trễ đến 20 năm, khi ông học xong cái khoa khảo tiền sử đúng nầy.

*

*       *

Đối với người không chuyên môn th́ cái tóm lược trên đây không có nghĩa ǵ hết, không đọc cũng được, mà đọc lại càng rối trí thêm v́ ai cũng hiểu Austro là Úc, mà Úc có dính líu ǵ với dân ta đâu, c̣n Indonésien th́ lại bị hiểu là “Mọi”.

Nhưng biết AustroPhương Nam chớ không phải Úc, và Indonésien là Cổ Mă Lai th́ đă hơi khác rồi.

Hơi khác, nhưng chỉ bắt suy nghĩ sơ sơ mà thôi, chớ không dùng được tài liệu tôi đă dẫn đó.

Nhưng với những người đă học khoa chủng tộc học và ngôn ngữ tỷ hiệu và có học cổ sử Tàu, th́ đây là một cuộc thắp đèn th́nh ĺnh, soi tỏ hết cả mọi mối manh rối nùi của lịch sử dân ta, và cả dân Tàu, dân Chàm, dân Cao Miên, Miến Điện, Mă Lai và Thượng Việt.

Chúng tôi mất bảy năm học các ngôn ngữ Á Đông và ba năm học chủng tộc học, không uổng chút nào, v́ không biết hai khoa đó th́ đă bỏ qua khoa khảo tiền sử đồ sộ mà ông G. Coedès đă tóm lược, cũng như bao nhiêu người khác đă bỏ qua. Thế nên ông G. Coedès đă ba lần định nghĩa Indonésien là Cổ Mă Lai, nhưng cũng chẳng ai thèm nghe.

Ừ, biết rằng có những nhóm cổ Mă Lai di cư như thế đó, và họ có ghé xứ ta, nhưng cái biết ấy có nghĩa ǵ đâu chớ, v́ ở xứ ta có hàng chục chủng tộc khác nhau vào thuở ấy, sống lẫn lộn với nhau, như chương tiền sử Làng Cườm đă cho thấy. Ta là ai trong đám đó? Mà có thể trong đám đó không có ta, ta chỉ mới đến đó về sau thôi, chẳng hạn theo sử gia Nguyễn Phương th́ ta chỉ mới đến đó sau Mă Viện, tức sau Tây lịch, tức tương đối mới đây mà thôi (ta là Tàu kia mà).

Nhưng khi ta biết rằng Miến Điện, Cao Miên, Thái, Chàm, Thượng, Mă Lai và Việt Nam đều có sọ Mă Lai, đều đồng ngôn ngữ Mă Lai với nhau th́ mọi việc đă khác hết rồi.

Hễ sự kiện mà là như thế th́ ta đích thực là Mă Lai, lại Mă Lai hơn hẳn dân Mă Lai mà ai cũng tưởng là chánh hiệu, tức Mă Lai Nam Dương, v́ tổ tiên ta là hai ba đợt Mă Lai nhập lại với nhau, c̣n Mă Lai Nam Dương chỉ là Mă Lai đợt nh́ mà thôi (Austronésiens).

Thế nên quyển sách của ông G. Coedès chỉ giúp ích cho những người đă học khoa chủng tộc học về toàn thể Á Đông và học đủ cả ngôn ngữ Á Đông mà thôi.

 

Lưỡi ŕu có tay cầm của bọn Mă Lai di cư từ Hoa Bắc xuống Cổ Việt, khảo tiền sử đặt tên là Austroaslatique và chúng tôi gọi là Mă Lai đợt I.

Lưỡi ŕu h́nh chữ nhựt của bọn Mă Lai di cư từ Hoa Nam xuống Cổ Việt, khảo tiền sử đặt tên là Austronessien, và chúng tôi gọi là Mă Lai đợt II.

Họ học xong, nhưng không kết luận được, mặc dầu họ đă thấy sự giống nhau khá ly kỳ giữa hàng trăm dân tộc ở Á Đông.

Nhưng khi mà khoa khảo tiền sử t́m được dấu chơn di cư của dân Mă Lai quá rơ rệt như vậy th́ cái pḥng thượng cổ sử u tối bỗng sáng lên th́nh ĺnh.

Nhiều người Việt thông thạo tiếng Nhựt cứ băn khoăn tự hỏi tại sao ta có nhiều danh từ giống hệt danh từ Nhựt, mặc dầu hồi cổ thời hai dân tộc không hề có chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Nay th́ đă rơ.

C̣n ba trăm trang nữa th́ sách nầy chấm dứt và chúng tôi dùng ba trăm trang đó để giải thích và chứng minh ba trang mà chúng tôi vừa trích dịch của ông G. Coedès, ông ấy đă đọc tất cả 30 ngàn trang sách để tóm lại thành một quyển nhỏ, chúng tôi trích dịch thành 3 trang, nhưng phải chứng minh bằng 300 trang với những khám phá riêng của chúng tôi, chớ các sách khảo tiền sử không nói đến những ǵ chúng tôi sắp nói ở 300 trang sau đây.

*

*       *

B́nh chú và kiểm soát

Ta thấy ǵ?

Khoa khảo tiền sử ngậm câm về nguồn gốc của tổ tiên ta.

Khoa đó không phải là sử học. Sử gia phải biết nhiều thứ hơn mới viết sử được.

Họ chỉ đưa ra một mớ sọ để cho biết đích xác tại các địa bàn nào đó, các chủng tộc nào đă kế tiếp nhau mà làm chủ đất, chủ cũ nằm ở lớp dưới, chủ mới nằm ở tầng đất trên. Và các bọn ấy từ đâu đến, và đến vào thời nào.

Đống sọ ở hang Làng Cườm gồm nào là sọ Négrito, sọ Mê-La-Nê và sọ Anh-Đô-Nê, sọ Anh-Đô-Nê lai với sọ Mông-Gô-Lích.

Nhà viết sử phải đo sọ để xem sọ Việt Nam hiện nay là sọ Mông-Gô-Lích, sọ Cổ Mă Lai, sọ Mê-La-Nê hay sọ Négrito, hoặc sọ lai, v́ lai với ai vẫn biết được. Mà đo hẳn ḥi chớ không thể nói liều.

Nếu có các nhà chủng tộc học đo hộ cho ta th́ ta đỡ mất 20 năm để làm cái công việc đó. Bằng không, chính ta phải đo lấy. Thế nên chúng tôi mới cho rằng chứng tích chủng tộc học là chứng tích quan trọng vào hàng thứ nh́.

(Việc đo sọ, phải đo từng nhóm lớn trong một nước, và đo nhiều nhóm như vậy, rồi nhập lại với nhau để lấy cái trung b́nh. Thí dụ ở miền Nam th́ phải đo dân Đồng Nai, dân Sài G̣n, dân Tiền Giang, dân Hậu Giang, mỗi nhóm cần đo ít lắm là năm bảy trăm người. Như vậy, muốn đo toàn dân Việt, phải mất ít lắm là 20 năm, nếu chỉ có một người làm việc).

Chúng tôi đẩy ngôn ngữ tỷ hiệu xuống hàng ghế thứ ba v́ ngôn ngữ là yếu tố có thể vay mượn. Một dân tộc có thể mất cả ngôn ngữ, thí dụ người Khorat Thái vốn là người Cao Miên, thế mà chỉ từ thế kỷ 13 đến nay, tức mới có sáu trăm năm, là họ không c̣n biết lấy một danh từ Cao Miên nữa.

Tuy nhiên, vị anh hùng hạng ba ấy lại vô cùng quan trọng v́ đó là chứng tích mà đại đa số quần chúng thấy ngay và tin ngay, khi họ chưa tin khoa đo sọ.

Hơn thế, nó giúp ta biết những chi tiết vụn vặt mà hai khoa lớn hoàn toàn không biết. Thí dụ vua Hùng Vương thuộc đợt I hay II th́ chỉ có ngôn ngữ tỷ hiệu mới cho biết được mà thôi. Nói là vụn vặt, nhưng thật ra là rất quan trọng đối với thượng cổ sử riêng của dân tộc ta. Vụn là vụn đối với những đường nét lớn là chủng Mă Lai mà thôi.

Người ta đă căi nhau từ hơn nửa thế kỷ nay, và có kẻ cho rằng vua Hùng Vương không có, mà chỉ có Lạc Vương. Chưa phe nào thắng hẳn, nhưng khoa ngôn ngữ tỷ hiệu sẽ cho biết là có vua Hùng Vương, ông ấy quả đă lấy hiệu là Hùng Vương, và ông ấy thuộc đợt Mă Lai I, tức hậu duệ của Xy Vưu, chớ không phải của Câu Tiễn. Bọn Câu Tiễn chỉ là bọn bổ sung, 2.500 năm sau mới xuất hiện.

Chúng tôi nhượng bộ khoa học rằng chứng tích ngôn ngữ không nặng cân bao nhiêu v́ một dân tộc có thể mất hết cả ngôn ngữ, và vay mượn toàn bộ của một dân tộc khác. Nhưng xét ra th́ từ 5.000 năm nay ta không hề bị dân Mă Lai cai trị, cũng không hề có tiếp xúc với Mă Lai đợt II (trừ cuộc tiếp xúc tại Nam kỳ cách đây 300 năm) th́ sự giống nhau của ngôn ngữ Mă - Việt chỉ có thể là đồng gốc. Giả thuyết vay mượn của giáo sư Nguyễn Đ́nh Hoà (Cù Lao = Pu Lô) phải được loại ra một cách không do dự.

Hơn thế, cái chủ trương rằng khoa khảo tiền sử và khoa chủng tộc học là hai chứng tích ưu tiên nhứt và nh́, coi vậy mà có mang nặng nhiều khuyết điểm, trong khi chứng tích ngôn ngữ lại cho ta biết quá rơ các chi tiết về cổ thời mà hai chứng tích kia đều bí. Có nhiều sự thật lớn lao mà khoa khảo tiền sử thiếu sót, ta cũng biết được, nhờ khoa ngôn ngữ tỷ hiệu.

Thí dụ, nh́n tóm lược trên, th́ ta thấy rằng bọn Mă Lai đợt II không có ghé Đông Dương, Đông Pháp ǵ cả. Nhưng khi học ngôn ngữ của người Chàm và người Phù Nam th́ ta thấy rằng chẳng những họ có ghé, mà họ c̣n đă lập ra ở đó hai quốc gia quan trọng vào đầu Tây lịch, v́ ngôn ngữ của Chàm và ngôn ngữ Phù Nam thuộc ngôn ngữ của Mă Lai đợt II, chớ không phải đợt I.

Riêng ở Việt Nam ta th́ họ cũng có ghé qua đông đảo, khiến Việt ngữ gồm cả hai ngôn ngữ, đợt I và đợt II. Làm thế nào để phân biệt ngôn ngữ của đợt I và ngôn ngữ của đợt II th́ chúng ta sẽ có cách, chỉ biết là cái khoa bị khoa học chê, lại rất quan trọng một cách bất ngờ và bị các nhà bác học bỏ quên đi, nên họ không biết những ǵ mà ta biết, những ǵ đó, không phải chỉ có chi tiết, mà có những sự kiện then chốt trong đó nữa.

Tiếng “ta” ở đây không có nghĩa là Việt Nam, v́ mặc dầu là Việt Nam, người Việt Nam cũng không thể viết sử đúng cho họ. Ta, nghĩa là những người có sử dụng chứng tích hạng ba mà các nhà bác học chê, tức họ là Tây hay Tàu ǵ cũng được, miễn họ có học đủ thứ ngôn ngữ Á Đông, sinh ngữ lẫn cổ ngữ.

V́ đây là trích sách, gần như là dịch, nên chúng tôi bắt buộc phải dùng các danh từ mà các nhà bác học và ông G. Coedès đă dùng.

Đó là danh từ Đông Dương và Đông Pháp.

Ở xứ ta, hai danh từ ấy đă bị bỏ từ 25 năm rồi, nên xin định nghĩa lại, theo lối hiểu của những người dùng danh từ, để người đọc sách cũng được hiểu y như họ.

Đông Dương là vùng đất nằm giữa Ấn Độ và Trung Hoa, cũng được gọi là Ấn Hoa hoặc Hoa Ấn (Indochine).

C̣n Đông Pháp là vùng đất nhỏ hơn, nằm trong Đông Dương, vốn là thuộc địa của Pháp, và gồm Việt Nam, Ai Lao, Cao Miên (Indochine francaise).

Nói như vậy th́ Đông Dương gồm Đông Pháp, Thái Lan và Miến Điện. C̣n bán đảo Malacca, tức nước Mă Lai Á nay, th́ có khi được cho nhập vào Đông Dương, có khi không.

Và xin nhắc rằng Mă Lai Á chỉ là tên một nước ở bán đảo Malacca, c̣n chủng tộc Mă Lai th́ là chủ đất của nước Mă Lai Á, của nước Anh-Đô-Nê-Xia, của nước Phi Luật Tân và của vô số đảo ở Thái B́nh Dương.

Người ta nói đến chủng Mă Lai, thế mà giáo sư Kim Định lại cho rằng nói đến Mă Lai Á. Không bao giờ có ai nói đến Mă Lai Á hết v́ đó là tên một nước nhỏ. Người ta nói đến chủng Mă Lai mà chủng nầy th́ đông trên 300 triệu, ở khắp nơi, v́ Nhựt Bổn và Việt Nam cũng là Mă Lai.

Ngày nay Mỹ, Anh và người Việt Nam tiến bộ gọi Đông Dương là Đông Nam Á lục địa, c̣n Phi Luật Tân, Indonésia, Mă Lai Á và các quần đảo Mê-la-nê, quần đảo Đa Đảo th́ được gọi gộp là Đông Nam Á hải dương. Địa danh Đông Pháp bị bỏ luôn, không được thay bằng ǵ hết.

Ở đây có sự nói tắt, người Việt Nam từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau đă được đo sọ rồi, và sọ của Việt Nam là sọ Mă Lai. Chúng tôi chưa tŕnh bày những kết quả đo sọ và chưa đối chiếu mà lại nói Việt Nam là Mă Lai th́ là tiên tri rồi vậy.

Nhưng chỉ tiên tri có mấy mươi trang th́ không sao. Tại tới lúc cần nói th́ phải nói, c̣n chứng tích th́ ở chương tới quư vị sẽ thấy.

Tất cả những dân tộc ở trên lộ tŕnh di cư mà khoa khảo tiền sử kể ra đều mang sọ Mă Lai và đều nói tiếng Mă Lai: Đại Hàn, Nhựt Bổn, Việt Nam, Célèbes v.v.

Đây là công tŕnh bác học quốc tế, đă được kiểm soát rồi và được công nhận là đúng, nhưng đề pḥng những ông Kim Định và Lê Văn Siêu cho là “mơ hồ”, là “đón ư kẻ mạnh”, là “ngược xuôi”, chúng tôi làm công việc kiểm soát lại công tŕnh ấy bằng khoa chủng tộc học và ngôn ngữ tỷ hiệu, và bằng cổ sử Tàu, xem công tŕnh của các nhà bác học mà ông G. Coedès tóm lược có đứng vững hay không.

Chúng tôi kiểm soát tất cả kết quả về các chủng Négrito, Mê-la-nê v.v. chớ không riêng ǵ về chủng tộc Anh-Đô-Nê, nhưng lịch sử các chủng kia, sọ của họ, ngôn ngữ của họ, chẳng dính líu ǵ đến dân tộc Việt Nam cả, mà chỉ có chủng tộc Anh-Đô-Nê là ăn khớp với ta từ 5.000 năm nay, không có ǵ sai chạy hết. Thế nên chúng tôi chỉ tŕnh kết quả của cuộc kiểm soát về chủng Anh-Đô-Nê mà thôi, để đi đến cuộc kết luận về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam.

Sự kiểm soát của chúng tôi có sức nặng hơn những cuộc kiểm soát của các nhà bác học Âu Mỹ, họ chỉ kiểm soát xem công tŕnh khảo tiền sử có được làm đúng phép hay không, c̣n chúng tôi th́ kiểm soát bằng cách bổ túc công tŕnh của họ bằng bốn môn: chủng tộc học, ngôn ngữ tỷ hiệu, thượng cổ sử Ấn Độ, thượng cổ sử Trung Hoa.

Nó có sức nặng hơn v́ nó thêm chứng tích chớ không phải “rà” lại chứng tích đă t́m được, nó lại có sức nặng v́ dễ hiểu đối với dân chúng, dân chúng không hiểu khoa khảo tiền sử, khoa chủng tộc học cho rơ được, nhưng khi chúng tôi chứng minh được rằng tiếng Việt Nam đích thị là tiếng Mă Lai bằng vài trăm bảng đối chiếu th́ ai cũng hiểu tức khắc và tin tức khắc.

Cuộc kiểm soát nầy kéo dài cho tới trang chót của quyển sách chớ không phải là bằng vài trang, nhưng riêng ở đây th́ chỉ có vài trang thôi. Ta sẽ kiểm soát thêm ở các chương để cho thấy ngay là khoa khảo tiền sử không mơ hồ, không đón ư kẻ mạnh bao giờ, mà nó đúng một cách kinh dị.

Đây là một danh từ chung của cả hai bọn cổ Mă Lai di cư thành hai đợt cách nhau 2.500 năm:

Lá cây

Việt Nam:                

Nhựt Bổn:                 Hạ

Chàm:                       Hala

Célèbes:                     Hạalaa

Cổ ngữ Tây Âu:         Lá (Quảng Đông là dân cổ Tây Âu biến thành Tàu. Hiện nay họ dùng song song hai danh từ là Dip, tức Diệp và La).

Cổ ngữ Ba Thục:      Lạ

Khả văn minh:         

Khả Lá Vàng:           Sula

Cao Miên:                 Slat

Mă Lai Á:                  Layu

Mă Lai Kedat:           Kalat

Mă Lai Sembilan:     Selara

Mường:                     La

Mạ:                            Nhla

Giarai:                       Laa

Sơ đăng:                    Hlaa

Bà na:                        Hlaa

Nhựt Bổn và Triều Tiên v́ lai giống với ai đó nên không c̣n âm L y như Tàu không có R. Tàu thiếu âm R nên biến âm R thành L, thí dụ Chanh Ra, họ phiên âm là Chơn Lạp. Nhưng Nhựt Bổn th́ không thể thay cái âm L thiếu đó bằng âm R v́ danh từ Hara của họ lại đă có rồi, lại mang một nghĩa rất là thiêng liêng, họ không dám động tới. Hara của họ là Trời. Họ thờ Trời y hệt như dân Đông Sơn, chỉ có khác là nhờ không bị ngoại chủng diệt tục và diệt tôn giáo, nên họ c̣n nói đến Thái Dương thần nữ, c̣n Việt Nam th́ không. Nhưng Việt Nam c̣n được h́nh mặt trời ở trống đồng.

Chỉ hơi lạ ở chỗ nầy là Nhựt c̣n khá đa âm như Mă Lai, thí dụ:

Việt Nam :     Món

Nhựt Bổn :     Mônô

Để giữ tánh cách đa âm đó, họ hay thêm thắt ô, ư, a lung tung beng, thí dụ Cha là Trà th́ đúng rồi, thế mà họ cứ nói là Ôcha, theo thói quen đa âm. Lại thí dụ Tera là Tự tức Cái chùa th́ cũng khá đúng rồi, mặc dầu người ta có một âm mà họ biến ra thành hai, thế mà họ vẫn chưa vừa ḷng, nói là Ô Tera. Nhưng lạ lùng thay, trong Hạla th́ họ để mất luôn La, không thêm thắt ǵ hết.

Cao Miên chịu ảnh hưởng của chủng Mê-la-nê nên rất ưa thêm S và Chx ngoài trước các danh từ Mă Lai, chẳng hạn như ở đây th́ thay v́ là Lat họ nói là Slat. Thí dụ Bông (Hoa) của Việt Nam, th́ họ nói là Chxba, không kể danh từ vay mượn của Tàu là danh từ Phôka tức Foá, tức Fá, tức Wá của Tàu.

Riêng Việt Nam th́ chúng tôi bắt được bằng chứng rằng xưa kia tiếng ta đa âm y như Mă Lai. Chịu ảnh hưởng Tàu, chúng ta thành độc âm, nên chúng ta bỏ bớt Hạ. Nhưng người cổ Việt, hiện c̣n sống sót là người Khả Lá Vàng vẫn nói đa âm là Sula.

Nhưng không cần những chú thích nầy, nh́n vào biểu đối chiếu ta cũng thấy ngay là danh từ ấy, bề ngoài có vẻ khác nhau, nhưng vẫn đồng gốc mà ra.

Xin chú ư: Có 5 nhóm khởi sự bằng tử âm L, 5 nhóm khởi sự bằng tử âm H, 3 nhóm bằng tử âm S, một nhóm bằng tử âm K.

Hai nhóm có mọc đuôi T, một nhóm mọc đuôi Ra và một nhóm mọc đuôi Yu. Nhưng cái bộ xương bên trong cứ là La, không có nhóm nào mà thiếu La được cả, trừ Nhựt Bổn.

Nhưng nhóm Thái Lan, cũng đồng gốc Thái với Cổ Tây Âu và Cổ Thục, th́ lại không có La. Họ nói là Bai. Nhóm Lào, cũng đồng gốc với Thái lại nói là Thông. Có lẽ là vay mượn của chủng Mê-la-nê mà họ có lănh đạo một thời khá dài ở Vân Nam.

Thí dụ thứ nh́ cho ta thấy những biến dạng đă xảy ra y hệt như vậy đối với các danh từ, đại khái, một nhóm chỉ lấy khúc đầu, một nhóm chỉ lấy khúc đuôi, y hệt như Hạ + Lá, nhưng gốc tổ vẫn là nhị âm, nhị chớ không phải đa như thiên hạ cứ tưởng.

Thí dụ:            Núi non

Việt Nam:                             Non

Cổ ngữ Ba Thục:                  Non

Cổ ngữ Phù Nam:               B’nam

Mạ:                                        Ph’nơm

Cổ ngữ Môn và Cao Miên: Ph’nom

Mă Lai:                                  Gunông

Thái:                                      Phu hoặc Phunông

Ta thấy ǵ? Y như với danh từ Hala, ta thấy có nhóm lấy âm đầu, thí dụ Thái chỉ lấy Phu, có nhóm chỉ lấy âm sau, thí dụ Cổ Ba Thục và Việt Nam chỉ lấy âm sau là Non, có nhóm lấy trọn vẹn hai âm nhưng có biến dạng, thí dụ Phù Nam và Cao Miên.

Đặc biệt Việt Nam th́ ta vừa biến Phunông thành Non, vừa biến Gunông thành Nổng.

Thói quen của chủng Mă Lai là thế về danh từ hoặc danh xưng. Mặc dầu ngôn ngữ của họ nhị âm (có vài danh từ tam âm hiếm hoi), họ thường chỉ lấy một hoặc hai âm mà thôi.

Danh tự xưng của họ cũng theo luật đó, từ cổ chí kim, thí dụ ở Hoa Bắc họ chỉ tự xưng là Lai (thay v́ Mă Lai) mà Tàu phiên âm sai là Lê, là Lạc, và rốt cuộc là Lai vào đời Tây Chu, c̣n ở vài nơi khác, họ chỉ tự xưng là Mă, là Mạ.

Ở Nam Kỳ có một nhóm Thượng nay rút lên Cao nguyên Lâm Đồng, chỉ tự xưng là Mạ (mà chúng tôi nghĩ rằng họ là người Phù Nam v́ họ nói tiếng Mă Lai đợt II y như Phù Nam) và sử Chàm cũng có cho biết rằng vào thời Trung Cổ người Chàm có diệt một tiểu bang đồng chủng ở lối Phú Yên, B́nh Định, tên là Mạ Đạ, hay Mă Đa.

(Mạ Đạ th́ ở Nam Kỳ cũng có. Đó là tên một con sông của người Mạ mà nay dân Biên Hoà biến thành Mă Đà).

Những điều trên và dưới đây đă được chúng tôi nói đến rồi, lại nói nữa ở đây và sẽ nói nữa ở nơi khác. Khuyết điểm ấy, giới khảo cứu Âu Mỹ gọi là Redites, nghĩa là nói đi nói lại một điều đă nói rồi.

Sở dĩ có Redites là v́ một điều cần phải nói lại ở nhiều chương. Nhưng Âu Mỹ xén bớt Redites, c̣n chúng tôi th́ cố ư để nguyên vẹn hầu nhấn mạnh về các điểm mà chúng tôi cho là quan trọng, và đó là các điểm then chốt lại dễ bị ch́m mất trong năm bảy trăm trang sách, cần đưa cao nó lên để chứng tích được nhớ rơ hoài hoài, hoặc để xoá những ngộ nhận lâu đời nào đó mà chúng tôi nhứt định phải xoá bỏ.

Những Redites trong sách nầy làm cho văn của sách hoá ra kém cỏi, nhưng chúng tôi không ngại v́ bị chê viết văn dở, v́ chúng tôi nhằm mục đích khác hơn là viết văn.

Ai lại không muốn cho một quyển dạy nuôi gà chẳng hạn, được viết bằng một lối văn hay, nhưng khi mà không dung hoà được văn hay với cái mà tác giả cần làm lộ rơ ra, th́ tác giả phải hy sinh một trong hai món đó, chớ không thể cả tham. Phương chi chúng tôi lại mong ước sách nầy được những người không chuyên môn theo dơi, th́ những Redites rất cần. Chỉ có những người nhà chuyên môn mới thấy ngay và nhớ kỹ những điểm quan trọng nằm ẩn trong hàng triệu từ của những trăm trang sách nầy, c̣n một người không chuyên môn th́ sẽ không nắm vững được quá nhiều yếu tố quan trọng của sách.

Trước khi có kết quả khảo tiền sử cho khắp Á Đông th́ trên đời nầy không ai biết rằng có Mă Lai đợt II cả, mặc dầu họ thoáng thấy sự giống nhau giữa Môn ngữ, Khơ Me ngữ, Tạng ngữ, Việt ngữ, Nam Dương ngữ v.v.

Nhưng khi mà khoa khảo tiền sử đă làm việc xong, và nhứt là khoa đo sọ đă làm việc xong, th́ người ta mới hay rằng Tạng, Miến, Cao Miên, Việt Nam ǵ cũng là Mă Lai đợt I cả, và sự giống nhau về ngôn ngữ là sự đồng chủng chớ không phải là vay mượn.

Thế giới chỉ biết có Mă Lai đợt II là người Nam Dương v́ họ đang tự xưng là Mă Lai, và tưởng họ phát tích tại Nam Dương. Giáo sư Kim Định cũng chỉ biết tới chừng đó, nên giáo sư khuyên ta đừng t́m nguồn ở Nam Dương.

Giáo sư có linh cảm rất hay là ta từ phương Bắc mà đến, nhưng chỉ hay riêng đối với dân ta thôi, chớ giáo sư không hề nghĩ rằng ta là Mă Lai. Và đó chỉ là linh cảm, mà v́ làm việc bằng linh cảm cho nên giáo sư mới gán ghép, nhập Miêu vào Việt nhưng bỏ Nam Dương ra và gọi họ là Mán, Thổ với cái nghĩa sai là Mọi, chớ theo nghĩa chủng tộc học th́ Mán thuộc Miêu chủng và Thổ là một phụ chi của Âu tức Thái, cả hai thứ đều không hề có mặt ở Nam Dương bao giờ cả.

Nhưng giáo sư chưa kịp học khoa khảo tiền sử đúng th́ không sao, chỉ có điều là trong lời khuyên giáo sư có nói một câu rất là trái với điều mà khoa học đă biết rồi. Giáo sư nói rằng t́m nguồn gốc từ phương Bắc mới đúng luật chung của nhân loại (V.L.T.N. lúc c̣n đăng báo B.K.). Làm ǵ mà có cái luật chung ấy. Rơ ràng là dân Á Rập đă từ Yémen, tức từ phương Nam, di cư lên Arabie Saoudite rồi di cư lên Bắc Phi, lên Ba Tư, Ấn Độ, Tây Ban Nha v.v.

Khoa khảo tiền sử không biết dân Mă Lai từ đâu mà di cư đi Đại Hàn, Nhựt Bổn, Việt Nam, cách đây 5.000 năm, nhưng ta th́ biết. Họ từ Hoa Bắc mà di cư. Nhưng họ cũng không phải phát tích từ Hoa Bắc đâu. Linh cảm của giáo sư Kim Định chỉ đi tới Hoa Bắc mà thôi.

Ở đây chúng tôi lại nói đi nói lại về bọn Cửu Lê.

Khoa khảo tiền sử phải dè dặt đến mức tối đa v́ họ không t́m thấy sọ Mă Lai ở Hoa Bắc nên mới kết luận như vậy. Nhưng ta sẽ nối kết được bọn di cư đi Triều Tiên với bọn Cửu Lê, khi ta nối kết được rồi th́ rơ ràng là Cửu Lê chưa biết nông nghiệp trước khi di cư để bị Hiên Viên cướp nền văn minh nông nghiệp của họ.

Ở đây th́ ta phải làm việc bằng cách ngược nguồn. Cái bọn di cư đi Triều Tiên ấy, đến đời Tây Chu th́ đă được sử nhà Chu gọi bằng một thứ tên khác là Lai Di. Sử ấy cũng cho biết rằng Lai DiRợ Tam Hàn trước kia.

Trước kia là vào thời nào? Vào đời nhà Thương của Tàu. Cuối đời Thương th́ rợ Tam Hàn đă dựng lên được ba tiểu vương quốc tên là Cao Cú Lệ tức Cao Câu Ly, Tân La và Bách Tế (có sách viết là Bách Tề).

Lại cũng cứ sử đời Chu cho biết th́ trước kia nữa, rợ Tam Hàn vốn là dân Lạc bộ Trăi, tức là dân Đông Di, gốc ở cực Đông Bắc của Trung Hoa thượng cổ.

Rợ Đông Di nầy được tả là xâm ḿnh và nhuộm răng đen. Mặt khác rợ Đông Di lại không phải chỉ có mặt tại cực Đông Bắc của Tàu, mà gốc ở vùng sông Bộc và đă được gọi là Bách Bộc.

Sông Bộc là một phụ lưu của sông Hoàng Hà, phát nguyên từ Sơn Đông rồi chảy qua Bắc Hà, vào Hà Nam mới đổ vào Hoàng Hà. Đó là nơi mà về sau nước Trịnh được thành lập và không xa Trác Lộc bao nhiêu, nơi mà Hiên Viên diệt Xy Vưu.

Thời điểm di cư của Mă Lai đợt I được khoa khảo tiền sử định là 5.000 năm, cũng rất ăn khớp với thời điểm mà Hiên Viên diệt Xy Vưu.

Vậy bây giờ ta lại xuôi ḍng năm tháng.

Cửu Lê = Lạc bộ Trăi = Lai Di = Mă Lai đợt I

Không phải là trong 9 thứ dân Lê chỉ có Lạc bộ Trăi như đẳng thức trên đây cho thấy, mà nó là 1 trong 9 thứ Lê, v́ rồi ta sẽ thấy là c̣n nhiều thứ Lạc nữa.

Nhưng đẳng thức cho thấy Tàu đă phiên âm sai và họ đă lần ḍ từ thời Hiên Viên đến đời Tây Chu mới phiên âm đúng được và Lê, Lạc ǵ cũng chỉ là Lai đọc sai chớ không phải là ba thứ dân khác nhau.

Hàng ngàn năm về sau, Tàu đă văn minh lắm rồi mà cũng phải mất nhiều trăm năm mới phiên âm đúng tên một dân tộc mà thí dụ điển h́nh hơn hết là danh xưng của nước Cam-bu-chia ngày nay.

Từ thế kỷ 7, nước Chơn Lạp cũ đổi quốc hiệu là Cam-Bu-Ja. Tàu phiên âm là Cam-Bố-Trí. Nhưng họ lần ḍ măi cho tới cuối đời Đường mới qua hai lần phiên âm nữa là Cam-Phá-Giá, rồi rốt cuộc Giản-Phố-Trại.

Đọc theo Quan Thoại th́ Giản-Phố-Trại (Kan-Pú-Cá) giống Cam-Bu-Ja hơn Cam-phá-giá và Cam-bố-trí.

Thế th́ Cửu Lê chỉ là Cửu Lạc, tức Cửu Lai, tức 9 nhóm Mă Lai.

V́ có địa bàn ở cực Đông Bắc Trung Hoa thượng cổ nên nhóm Lê nầy mới di cư như vậy, chớ các nhóm khác di cư qua nẻo khác, nhưng sử Tàu theo dơi bọn Lạc bộ Trăi bén gót hơn các bọn kia, nhờ thế mà ta t́m được sợi dây nối kết trên kia, không thôi ta sẽ không biết Mă Lai đợt I di cư từ đâu, y hệt như khoa khảo tiền sử.

Nhưng tại sao chỉ có Lai mà không có Mă? Như đă nói, có thể v́ hai lư do, nhưng không biết lư do nào là đúng.

1.      Tàu độc âm nên có khuynh hướng bớt âm.

2.      Mă Lai cũng có khuynh hướng lấy một trong nhị âm của họ, về danh từ hay danh tự xưng đều như thế cả.

Nhưng về sau Tàu biết một nhóm Lạc khác th́ viết Lạc đó với bộ Mă mà ta có thể hiểu rằng dân đó tự xưng là Mă Lai nhưng chính Tàu bỏ bớt âm, nhưng vẫn ghi chép cái nghe thấy của họ bằng bộ Mă.

Chúng ta đă thấy rằng Âu tức Thái và Lạc luôn luôn sát cánh với nhau, có sọ giống nhau, có ngôn ngữ giống nhau, nên chúng ta có thể kết luận rằng trong 9 thứ dân Lê có chi Âu tức Thái nữa, nhưng vào thuở ấy th́ Tàu chưa phân biệt được như về sau, mà họ gọi cả Âu lẫn Lạc bằng Lê tức là Lai đọc sai, và Âu hay Lạc ǵ cũng tự xưng là Lai hoặc Mă Lai cả.

Thượng Cổ thời:       Lê = Âu + Lạc

Cổ thời:                      Việt = Âu + Lạc

Hai đẳng thức trên đây viết ra không phải để nói rằng Lê = Việt, v́ nói như vậy là thừa mà để cho thấy rằng trong Cửu Lê phải có Âu tức Thái.

Căn cứ vào đời Chu th́ Tàu chợt biết đến Thất Mân ở Phúc Kiến và họ gọi dân đó là Lạc bộ Mă. Thế nghĩa là Lạc có mặt cả ở Hoa Nam nữa, chớ không riêng ǵ ở Hoa Bắc.

Nhưng ta chỉ theo dơi địa bàn Hoa Bắc mà thôi, để dứt khoát về bọn Cửu Lê.

Theo sử Tàu th́ cạnh địa bàn của Cửu Lê có dân Lạc Lê rồi mới tới dân Lạc. Dân Lạc Lê nầy, ta sẽ t́m lại được ở Hải Nam, ở Nhựt Nam, và họ là kết quả của sự lai giống giữa hai nhóm đồng chủng là Lê + Lạc, cũng như Sơ Đăng lai giống với dân khác trên Cao nguyên của ta ngày nay.

Tới đây ta chỉ mới thấy có 3 thứ Lạc là Lê chánh hiệu, Lạc Lê và Lạc bộ Trăi.

Nhưng rợ Khuyển Nhung cũng có dân được gọi là Lạc nhưng viết với bộ Chuy.

Lạc bộ Chuy là sông chảy từ Thiểm Tây sang Ba Thục và đó là đất của rợ Khuyển Nhung. Nhưng con sông nầy ngày nay viết khác nhưng xưa th́ viết với bộ Chuy. Nhưng dân Khuyển Nhung ít khi gọi là Lạc bộ Chuy nên ta quên mất bọn Lạc đó.

Cũng nên biết rằng có đến hai sông Lạc, một ở Bắc Hà Nam, viết với bộ Thuỷ và sông Lạc nầy đây.

Ta xét qua các tự dạng mà Tàu đă dùng để chỉ ta th́ ta bỗng thấy là họ quá giỏi. Họ chỉ bằng cả ba chữ Lạc, v́ quả thật ở Cổ Việt có hai thứ Lạc, khác với kết luận của khoa khảo tiền sử.

Sự đối chiếu ngôn ngữ đă cho chúng tôi thấy như vậy.

Sách Tàu chỉ ta bằng Lạc bộ Trăi. Đó là Lạc biến thành rợ Tam Hàn của Nhĩ Nhă, Chu LễMạnh Tử.

Hậu Hán thư trong một trang sách mà gọi ta bằng Lạc bộ Trăi và Lạc bộ Mă, khiến ai cũng ngỡ Phạm Việp viết xô bồ, nhưng họ Phạm viết rất ư thức v́ ở Cổ Việt Nam quả cũng có mặt Lạc bộ Mă như ngôn ngữ tỷ hiệu sẽ cho thấy.

C̣n Thuỷ Kinh Chú chỉ ta bằng Lạc bộ Chuy cũng không có sai chút nào hết.

Đă hẳn có lần, dân Khuyển Nhung bị gọi là Lạc bộ Chuy, mà Khuyển Nhung là tổ tiên của người Môn, người Miến Điện.

Người Môn lại giống hệt người Cao Miên về ngôn ngữ, Việt Nam cũng thế. Ta với Thái c̣n khác nhau nhiều hơn là ta với Cao Miên nữa.

Cao Miên: Kôn                                         Cao Miên: Chau

Việt Nam: Con                                         Việt Nam: Châu

Cao Miên: Soạt                                         Cao Miên: Suôn

Việt Nam: Sạch                                        Việt Nam: Vườn

Cao Miên: Sát (Thú)                                

Việt Nam: Vận (Thú)                              

Thế th́ cả ba thứ Lạc đều có mặt tại Việt Nam nên ngôn ngữ của ta nó mới hỗn hợp như thế đó, vừa giống Nhựt Bổn (bộ Trăi), vừa giống Nam Dương (bộ Mă) vừa giống Cao Miên (bộ Chuy) vừa giống Thái (Mă + Trăi).

Những danh từ Thái Lan giống Cao Miên chỉ mới giống từ thế kỷ 13, c̣n các nhóm Thái khác th́ không giống Cao Miên, tức trong nhóm Thái không có Lạc bộ Chuy.

Mà ư thức hơn hết là các sử gia Việt Nam đời xưa, họ chỉ dùng chữ Lạc bộ Trăi mà thôi, v́ quả ở Cổ Việt Lạc bộ Trăi chiếm đa số, Lạc bộ Mă và Lạc bộ Chuy thiểu số.

Chỉ có các ông Tàu đời sau là lầm. Từ ngày ta thu hồi độc lập (Đinh Bộ Lĩnh) th́ ấn vàng mà vua Tàu ban cho ta đều có khắc h́nh con lạc đà.

Đó là một lối nói thầm của người Tàu rằng ta là Lạc bộ Mă, v́ chữ Lạc trong “lạc đà” viết với bộ Mă.

Tự dạng Lạc trong Việt sử cũng gây thành án như hai danh xưng Lạc vương và Hùng Vương, và nay th́ đă rơ. Không có ai viết sai cả, họ chỉ phiến diện mà thôi, riêng Hậu Hán thư th́ lại đồng nhứt với lối dùng tự dạng xô bồ. Trong một chương sách, Phạm Việp viết lung tung với chữ Lạc nầy rồi với chữ Lạc nọ, xem như là ông ấy không biết Lạc là ǵ hết.

Người Tàu biết Lạc rất rơ, trái với quan niệm của giáo sư Nguyễn Phương, ông cho rằng tác giả Nam Việt Chí lúng túng v́ không biết Lạc là ǵ, nên giải thích không ổn.

Chỉ phiền là ta chỉ t́m được có 4 nhóm Lê trong 9 nhóm. Nhưng các nhóm khác chắc cũng chỉ là phụ chi mà thôi, và cái nhóm quan trọng nhứt nó giúp ta truy ra được:

Lê = Lạc = Lai

là đủ cho ta lắm rồi.

Cũng nên biết rằng cái thứ người tồn tại ở Hoa Nam hiện nay, mà Tàu gọi là Lê, thật ra chỉ là Lạc Lê mà thôi. Chúng tôi biết như vậy nhờ có học ngôn ngữ của người Lê di cư đến Việt Nam.

Người Tàu phân biệt dân Hải Nam ra là Sanh Lê, tức Lê sống, tức Lê c̣n dă man, và Thục Lê, tức Lê chín, tức Lê theo văn hoá Tàu. Người Thục Lê có di cư tới xứ ta với danh nghĩa là người Tàu Hải Nam.

Lệ Đạo Nguyên, tác giả Thuỷ Kinh Chú, cho biết rằng người Lê ở Hải Nam giống hệt người Nhựt Nam, mà người Nhựt Nam xét ra là người Lạc Lê. (Xin xem chương Không có đế quốc Việt Nam).

Cả Lạc bộ Mă (Phúc Kiến) cũng chỉ là Lạc Lê v́ những danh từ cổ mà Phúc Kiến và Hải Nam c̣n giữ được giống hệt nhau. Đó là một thứ tiếng Mă Lai na ná tiếng Chàm.

Vậy mà khi Hải Nam là Lạc Lê th́ Lạc bộ Mă ở Phúc Kiến cũng phải là Lạc Lê.

Vụ án chữ Lạc đă được xét xử và, không có can phạm nào hết, tất cả đều trắng án, và nên khen sự xô bồ của Phạm Việp.

*

*       *

Nhờ truy ra được Lê = Lạc = Lai nên ta không được phép thắc mắc về cái nơi xuất phát di cư của Mă Lai đợt I trong khi khoa khảo tiền sử đă nín im.

Có thế nào mà họ từ Măn Châu hay Mông Cổ mà di cư chăng? Không, v́ ở Măn Châu và Mông Cổ cũng không có sọ Mă Lai, lại cũng không có sợi chuỗi Lê = Lạc + Lai như ở Đông Bắc, Hoa Bắc.

Hai nhà bác học Mansuy và Colani rất bí về cái lưỡi ŕu có tay cầm nầy lắm, v́ họ chỉ làm việc ở Đông Dương nên không làm sao mà có “một cái nh́n tổng quát” được như giáo sư Nguyễn Phương đ̣i hỏi.

Giáo sư Nguyễn Phương lại càng bí hơn, mặc dầu chính ông đă đ̣i hỏi như thế v́ ông chỉ đọc có Mansuy và Colani, c̣n những công tŕnh đào bới ở Triều Tiên, Nhựt Bổn, Célèbes, Nam Ấn, Miến Điện th́ ông không hay biết, thế nên ông có bắt được chứng tích là lưỡi ŕu tay cầm, nhưng chứng tích ấy không giúp ích cho ông được chút nào hết.

Ông loay hoay măi với cái lưỡi ŕu tay cầm ấy khá lâu mà không dè rằng đó là một khám phá lớn vào bậc nhứt trong công việc khảo tiền sử ở Á Đông, nó cho biết nhiều điều quan trọng là chủng Mă Lai từ Hoa Bắc di cư xuống, chớ không phải từ Mă Lai di cư lên, nó lại cho ta biết bọn Anh-Đô-Nê-Điêng đă tới hang Làng Cườm từ bao lâu rồi, trở thành dân nào hiện nay hay đă biến mất.

Ở phụ chương Chủng Trung Mông Gô Lích chúng tôi đă bác bỏ Việt lư tố nguyên của giáo sư Kim Định mà không nói thật rơ đủ cả chi tiết, v́ không thể nói đủ được, bởi chưa đến lúc phải nói. Và bây giờ đă nói được rồi đó.

Cửu Lê, hiểu theo lối thứ nh́ của giáo sư Kim Định, tức hiểu là Viêm, Việt (hiểu theo lối thứ nhứt các bộ lạc Trung Hoa chưa thống nhứt với nhau, cũng cứ là lối hiểu độc nhứt của tác giả, nhưng tác giả đó đi từ lối hiểu thứ nhứt đến lối hiểu thứ nh́ không có bắc cầu, làm như là có một cuộc biến giống Việt = Tàu) cái bọn Cửu Lê ấy là bọn Mă Lai Hoa Bắc di cư vào đợt I nầy đây.

Chúng tôi đă bảo rằng không có dấu vết của họ ở Hoa Bắc, nhưng lại có ở cạnh đó, tức có bắt đầu từ Đại Hàn, là như thế đó. Và chúng tôi cũng đă chứng minh đây đó rằng Cửu Lê tức là chín nhóm của một chủng tộc không phải là Tàu.

Giáo sư Kim Định nói đến “Lịnh ông Cồng bà” tức là cho rằng đă có hợp chủng Hoa Việt ở Hoa Bắc, nhưng mà không hề có sọ lai Hoa Việt ở Hoa Bắc.

Giáo sư Kim Định dùng câu nầy hơi nhiều: “Ai có tai th́ nghe lấy”.

Thế nghĩa là ai không hiểu như giáo sư hiểu đều là khoảng tai trâu hết thảy. Nhưng hiểu theo giáo sư thế nào được khi mà không có sọ Việt hay sọ Hoa Việt tại Hoa Bắc.

Giáo sư dựng đứng lên một vụ đánh cướp văn minh với những chứng tích ngược xuôi rồi nói là ai hiểu rơ như vậy mới là người có tai th́ thật là làm cho độc giả khó xử quá. Không hiểu như giáo sư, e rằng bị xem là kẻ tai trâu, nhưng hiểu theo giáo sư th́ nó trái với các sự kiện khoa học.

Thuyết của giáo sư khả nghi ở đủ cả mọi mặt.

Về phụ hệ Hoa chủng th́ cũng đáng ngờ lắm.

Theo sử Tàu th́ tới đời nhà Thương họ vẫn c̣n theo Mẫu hệ th́ làm thế nào dưới đời Hiên Viên, trước đó hàng ngàn năm, họ lại đă theo Phụ hệ được chớ?

Quả thật thế, sử Tàu cho biết rằng dưới đời nhà Thương không có việc truyền ngôi cho con, mà truyền ngôi cho các em đồng mẹ.

Đúng là lối truyền ngôi của Chiêm Thành mẫu hệ, ḍng máu mẹ quan trọng hơn th́ con của mẹ mới là đáng kể chớ không phải con cha.

Măi cho đến đời Tần, tàn tích mẫu hệ vẫn c̣n, và Tần Thỉ Hoàng đă đàn áp thẳng tay bọn đi ở rể, quyết diệt cho hết di tích của chế độ mẫu hệ, và tất cả bọn đi ở rể đều bị bắt đày ải tới những thuộc địa xa xôi mới chiếm, như Ngũ Lĩnh chẳng hạn.

Đó là sử thật sự chớ không phải là giả thuyết chút nào hết.

Người ta đă có bằng chứng đích xác rằng măi đến mạt điệp nhà Chu, Tàu mới theo phụ hệ, th́ làm ǵ có sự kiện phụ hệ Hiên Viên bị mẫu hệ Việt xỏ mũi.

Chữ Tánh của Tàu viết với chữ Nữ và chữ Sinh. Đó là dấu vết theo họ mẹ, và văn tự th́ có trước đời Chu.

Những cái họ lớn của Tàu như Nghiêu, như , tổ nhà Chu đều viết có chữ Nữ.

Năm 1898, lụt to ở sông Ngươn tại Bắc Hà Nam, làm lở đất, để lộ một kinh đô nhà Thương tại một làng trong huyện An Dương.

Chữ ở mu rùa và xương thú đều cho biết rằng người Tàu thờ mẹ và bà ngoại, chớ không phải thờ cha và ông nội.

Chuyện của vua Nghiêu nhường ngôi cho rể là vua Thuấn cũng rất có ư nghĩa.

Như thế c̣n đâu là phụ hệ Hiên Viên và mẫu hệ Việt và thuyết lịnh ông cồng bà Hoa Việt chỉ là một huyền thoại mới sáng tác.

Nhưng giáo sư Kim Định đă bảo nhà Thương là Việt, mà như vậy th́ phù hợp với chủ trương của ông. Chính Chu mới là Tàu du mục, cướp văn minh của Thương nông nghiệp, tiếp theo cuộc cướp bóc của Hiên Viên.

Chỉ phiền là một kinh đô của nhà Thương, kinh đô Triều Ca đă được khám phá, đào bới, và văn tự của Thương lại là chữ Tàu.

Tuy nhiên, giáo sư Kim Định cũng cứ có lư hoài, nếu theo luận điệu của ông. Chính cái thứ văn tự ấy là của Việt bày ra, theo giáo sư. Và ông giành hết, cả Phục Hy cũng là Việt nữa, th́ chữ đời Thương mà ta ngỡ là chữ Tàu, lại là chữ của ta.

Nhưng tại sao bọn bị ăn cướp, lúc chạy đi, lại không mang chữ nghĩa theo, đợi đến lúc bị Mă Viện chinh phục rồi mới học lại chữ Việt mà Tàu cướp, nói là của họ.

Nếu họ có mang chữ đó theo th́ họ đă có một cuốn sách tương tự như Hậu Hán thư, nhưng trong đó cuộc dấy quân của hai bà Trưng được tŕnh bày dưới một quan điểm khác.

Có lẽ họ đă có một quyển sách như thế, nhưng Mă Viện đă cướp mất rồi chăng.

Chỉ phiền là Mă Viện ăn cướp cái ǵ Hậu Hán thư cũng có khai ra hết, như ăn cướp trống đồng chẳng hạn. Thế sao lại chối đă ăn cướp sách?

*

*       *

Th́ ra Cửu Lê chỉ vượt sông Hoàng Hà rất ít, nhưng c̣n phần lớn th́ chạy bằng đường biển. Đă bảo Mă Lai cũng vô địch về thuỷ vận mà lại.

Về hướng Tây, để sang Đông Ấn Độ, họ cũng đi bộ, có lẽ là mượn đường của một vùng đồng chủng là Ba Thục, chưa lập quốc, nhưng đă có dân.

Ta có thể tưởng tượng rằng Cửu Lê có mặt khắp Hoa Bắc và khi bị Hiên Viên đánh đuổi, bọn phương Đông của Hoa Bắc chạy bằng đường biển, bọn phương Tây chạy qua vùng Ba Thục để sang Ấn Độ, bọn phương Nam vượt sông Hoàng Hà để rồi xuống vùng Dương Tử.

C̣n vấn đề họ không biết trồng trọt th́ trái với thuyết của giáo sư Kim Định là họ giỏi trồng trọt, c̣n Hoa chủng th́ c̣n du mục, Hoa chủng cướp văn minh nông nghiệp của họ.

Nếu không có thuyết Kim Định th́ ta không c̣n phải thắc mắc ǵ, nhưng giáo sư Kim Định đă lập ra cái giả thuyết đó, và tŕnh bày giả thuyết như là sự thật lịch sử khiến ta phải bận tâm.

Nhưng nghĩ thật sâu th́ thuyết Kim Định sai.

Giáo sư Kim Định cho rằng cả vua Thần Nông cũng là Việt, mà vua Thần Nông th́ có trước Hiên Viên đến tám đời vua. Nếu thế th́ hai chủng tộc Hoa Việt phải có sống chung nhau khá lâu; ít lắm cũng 50 năm.

Nhưng không, nếu họ có sống chung được chừng 50 năm th́ hẳn lưỡi ŕu có tay cầm đă có mặt tại Hoa Bắc, v́ bọn Lạc Lê hẳn phải bỏ ŕu lại khi chết đường, hoặc dùng ŕu làm vật tuỳ táng.

Nhưng tuyệt đối không có lưỡi ŕu đá mài có tay cầm tại Hoa Bắc, và chính v́ thế mà khoa khảo tiền sử mới dè dặt đến mức tối đa, nói rằng không biết họ từ đâu mà di cư đến Triều Tiên, rồi Đài Loan, rồi Cổ Việt, v.v. Cũng không hề có sọ Việt.

Ta phải hiểu thế nào đây?

Rất nhiều người chớ không riêng ǵ giáo sư Kim Định cứ phàn nàn khoa học hẹp ḥi, v́ khoa học đ̣i hỏi những cái mà họ không thể t́m được, nó ngăn họ lập thuyết theo ư muốn.

Nhưng một vị giáo sư đại học không được phàn nàn như người thường v́ giáo sư đại học phải biết điều nầy là khi một dân tộc có định cư ở một nơi nào vào cổ thời th́ luôn luôn họ có để dấu vết lại, sọ và vật dụng, không hề có ngoại lệ.

Như vậy sự đ̣i hỏi của khoa học không phải là một vụ làm khó dễ ai, và một người có văn hoá tổng quát phải chấp nhận sự đ̣i hỏi ấy, xem nó là chính đáng, hơn thế, là cần thiết, bằng không th́ bất kỳ ai cũng lập ra được bất kỳ thuyết nào mà họ ưng ư hay sao.

Giáo sư đă lầm khi căn cứ vào Granet và Maspéro. Hai ông đó dựa trên sách vở đời Chu, thấy có sự giống nhau giữa văn hoá các “man di” và văn hoá Tàu, cho rằng có sự đồng văn vào thời cổ hơn.

Quả có sự đó thật, nhưng cổ hơn, cũng chỉ là cổ vào đời Hạ mà Hoa chủng di cư vào đất Việt, chớ vào thời Hiên Viên th́ không, bởi sự va chạm ban đầu giữa hai chủng quá khốc liệt và kẻ bại trận chạy đi hết cả, không có ở lại để mà hợp văn.

Sử của giáo sư Kim Định thật là kỳ dị. Chúng tôi đă đưa ra thí dụ Tần; theo các quan niệm của giáo sư.

Giáo sư cho rằng Tần là Việt. Nhưng nó nghịch hẳn với câu tục ngữ Tàu là Tần ph́ Việt sấu. Nhơn thể tính ấy cho biết rằng họ là hai dân tộc, lại c̣n chỉ rơ họ thuộc hai chủng khác nhau, một chủng ăn thịt và ăn lúa ḿ đến ph́, một chủng ăn gạo, ăn cá nên sấu.

Nhưng khi Tần Thỉ Hoàng lên núi Thái San để chiêm ngưỡng Ngọc Hoàng Thượng Đế th́ giáo sư lại cho rằng đó là Tàu cảm hoá theo văn minh Việt v́ núi Thái San nằm trong đất của rợ Đông Di, mà rợ Đông Di là Việt.

Vậy Tần là ai? Tàu hay Việt?

Ở một nơi khác, giáo sư lại càng đích xác hơn. Ông nói rơ rằng Tần là Khuyển Nhung chớ không phải bất kỳ Việt nào đâu.

Mặt khác ông lại viết rằng vua nhà Tây Chu thấy mặt mày Khuyển Nhung hung tợn quá nên sợ hăi, thiên đô về Đông. Nhưng lúc thiên đô lại nhờ Khuyển Nhung hộ tống.

Đă sợ người ta đến phải thiên đô th́ cứ ở lại với người ta chớ sao lại dám nhờ người ta hộ tống?

Sử Tàu có thể sai khi nói rằng Tần là Tàu. Nhưng phải vạch ra chỗ sai của giai đoạn đó rồi mới đưa cái khác vào được chớ không thể khẳng định Tần là Viêm Việt nào đó mà xong đâu. Cũng không thể khẳng định Tần là rợ Khuyển Nhung là yên v́ bao nhiêu tài liệu cũ mà Tư Mă Thiên t́m được, chỉ có sử Tần là c̣n nguyên vẹn. Chu và Tần là Tàu 100%, không có Viêm Việt và Khuyển Nhung ǵ hết.

Sử Tàu có viết Tần làm Bá của rợ Khuyển Nhung sau khi thắng họ. Nhưng câu sử ấy không hề có nghĩa rằng Tần là Khuyển Nhung.

Giáo sư cũng đă hiểu rằng vua Thuấn là rợ Đông Di, theo một câu nói của Mạnh Tử. Nhưng đó là lời nói của người Tàu đời xưa, chớ vua Thuấn chỉ là người Tàu được phong đi trị đất của rợ Đông Di mà thôi. Người Tần đời xưa chỉ nguồn gốc của một cá nhơn không bằng chủng tộc mà bằng đất định cư.

Giáo sư lại viết: “Nhà Chu du mục”. Và theo giáo sư du mục là Tàu, c̣n Việt là nông nghiệp. Nhưng giáo sư lại viết: “Nhà Chu học với nhà Thương rồi lần lần cảm hoá theo văn minh Hoa Hạ”.

Vậy Chu là Tàu hay là Việt? Nếu Chu là Tàu th́ Chu là Hoa Hạ, chớ không có cảm hoá theo Hoa Hạ ǵ hết. Bằng như Chu là Việt th́ khi nhà Chu sợ Việt Khuyển Nhung hoá ra Việt thấy mặt Việt mà thất đảm th́ thật khó hiểu.

Tại sao giáo sư Kim Định lại mâu thuẫn khi nói về các nhà đó, chớ không trơn tru như sử Tàu? Là v́ sử Tàu viết đúng sự thật, c̣n giáo sư th́ không, mà hễ không đúng th́ dĩ nhiên phải mâu thuẫn.

Từ Phục Hy, Nữ Oa đến Tần, không có ai là Tàu, mà chỉ là Việt không mà thôi, nhưng lại không hề có sọ Việt ở Hoa Bắc suốt bao nhiêu ngàn năm Việt định cư và làm vua ở đó.

Chúng tôi xin trở lại kết luận của chúng tôi là Xy Vưu, từ một nơi kia, mà lát nữa ta sẽ biết là nơi nào, đưa dân tới Hoa Bắc, làm cổ Thiên Tử (theo Từ Hải), ở đó chỉ mới có mấy năm th́ Hoa chủng cũng xâm nhập Hoa Bắc. Cuộc xung đột xảy ra liền và Cửu Lê thua, chạy đi hết, không kịp để vơ khí và sọ lại.

Cũng nên biết rằng qua 5.000 năm th́ trong 10 ngàn cái sọ dễ thường chưa có một cái c̣n nguyên. Thế nên sọ của chiến sĩ Cửu Lê tử trận cũng vắng bóng là v́ thế, họ chết không nhiều để mà c̣n sọ được.

Kiểm soát thứ nh́ cho ta thấy thuyết về nguồn gốc người Nhựt và người Chàm sai bét. Họ không từ Nam Dương hay Phi Luật Tân đến như các nhà ngôn ngữ học Âu châu nói liều. Tại sao trong ngôn ngữ của họ có chút ít yếu tố Đa Đảo th́ ta sẽ biết ở chương ngôn ngữ.

Địa bàn Nam Dương, địa bàn Phi Luật Tân đều là những địa bàn 10 lần tốt hơn địa bàn Trung Việt, mà Nam Dương th́ cho đến ngày nay cũng c̣n dư đất, thí dụ Nam Bornéo th́ to bằng cả nước Việt Nam mà không có người ở, th́ không có lư do nào mà di cư xuống các đảo phương Nam rồi họ lại trở lộn ngược lên để chiếm hai địa bàn xấu là địa bàn Trung Việt và Nhựt Bổn.

Kiểm soát thứ ba. Hiện nay ở Madagascar, người Hova, dân tộc thuộc cấp lănh đạo các nhóm da đen ở Madagascar, không có đen da, và họ vác nước bằng ống tre, y hệt như người Mường.

C̣n đây chỉ là cảm giác riêng của chúng tôi, không có ǵ làm chắc, mặc dầu trống đồng đă t́m thấy ở Tây Bá Lợi Á, là người Esquimaux có thể là Mă Lai. Chúng tôi có xem một phim tài liệu về vũ của thứ người nầy và so sánh với các phim khác về vũ của thổ dân Đài Loan, của người Nam Dương sơn cước, và thấy ba thứ vũ đó giống hệt nhau, kể cả một số nhạc khí mà họ dùng cũng giống nhau. Mà người Esquimaux th́ rơ ràng là người da vàng và có nét Mông Cổ (Mongoloides).

Chúng tôi không t́m được sách về ngôn ngữ của dân Esquimaux nên không thể kiểm soát được sự thoáng thấy của chúng tôi, nhưng trống đồng là vết lông ngỗng rải rác trên đường di cư của Mă Lai đợt II, và có mặt ở Tây Bá Lợi Á cũng mang nhiều ư nghĩa lắm.

Kiểm soát thứ tư được đặt thành câu hỏi sau đây: Hai bọn Mă Lai ấy định cư cách nhau đến 17.000 cây số, từ Nam Dương đến Ba Thục và di cư cách nhau 2.500 năm, có đồng ngôn ngữ nhau hay không?

Có, họ đồng ngôn ngữ với nhau, như thí dụ đă cho thấy.

Tuy nhiên, một chủng lớn như thế phải gồm nhiều phương ngữ, nên rồi các dân tộc trong chủng đó vẫn không hiểu nhau. Nhưng xét tổng quát th́ bọn lưỡi ŕu tay cầm giống hệt nhau, c̣n bọn lưỡi ŕu chữ nhật cũng giống hệt nhau, nghĩa là hai nhóm lớn đó có ngôn ngữ khác nhau nhiều hơn là mỗi nhóm nhỏ trong một nhóm lớn khác nhau.

Nói như thế th́ quá trừu tượng. Ở chương ngôn ngữ tỷ hiệu quư vị sẽ thấy rằng Mă Lai của hai đợt đều có một số danh từ giống hệt nhau như Lá, Cây, Cá, Trăng, Núi, Đảo, v.v., nhưng Gió, Mây, Mưa, v.v. th́ khác nhau.

Trong Mă Lai đợt I mỗi nhóm cũng khác nhau về một số danh từ, thí dụ Nước th́ mỗi nhóm mỗi nói khác.

Trong Mă Lai đợt II cũng thế.

Nhưng sự khác nhau giữa các nhóm của một đợt, nhỏ hơn là sự khác nhau giữa hai đợt. Miến Điện hiểu Cao Miên dễ dàng, nhưng hiểu Chàm rất khó, trong khi đó th́ Chàm hiểu Mă Lai Nam Dương rất dễ, mà hiểu Miến Điện rất khó, v́ Cao Miên thuộc đợt I, c̣n Chàm và Nam Dương thuộc đợt II.

Tuy nhiên, có một nhóm có khả năng hiểu tất cả, đó là dân tộc Việt Nam, v́ cả hai đợt di cư đều có ghé và có định cư tại Cổ Việt Nam. Khoa ngôn ngữ tỷ hiệu đă cho thấy đúng y như vậy, trái với G. Coedès.

Thí dụ:

Đợt I nói:                         Mẹ, Má.

Đợt II nói:            Inang, Ina.

Dân Việt Nam thuở xưa vừa nói Mẹ mà vừa cũng nói Nạ (trong câu tục ngữ: Đợi Nạ th́ má đă sưng).

Nhưng nên thận trọng. Trong các quốc gia gọi là Mă Lai, có 5 nơi có mặt cả hai nhóm: Đó là Chàm, Phi Luật Tân, Célèbes, Nhựt và Việt, thành thử tiếng Mă Lai ở 5 nơi đó lại hỗn hợp một cách khá giống như ở Việt Nam hay Nhựt Bổn tức có cả hai thứ phương ngữ pha trộn nhau, và bằng vào số lượng danh từ của đợt I hay đợt II th́ ta biết ở các nơi đó đợt nào đa số.

Thí dụ ở Cổ Việt Nam th́ đợt I, đợt vua Hùng Vương, đa số, ở Chàm th́ đợt II đa số.

Ta sẽ thấy chi tiết ở các chương sau và có bằng chứng chắc chắn là vua Hùng Vương và Bắc Chiêm Thành là thuộc đợt I. Dân nào thuộc đợt I hay đợt II đều có thể truy ra được, nhờ thế, và việc kiểm soát ngỡ là khó khăn lắm, lại thực hiện một cách hoàn hảo. Cả các thứ cổ ngữ Á Đông cũng học được, thế lại c̣n dễ kiểm soát hơn, miễn là chịu bỏ công học hỏi.

Ta có thể nói rằng cái bọn Hoa Bắc mà Tàu gọi là Lê, là Lạc, là dân Âu tức Thái, dân Khuyển Nhung mà hậu duệ là Mân, Miến Điện, Khơ Me và Tàu phiên âm là rợ Khel (Khương).

C̣n toàn thể Mă Lai Hoa Nam mà Tàu gọi là Việt, chớ không là Lê, là Lạc, đều thuộc một thứ người, người Nam Dương hiện nay.

Chúng tôi đă đưa ra một bằng chứng. Tên của một viên tướng nước Sở, sau lên tới chức Lịnh Doăn, là Nậu Ô Đồ.

Nhân danh Nậu Ô Đồ được viết bằng chữ Tàu, nhưng viết theo ngôn ngữ Sở, tức phiên âm.

Sử Tàu giải thích rằng cái nhân danh Nậu Ô Đồ có nghĩa là Bú vú của cọp. Đọc theo Quan Thoại th́ đó là Nâu Sú Sù, mà Nâu Sú Sù là Mâu Sú Sú của Nam Dương, tức cũng là Bú vú cọp.

Mâu =                     Cọp

Sú Sú =       Vú, sữa

Hai thứ Mă đó khác nhau chút ít, nhưng có một số danh từ chúng lớn lao như Sú Sú đă cho ta thấy. Ta nói Vú, nói Sữa ǵ cũng do Sú Sú mà ra cả chớ không hề do chữ Nhũ của Tàu như nhiều học giả đă quả quyết. Sử Tàu phải phiên âm là Nậu Ô Đồ chớ không viết là Hổ Nhũ hoặc Hổ nhũ mẫn, tức Mă Lai đă có danh từ Sú chớ không phải biến Nhũ thành Sú.

Ở chương Ngôn ngữ tỷ hiệu ta sẽ biết danh từ nào của ta thuộc Mă Lai đợt I, danh từ nào thuộc Mă Lai đợt II.

Chúng tôi lại xin trèo đèo soi sáng nhà bác học G. Coedès. Ông ấy rất khổ sở tự hỏi tại sao bọn Mă Lai lưỡi ŕu có tay cầm đă chịu hợp chủng với Tàu rồi lại c̣n chạy đi đâu, mà lại chạy trước bọn thuần chủng đến 2.500 năm.

Ông G. Coedès nói đó là một điều kỳ dị quá sức tưởng tượng, nhưng ông không thể phủ nhận bởi quả thật các cuộc khai quật ở Nhựt Bổn cho thấy rơ rệt là bọn lưỡi ŕu có tay cầm ở tầng đất ở dưới bọn lưỡi ŕu h́nh chữ nhựt.

Ông G. Coedès không có học cổ sử Tàu và đủ các thứ ngôn ngữ Á Đông nên ông không kiểm soát được và ông cứ nghi hoặc họ.

Bọn lưỡi ŕu có tay cầm chỉ hợp chủng với Mông Cổ chớ không phải với Tầu. Đối với họ, Mông Cổ là bạn, Tàu là thù. Thành thử đă hợp chủng rồi mà c̣n chạy đi. V́ sự hợp chủng ấy có bề ngoài gạt gẫm ta. Tánh cách Mông Gô Lích của những cái sọ của chủ nhân những lưỡi ŕu tay cầm ở Làng Cườm cứ làm cho ông và nhiều người khác ngỡ là hợp chủng với Tàu, mà lại là hợp chủng tại Cổ Việt Nam nữa, trong khi đó th́ cuộc hợp chủng đă xảy ra tại Hoa Bắc, mà không phải là với Tàu v́ khoa khảo tiền sử nói rơ là với một nhóm Mông Gô Lích, nhưng không biết nhóm nào; mà chúng tôi th́ đă tŕnh ra đến ba nhóm rồi: nhóm Bắc Mông Gô Lích, Trung Mông Gô Lích và Nam Mông Gô Lích, Colani, Mansuy và Patte đều lầm.

Có người lại c̣n lầm tưởng rằng sọ Mông Gô Lích ở Làng Cườm là sọ Tàu chánh hiệu nên mới nói là Tàu đă đến xứ ta hàng ngàn năm trước Mă Viện.

Vả lại không phải toàn dân Cửu Lê tức Mă Lai Hoa Bắc đều có hợp chủng với Mông Cổ, bằng chứng là ở Bắc Sơn có sọ Mă Lai thuần chủng nằm cạnh sọ Mă Lai có lai giống với Mông Gô Lích mà sọ không lai lại nhiều hơn sọ lai với một tỷ lệ là 5/1.

Và bằng chứng họ không có lai giống với Tàu lộ ra trong sự vắng mặt lưỡi ŕu tay cầm tại Hoa Bắc, không c̣n phải thắc mắc nữa. Họ không có để dấu vết lại, mà như vậy th́ không thể có sống chung lâu ngày, không thể có hợp chủng với Tàu vào thuở đó.

Cả hai, Tàu và họ đều có lai Mông Cổ mà sọ vẫn khác nhau, v́:

Tàu =              Nhục Chi + Mông Cổ

Cửu Lê =        Mă Lai + Mông Cổ

Cho đến ngày nay mà Tàu Hoa Bắc c̣n chưa chịu đựng nổi khí hậu bán nhiệt đới của ta th́ dưới thời Hiên Viên không làm sao mà có Tàu Hoa Bắc di cư tới Cổ Việt được hết.

Đó là một sự thật nó nhảy lên mắt của mọi người, nhưng không biết tại sao mà bao nhiêu nhà bác học đều cứ cho rằng những cái sọ lai Mông Gô Lích ở Làng Cườm là sọ lai tại chỗ, quên mất rằng thuở ấy Tàu chưa vượt sông Hoàng Hà, nên cứ đành rằng đó là Tàu Hoa Nam, mà hễ Tàu Hoa Nam th́ có thể di cư được. Nhưng làm ǵ mà có Tàu Hoa Nam vào thuở ấy? Từ hữu ngạn Hoàng Hà đổ xuống c̣n là đất của chủng Mă Lai Bách Việt một trăm phần trăm, măi cho tới đầu đời Hạ, tức hơn 1.000 năm sau biến cố Hiên Viên, mới có Tàu Hoa Nam, mà thứ Tàu Hoa Nam ấy cũng chưa chịu đựng được khí hậu Cổ Việt, cứ đọc bài thơ Chiêu Hồn của Tống Ngọc th́ rơ, bài thơ ấy làm ra một ngàn năm sau cuộc di cư vào đất Kinh Nam, tức 2.000 năm sau biến cố Hiên Viên – Xy Vưu.

Tóm lại, tất cả mọi người đều không biết rằng có đến ba phụ chủng Mông Gô Lích và danh xưng Mông Gô Lích cứ bắt họ nghĩ đến Tàu, nên mới có ngộ nhận rằng sọ lai Mông Gô Lích ở Làng Cườm là sọ lai Tàu.

Sự khó chịu của ông G. Coedès là sự khó chịu của con nhà khoa học trước một sự kiện vô lư. Tại sao đă bằng ḷng hợp chủng rồi lại bỏ đi? Mà lại đi trước bọn thuần chủng Mă Lai nữa. Nhưng các cuộc khai quật ở Nhựt Bổn đă cho thấy rơ ràng như vậy, ông không thể nói khác được.

Đây là một bài học cho ta. Hễ cái ǵ không hữu lư th́ phải t́m ṭi thêm, chớ không để vậy mà chịu hoặc kết luận liều lĩnh, v́ cái lẽ dĩ nhiên là chuyện vô lư không thể đứng vững, mà phải mang những lư lẽ sâu kín nào khác mà ta chưa khám phá ra.

Nếu ông G. Coedès c̣n sống, chắc ông đă t́m hiểu thêm, và đă biết sự thật.

Từ trang một đến đây, chúng tôi gọi ông G. Coedès là Nguyên viện trưởng. Nhưng ông đă thất lộc rồi khi quyển sách nầy viết xong. Chúng tôi không đổi chữ Nguyên thành chữ Cố v́ sự thay đổi ấy không quan trọng lại làm mất thời giờ. Vậy xin chỉ nói qua một lần ở đây thôi.

Kiểm soát thứ năm: Các nhà khảo tiền sử đều không biết cổ sử Tàu, người tóm lược là ông G. Coedès cũng không biết, nên ông thử t́m lối giải thích lư do của hai cuộc di cư cách nhau 2.500 đó.

Ông viết rằng cả hai bọn ấy đều di cư v́ tiếng kêu gọi của biển cả! Đó là một sai lầm quá thô sơ. Mặc dầu không thạo sử Tàu từ thế kỷ 1 sắp lên, ông phải biết đại khái, mà một cuộc Nam chinh đă cho ông thấy rơ, và ông có nói đến, đó là cuộc Nam chinh của Tần Thỉ Hoàng.

Chủng Mă Lai chạy đi chỉ v́ bị Hoa tộc đánh đuổi để lấn đất, chớ không hề được ai kêu réo hết.

Ông lại giải thích tại sao họ lại di cư xuống Đông Nam Á lục địa mà ông gọi theo xưa là Đông Dương: đó là v́ ở đó có những lưu vực sông ph́ nhiêu: Hồng Hà, Mékong, Mé Nam, Salouen, v.v.

Chớ ở phía đông Trung Hoa lại không có lưu vực sông à, mà sông c̣n to hơn nhiều: đó là Hoàng Hà, sông Hoài, Dương Tử Giang và Tây Giang.

Ông không biết sử Tàu, nhưng nếu ông suy luận có khoa học ông cũng biết được tại sao họ không mê biển bằng cách chạy ra hướng đông và chỉ chạy xuống phương Nam. V́ Hoa tộc đánh tràn từ trên xuống trong một mặt trận dài từ Tây sang Đông. Tây Đông ǵ cũng bị Tàu giựt hết rồi. Họ không hề mê sông Hoàng Hà, sông Mékong, song Mé Nam nào hết.

Kiểm soát thứ sáu: Lời lẽ của các nhà khảo tiền sử gây ngộ nhận nơi giới bác học. Họ bảo bọn di cư thứ nhứt chưa biết trồng trọt, nhưng họ phải theo dơi bọn đó, chớ không được phép dừng chơn tại các lưỡi ŕu đá mài có tay cầm ấy.

Bọn đó, tới các địa bàn mới, tiếp tục tiến và tự lực tiến đến thời đại đồng pha và nông nghiệp, v́ người ta bắt được cái lưỡi ŕu có tay cầm đó, bằng đồng pha, tại Núi Voi (Bắc Việt) với bên cạnh lưỡi ŕu, đồ đất nung và dụng cụ để biến chế mễ cốc mà ăn.

Đó là sơ sót gây ngộ nhận không nhỏ.

Vua Hùng Vương, như ta sẽ thấy, thuộc bọn di cư đợt I, tức họ tiến lên rất cao, đến chế độ đồng pha một cách tự lực, không nhờ ảnh hưởng ngoại lai như ông O. Jansé đă nói, cả hai đợt đều tự lực tiến lên.

Đó là t́nh h́nh ở Cổ Việt Nam. C̣n ở Cổ Nhựt Bổn th́ hơi khác.

Ở Nhựt Bổn, khoa khảo tiền sử t́m được hai giai đoạn văn minh. Giai đoạn Thượng cổ được đặt tên là giai đoạn Thằng Văn, bọn nầy biết làm đồ đất nung rất là thô sơ. Đó là bọn di cư đợt I, đă tự lực tiến lên, tại địa bàn mới, nhưng chỉ tiến tới đó mà thôi, tuyệt đối không có dấu vết tiến thêm của họ.

Giai đoạn văn minh thứ nh́ được đặt tên là giai đoạn Di Sinh. Đó là nền văn minh của bọn di cư đợt II, giống hệt bọn đợt II ở Cổ Việt Nam mà đồ đất nung khéo hơn nhiều, lại đă biết trồng trọt, biết kim khí.

Thế nên ở Nhựt Bổn chính bọn đợt II lănh đạo bọn đợt I, và ngôn ngữ Nhựt Bổn giống ngôn ngữ của Mă Lai Việt Nam.

Bọn Di Sinh chiếm một vùng gần Đông Kinh ngày nay. Đó là vùng đất hoang vu cách đây 2.500 năm. C̣n những vùng ở Tây Nam, gần Đại Hàn, th́ đă bị bọn đợt I chiếm mất rồi. Nhưng bọn đợt II đă lập ra ở địa bàn hoang vu đó một quốc gia tên là Yumato mà Tàu phiên âm là Da Mă Đài, và chính quốc gia Yamato đă chế phục các tiểu bang của đợt I cho tới ngày nay.

Chỉ có một điểm khó nuốt trôi là bọn Mă Lai đợt II ở xứ Chàm lại không có trống đồng bao giờ cả, trong khi đó th́ ở khắp các địa bàn Đông Nam Á bọn đợt II đều có đưa trống đồng tới. Vâng, chúng tôi đă có bằng chứng chắc chắn rằng trống đồng là phát minh của đợt II chớ không phải của đợt I, mặc dầu ở vào địa bàn định cư mới đợt I vẫn tự lực tiến đến thời đại đồng pha rồi, khi bọn đợt II tới nơi.

*

*       *

Lời lẽ của các nhà khảo tiền sử cứ làm cho ta ngộ nhận nữa là bọn sau văn minh c̣n bọn trước lạc hậu. Họ quên mất 2.500 năm đă trải qua giữa hai cuộc di cư, và bọn trước đủ thời gian để văn minh bằng bọn sau tại các địa bàn mới khi bọn sau tới nơi.

Nếu bọn trước mà cứ lạc hậu th́ nơi nào họ cũng đă bị bọn sau nuốt mất, nhưng sự thật là vua Hùng Vương thuộc đợt I cứ c̣n vững ngôi, tức khi hai bọn gặp nhau ở Cổ Việt, th́ hợp tác với nhau ngay mà không có sự chênh lệch văn hoá, nên vua Hùng Vương mới c̣n giữ ngôi được.

Nhưng cắt nghĩa làm sao được khi mà các cổ thư Trung Hoa cho biết bọn sau đă có trống đồng tại Hoa Nam tức trước khi di cư, c̣n khoa khảo tiền sử th́ lại nói bọn ấy chỉ di cư với lưỡi ŕu đá mài h́nh chữ nhựt?

Có một chi tiết nầy mà ai cũng quên là giai đoạn kim thạch hợp dụng kéo dài rất lâu, lắm khi ba bốn trăm năm, v́ kỹ thuật khai mỏ kém cỏi của thuở ấy chỉ cho phép quư tộc có vũ khí và vật dụng bằng đồng pha, c̣n dân chúng th́ không. Các nhà khảo tiền sử t́m được trên đường di cư của bọn II, lưỡi ŕu đá mài h́nh chữ nhựt rủi ro không nằm cạnh trống đồng nên kết luận phiến diện. Tuy nhiên, họ vẫn t́m được một lần sự kiện kim thạch hợp dụng ở ngôi mộ Đông Sơn, nhưng họ lại kết luận sai lầm rằng dân đó đang chỉ biết đồ đá rồi th́nh ĺnh Tàu đưa đồ đồng tới. Nhưng đó là sai lầm của riêng ông O. Jansé, c̣n các nhà khảo tiền sử làm việc rộng lớn hơn th́ nín thinh về điểm ấy.

Đọc sách đời Chu, ta thường thấy những câu đại khái như thế nầy: “Mài kim bằng đá để châm cứu”. Ta cứ ngỡ trong khoa châm cứu cây kim bắt buộc phải bằng đá mới có hiệu nghiệm nhiều.

Nhưng không, đó là dấu hiệu kim thạch hợp dụng của đời Chu. Chu đă văn minh cao lắm rồi và y sĩ của họ cũng được trọng đăi lắm rồi, thế mà giai cấp y sĩ cứ c̣n tiếp tục dùng kim châm cứu bằng đá mài th́ biết dân Tàu đời Chu có sắm nổi vật dụng bằng kim khí hay là không.

Dân Tàu đă thế th́ dân Việt có thể lại c̣n kém hơn, và đồ kim khí rất ít trong xă hội di cư.

Riêng ở Chàm th́ tuyệt nhiên bọn sau không có trống đồng. Chúng tôi ức đoán rằng dân Chàm là dân đợt II di cư sớm hơn hết, di cư trước khi chủng tộc phát minh trống đồng, tức trước đời Tây Chu, tức ngay khi bị Sở đánh bại lần đầu trong một trận chiến mà tất cả các quốc gia Việt ở Hoa Nam đều liên kết lại để đánh quốc gia Tàu lai Việt là Sở, sẽ nói rơ ở một chương sau.

Kiểm soát thứ bảy: Ông G. Coedès c̣n kết luận cả về chi tiết nầy nữa một cách sai lầm lớn lao quá sức: “H́nh như bọn Mă Lai đợt II chỉ từ cực Nam Hoa Nam nhảy vọt xuống Mă Lai Á mà không có ghé đâu cả, nên ngôn ngữ Việt th́ chỉ giống ngôn ngữ của Mă Lai đợt nhứt là Miến Điện, Môn và Khơ Me, mà không giống ngôn ngữ của đợt II”.

Sách của ông G. Coedès ra đời năm 1962, tức sách đó là sách lớn cuối cùng, nhưng ông lại không biết ǵ về ngôn ngữ Môn, Khơ Me và Việt Nam hết, nên mới kết luận như trên, đó là không kể trống đồng mà ông có quyền không biết là của đợt II, v́ khoa khảo tiền sử không có nói rơ trống đồng là của đợt II.

Trong Việt ngữ danh từ của Mă Lai đợt II có mặt đến 40% chớ không phải ít.

Ông G. Coedès đă kiểm soát khoa khảo tiền sử bằng ngôn ngữ tỷ hiệu, mà đó là cái ngôn ngữ tỷ hiệu thiếu sót của ông H. Maspéro. Ông H. Maspéro viết: “Việt ngữ gồm 3 yếu tố: Thái, Môn Khơ Me ngữ, và một yếu tố thứ ba, không biết là của ai”.

Thái ngữ, Môn Khơ Me ngữ, là Mă Lai đợt I, c̣n yếu tố thứ ba bí mật ấy chỉ là tiếng Mă Lai đợt II của người Nam Dương mà ông H. Maspéro không biết v́ ông không dè rằng tất cả đều là Mă Lai nên không buồn học tiếng Mă Lai Nam Dương.

Khi mà thành phần của Việt ngữ mà như thế th́ bọn Mă Lai đợt II phải có ghé Đông Dương.

Công tŕnh khảo tiền sử do ông G. Coedès tóm lược được thực hiện trước khi chính người Việt Nam t́m thấy lưỡi ŕu h́nh chữ nhựt tại Bắc Việt, trước khi người Pháp t́m thấy trống đồng ở Cao Miên nay, tức Phù Nam xưa. Trống đồng là tác phẩm của bọn đợt II mà khoa khảo tiền sử không biết.

Cực Nam Hoa Nam là Lưỡng Quảng vốn là nước Tây Âu. Vào đời đó nước Tây Âu hùng cường lắm th́ không mắc chứng ǵ mà họ di cư ồ ạt. Bọn di cư là bọn ở trên, di cư bằng đường biển, c̣n đường bộ th́ họ đi ngang qua Tây Âu, nhờ là đồng chủng. Vả lại Tây Âu cũng có tiếp thu một đám Lạc đông đảo v́ ngôn ngữ Thái cũng đầy dẫy danh từ của Mă Lai đợt II.

Ta có thể tưởng tượng ra t́nh trạng nầy là bao nhiêu dân Âu từ Dương Tử đổ xuống đều quy tụ tại Tây Âu, nơi nương náu cuối cùng của họ, 1.500 năm sau kia họ mới bị áp lực và di cư xuống thượng du Bắc Việt, xuống Ai Lao, c̣n thuở ấy th́ không.

Vậy bọn Mă Lai đợt II không phải là dân ở cực Nam Hoa Nam mà di cư. Và họ có ghé nhiều nơi ở Đông Dương, trước khi đến Mă Lai Á.

Chẳng những họ có ghé, mà họ c̣n lập ra ở đó tới hai quốc gia quan trọng là Phù Nàm và Chiêm Thành (Lâm Ấp, như ta sẽ thấy, là nước của bọn đợt I chớ không phải Lâm Ấp đổi tên là Chiêm Thành, như các cuốn sử Tây đă viết sai).

Ta biết rơ như thế nhờ trống đồng có mặt tại trung tâm Phù Nam (gần hồ Tonlé sáp), và nhờ ngôn ngữ Chiêm Thành cho ta biết chắc là Chiêm Thành thuộc đợt II.

Tuy nhiên,, ta cũng có thể biết ngôn ngữ của Phù Nam đôi chút. Ngôn ngữ đó cũng chỉ là ngôn ngữ của đợt II, chớ không phải của Cao Miên như toàn thể các ông Tây đă nói.

Riêng về Cổ Việt th́ họ cũng là một cộng đồng quan trọng, v́ ngôn ngữ ta đầy dẫy danh từ của Mă Lai đợt II, tức Mă Lai Nam Dương, mà không ai hay biết, v́ không có ai học tiếng Mă Lai cả.

Tàu kiểm tra dân số th́ thấy Tây Âu 10 lần đông dân hơn Đông Âu, Mân Việt, Âu Lạc. Họ hùng cường là nhờ thế, mà nhờ thế v́ đó là đất quy tựu dân chạy loạn mà không di cư.

Tại sao ta biết dân Tây Âu không có di cư? V́ sự vắng bóng của danh từ Thái ở Nam Dương.

*

*      *

Dầu sao sự định thời điểm di cư của bọn Mă Lai đợt II, tức bọn Austronésiens cũng rất hữu ích cho ta để t́m biết tại sao bọn đó di cư.

Cũng nên nhớ rằng trong các cuộc khảo cứu nầy chất C. 14 không được dùng lần nào cả, v́ chất ấy dùng cho những ǵ quá mới chừng hai ba ngàn năm, không dùng được thật đúng, có thể sai chạy vài ngàn năm, th́ định tuổi theo phương pháp khác cũng thế thôi.

Vậy ta có thể cho thời điểm di cư là 800 năm trước Kitô kỷ nguyên chớ không phải là 500 năm.

Như vậy là dân Mă Lai đợt II bắt đầu di cư ngay từ lúc Sở đánh Nam dẹp Đông để bành trướng biên cương và cho đến năm nước U Việt bị tan ră th́ cuộc di cư rầm rộ hơn bao giờ hết.

Thế th́ L. Aurousseau đúng chớ không sai và không mấy khi ông ấy nói đúng được một lần, ông ấy lại bị Madrolle và giáo sư Nguyễn Phương công kích hơi nhiều với luận cứ như sau: làm thế nào mà vượt được hàng ngàn cây số hoang vu, qua bao nhiêu là đất của dân thù nghịch, và chỉ mới tới Cổ Việt làm sao tạo được một nền hành chánh có quy củ, một nền văn minh rực rỡ.

Cứ bằng vào Xuân ThuTả Truyện th́ họ không có vượt đất hoang vu và thù nghịch nào mà chỉ đi qua các nước văn minh đồng chủng, các nước ấy đă hùng cường cho đến vua Sở phải kư hiệp ước thân hữu: Đông Âu, Mân Việt và Tây Âu.

Và họ tới nơi là tổ chức được ngay là v́ đă có bọn Mă Lai đợt đầu nằm sẵn ở đó, mà bọn ấy th́ đă có vua chúa rồi, vua Hùng Vương.

Sử gia Nguyễn Phương và nhiều sử gia khác cứ tưởng rằng vua Hùng Vương là con cháu của Câu Tiễn v́ L. Aurousseau đă nói thế. Nhưng truyền thuyết nói có đến 18 vua Hùng Vương, mà con cháu Câu Tiễn th́ chỉ mới tới, làm sao mà có 18 đời vua được, trong thời gian đó?

Công kích ông L. Aurousseau, Madrolle và sử gia Nguyễn Phương chưa đọc sử Tàu, để biết những ǵ xảy ra vào thời đó, ở dưới nước Sở.

Dầu sao, có đọc sử Tàu rồi, cũng không cắt nghĩa được sự có mặt của 18 đời vua, khi một dân tộc mới đến một nơi có mấy trăm năm.

Nhưng khoa khảo tiền sử đă mở một cái gút. Sở dĩ có 18 đời vua Hùng Vương là v́ có cả một đợt Mă Lai nằm sẵn đó từ 2.500 năm và nơi đó họ tiến lên từ đá mài đến đồng pha, tiến lên tự lực, không có nhờ sức của chú rể Tàu nào hết như O. Jansé đă viết liều.

Bọn sau thiểu số chỉ đưa món trống đồng tới mà thôi, chớ tổ chức th́ đă có sẵn, mà họ không phá vỡ được, v́ họ là thiểu số, mà cũng chẳng phá vỡ làm ǵ, bởi đó chỉ là tổ chức phong kiến của chủng Mă Lai, y hệt như của họ.

Đă bảo trước khi nước U Việt của Câu Tiễn bị tan ră, đă có di cư rồi. Chúng tôi đă đoán rằng Mă Lai Bách Việt di cư đi Nhựt Bổn trước khi Bách Việt biết chế tạo trống đồng.

Thế nghĩa là bọn sau, bọn đợt II, di cư thành nhiều lần, từ thời Tây Chu đến thời Đông Chu.

Ở Nhựt Bổn có ba nơi tên là Việt tiền, Việt trung, Việt hậu, có lẽ đó là đất ban đầu của Mă Lai đợt II đến nơi, làm ba lần, chớ bọn đợt I không bao giờ được gọi là Việt cả.

Ở một chương tới, chúng tôi cũng sẽ theo dơi một bọn di cư tới Việt Nam mà không phải là con cháu Câu Tiễn. Họ từ Sở, bị đẩy lùi xuống lần lần khỏi An Huy, bọn nầy khác hơn tất cả các bọn khác là có mang một biệt sắc mà chẳng có Việt nào có hết.

Và họ đă lập quốc tại địa bàn mới, nhưng không phải trong nước Văn Lang, và họ tồn tại đến ngày nay. Họ nói tiếng Việt cổ hơn người Mường, có nhị âm và tự xưng là Lạc.

Tới đây ta lại phải khen người Tàu đời xưa một lần nữa. Họ viết sử coi có vẻ lộn xộn lắm, nhưng thật ra là ư thức vô cùng.

Như đă nói, Lạc Hoa Bắc và Việt Hoa Nam đều là Mă Lai, nhưng Mă Lai Hoa Nam chỉ được họ gọi là Việt (trừ một nhóm nhỏ là Thất Mân mới được họ gọi là Lạc).

Tuy nhiên, họ vẫn biết rằng Lạc và Việt là một. Là một, nhưng lại cũng có khác nhau. Họ cũng biết điều thứ nh́ đó nữa.

Thế nên dân ở Hoa Nam bị gọi là Việt nầy, Việt nọ, nhưng khi họ xuống tới Âu Lạc th́ họ gọi ta ngay là Lạc Việt v́ họ biết ta gồm cả hai đợt, Lạc Hoa Bắc và Việt Hoa Nam. Ngoài ta và dân Hải Nam ra, họ không gọi dân nào khác bằng danh xưng đó cả, mặc dầu ở vài địa bàn khác cũng cứ có hai đợt, có lẽ v́ tại Cổ Việt và Cổ Hải Nam hai đợt ấy suưt soát nhau, c̣n nguyên vẹn, chưa đợt nào nuốt xong đợt nào cả, c̣n phân biệt được trắng đen, chớ như ở Nhựt Bổn th́ đợt II đă nuốt mất đợt I xong rồi trước kỷ nguyên Tây lịch, không c̣n phân biệt được là có hai thứ nữa.

Nhựt Bổn lại đă lai giống với Hà Di, nên hoá lùn, nên họ không biết được nguồn gốc của Nhựt nữa, tưởng đó là thứ dân nào khác mà họ gọi bằng danh xưng bâng quơ “dân lùn”, viết chữ Tàu là Oải nụy (Miền Bắc đọc là Oa Nô).

Khoa khảo tiền sử làm việc như một anh mù, họ không hề biết Hiên Viên, Hùng Vương, Câu Tiễn ǵ cả, nhưng chính anh mù ấy đă soi sáng truyền thuyết và cổ sử Tàu và ta.

Sử gia Nguyễn Phương biết nguyên tắc làm việc là có khai thác khoa khảo tiền sử, ông lại nhiều công phu đă đọc Colani Patte, Mansuy rất kỹ, nhưng ba nhà bác học nói trên chỉ làm việc tại Đông Pháp, thành thử không cho sử gia có được cái nh́n tổng quát mà sử gia muốn.

Sử gia dừng chơn lại nơi cái lưỡi ŕu có tay cầm khá lâu, nhưng chỉ băn khoăn về những đường rạch Bắc Sơn là một chi tiết không đáng kể.

Cái nh́n tổng quát mà sử gia Nguyễn Phương đ̣i hỏi, không ai mà có được hết, mà người ít có hơn cả chính là người đ̣i hỏi.

Phải đi từng chi tiết một rồi lần ḍ để tới cái chỗ rộng bao la, rồi bây giờ, từ đó mới có thể nh́n tổng quát để rút ra những kết luận cần thiết, chớ chưa chi hết mà đ̣i hỏi một cái nh́n bao trùm th́ làm thế nào thực hiện được.

Công việc mà ông G. Coedès tóm lược lại, đă huy động mấy mươi nhà khảo tiền sử, mấy mươi nhà địa chất học, làm việc suốt mấy mươi năm ở khắp Á Đông, từ Tây Bá Lợi Á đến Nam Dương quần đảo, từ Nhựt Bổn đến Tây Vức, tức là họ đi ṃ chi tiết ấy như là ṃ trai, chớ không làm sao mà nh́n rộng được hết.

*

*       *

Về chữ Lạc rắc rối và danh xưng Lạc Việt th́ ông Đào Duy Anh cũng không có tra cứu sử Tàu, và cũng cứ đoán. Ông cho rằng ta tự xưng là Lạc v́ vật tổ của ta là chim Lạc. Nhưng chim Lạc được Tàu viết với bộ Điểu chớ không bao giờ với bộ Chuy, bộ Trăi và bộ cả.

Hơn thế, vật tổ của dân ta lại không phải là chim như các ông Tây đă lầm. Nó là ǵ, rồi ta sẽ thấy.

Người Tàu biết quá rơ về Lạc từ thời Hạ, Thương, mà đến đời Hán tới chinh phục ta, họ vẫn chưa quên Lạc đó, thế nên họ thường chỉ dân ta bằng chữ Lạc bộ Trăi chớ không phải là bộ Chuyện hay bộ Mă.

Tới đây th́ ta thấy cổ sử Trung Hoa sai về Xy Vưu, v́ đồng thời các cổ thư của họ cho ta biết vài chi tiết sau đây, nó mâu thuẫn với cổ sử của họ.

Tự điển Từ Hải ghi: Ứng Chiêu vân: “Xy Vưu cổ thiên tử”. Trịnh Huyền vân: “Xy Vưu bá thiên hạ”.

Hai nguồn sử trên đây có khác nhau, nhưng vẫn cứ là Xy Vưu làm chủ chớ không phải Tàu làm chủ Hoa Bắc cho dầu y là cổ thiên tử hay chỉ là bá của thiên hạ.

Sử Tàu th́ chép rằng Xy Vưu chỉ là một trong những tù trưởng. Y là cổ thiên tử, y làm bá của toàn cơi Hoa Bắc chớ không hề là chư hầu của ai hết.

Nhưng cái ông vua của 9 dân Lê lại không có để dấu vết lại ở đó, tức họ làm chủ đất Hoa Bắc chưa bao lâu, và chỉ là dân từ nơi khác mới đến mà thôi. Có phải thế chăng? Nhưng không.

Cũng có thể là họ làm chủ Hoa Bắc từ lâu đời rồi, nhưng chỉ mới tiến lên giai đoạn lưỡi ŕu tay cầm th́ bị người Tàu đánh đuổi, v́ người Tàu có thể có vũ khí tốt hơn. Truyền thuyết Tàu ghi rằng Hiên Viên đă sáng tạo được vũ khí bằng đồng pha.

Nhưng họ mới đến, hay đă ở đó từ lâu mà chỉ mới có lưỡi ŕu đá mài tay cầm, cũng không binh vực thuyết của giáo sư Kim Định được, v́ không có sọ Mă Lai tại Hoa Bắc. Không c̣n lưỡi ŕu vẫn phải c̣n sọ, nếu Mă Lai đă định cư ở đó từ nhiều đời rồi.

Có thể nào mà cho rằng Cửu Lê là bọn khác, chớ không phải bọn có lưỡi ŕu tay cầm không?

Ta đă xét qua rồi cái nghi vấn đó. Tại Hoa Bắc không có sọ cổ nào khác hơn là sọ Hoa và sọ Miêu, mà Miêu th́, như khoa dân tộc học cho biết, măi cho đến ngày nay cũng c̣n giỏi chăn nuôi hơn là nông nghiệp, và cũng chưa ra khỏi chế độ bộ lạc.

Dĩ nhiên là ta không kể đến những cái sọ quá thấp về chủng tộc học, sọ Mê-la-nê chẳng hạn, hoặc những cái sọ của những chủng tối cổ đă bị tiêu diệt, như sọ của người Bắc Kinh.

Có thể nào mà người Tàu Hoa Bắc đă bị lai giống hết cả rồi với Viêm tộc hay không? Không, sự lai giống qua bảy, tám ngàn năm c̣n để dấu vết lại, nhưng trong sọ Hoa Bắc, khoa chủng tộc học chỉ thấy có hai yếu tố Mông Cổ và một yếu tố da trắng mà họ nghi là Nhục Chi, không có yếu tố thứ ba nào cả.

Có thể nào mà Viêm tộc là Mông Cổ hay không? Không. V́ nếu thế th́ Tàu đă gọi tộc đó là Hàn tộc, Băng giá tộc, hay ǵ ǵ tộc đó chớ không là Viêm. Và nếu thế đi nữa th́ lại càng không dính dáng ǵ đến dân ta v́ sọ của ta là sọ Mă Lai, chớ không phải sọ Mông Cổ.

Viêm tộc không bao giờ có trên đời nầy.

Tới đây th́ ta đâm ngờ về truyền thuyết của người Tàu. Như ta đă thấy tŕnh bày trên đây: Cửu Lê tức Mă Lai đến Hoa Bắc trước Tàu có bảy ngàn năm, bằng chứng chắc chắn là c̣n sọ Tàu cổ ở Hoa Bắc mà không c̣n sọ Cửu Lê.

Kẻ đến Hoa Bắc trước tiên phải là Hiên Viên. Như vậy những kẻ xưa hơn như Toại Nhân, Phục Hy không có mặt tại Hoa Bắc.

Nếu Toại Nhân, Phục Hy không phải là nước Nhục Chi th́ cũng là Tàu lai Nhục Chi vừa xâm nhập Trung Hoa.

Truyền thuyết Tàu đă lầm lẫn địa bàn, hoặc kể lại truyền thuyết của Nhục Chi mà cứ tưởng là của họ.

Dầu sao những nhơn vật quá cổ như Toại Nhân và Phục Hy cũng không có mặt tại Hoa Bắc v́ kẻ có mặt trước tiên là Hiên Viên.

Thần Nông có thể cũng chỉ là đặt chơn tới Cam Túc chớ cũng chưa vào sâu Hoa Bắc được, v́ nếu Thần Nông đă vào sâu Hoa Bắc th́ họ là kẻ đến trước và đă đuổi Cửu Lê trước Hiên Viên, c̣n đâu để cho Hiên Viên diệt, khi mà ta đồng ư về giả thuyết Cửu Lê chỉ có mặt trước Hiên Viên chỉ có vài ba năm, mà không đồng ư cũng không được v́ không có sọ Mă Lai ở Hoa Bắc, Cửu Lê không để sọ lại v́ không có định cư kịp ở đó nhiều năm là bị diệt ngay.

C̣n giả thuyết thứ ba nữa. Có thế nào mà họ đến sau Tàu hay không?

Chắc chắn là không, v́ theo những nguồn sử cổ mà Từ Hải cho biết th́ Xy Vưu là cổ thiên tử, tức hắn phải là kẻ đến trước. Kẻ đến sau mà làm cổ thiên tử được là làm luôn v́ nó đă thắng. Mà như vậy th́ các nguồn sử Tàu cổ đă không gọi y là cổ thiên tử mà là kim thiên tử.

Người cổ lầm lẫn địa bàn trong truyền thuyết là chuyện thường xảy ra. Thí dụ truyền thuyết về biên giới Hồ Động Đ́nh của ta chỉ là truyền thuyết của Mă Lai đợt II. Ta đa số là Mă Lai đợt I, tức Mă Lai Hoa Bắc, thế mà ta cũng cứ xem truyền thuyết đó là của ta, chớ không dè là của dân bổ sung là người Mường, 2.500 năm sau mới xuất hiện.

Trong cuộc chứng minh Việt Nam = Mă Lai, chúng tôi có bắt được một chứng tích nầy là người Mă Lai ở đảo Java có kể một chuyện cổ tích y hệt như một chuyện cổ tích Mường, nhưng kỳ lạ lắm là khung cảnh mà họ tả trong chuyện là khung cảnh núi đá vôi ở Hoà B́nh trong khi đó th́ đảo Java không hề có núi đá vôi (sẽ kể rơ ở chương Mường). Đó là một bằng chứng một dân tộc thiên di, đồng hoá hai địa bàn cũ và mới.

Nếu ngày nay dân Nhục Chi mà c̣n th́ chắc chắn họ sẽ có hai nhơn vật truyền thuyết giống hệt Toại Nhân và Phục Hy.

*

*       *

Vậy sử Tàu chỉ cổ có 5.000 năm chớ không quá lâu đời với những Toại Nhân và Phục Hy như họ đă viết. Sử Tàu chỉ bắt đầu từ Hiên Viên tức Hoàng Đế mà thôi.

Đặc biệt Thần Nông trước Hiên Viên một đời, th́ không phải xuất hiện tại Tây Vức hay tại Trung Hoa mà có lẽ tại Cam Túc, nơi hành lang xâm nhập mà họ gặp đất hoàng thổ để tiến lên nông nghiệp.

Ra khỏi Cam Túc, vào nội địa Hoa Bắc cổ thời là đă phải chết sống với chín thứ dân Lê dưới quyền lănh đạo của Xy Vưu rồi.

Giữa nhiều giả thuyết dĩ nhiên chỉ có một là đúng.

  1. Xy Vưu chỉ mới đưa dân tới đó là bị Tàu đuổi ngay.

II.     Xy Vưu làm chủ đất ấy lâu đời rồi, nhưng vừa tiến lên lưỡi ŕu tay cầm là bị đánh đuổi.

Ta không thể chọn giả thuyết II v́ giả thuyết II vấp phải cái ngơ bí không lối ra là thiếu sọ Mă Lai ở Hoa Bắc.

Vậy chỉ c̣n giả thuyết thứ nhứt là đúng được là Mă Lai Cửu Lê chỉ mới đưa dân tới Hoa Bắc có vài năm, dưới quyền lănh đạo của Xy Vưu, là Hoa tộc cũng xâm nhập Hoa Bắc.

Mă Lai từ đâu mà đến th́ rồi ta sẽ thấy.

C̣n Tàu th́ gặp hoàng thổ hành lang tại Cam Túc lúc xâm nhập nên tiến lên nông nghiệp, tại Cam Túc (đợt Thần Nông), rồi tiến lên giai đoạn vũ khí đồng pha (đợt Hiên Viên).

Sở dĩ Hiên Viên đảo chánh Thần Nông được là nhờ vũ khí mới mà y phát minh. Nhưng y cũng biết nông nghiệp y hệt như Thần Nông.

Rồi y tiến sâu vào nội địa Hoa Bắc và đánh diệt Xy Vưu, và Cửu Lê. V́ chỉ có lưỡi ŕu tay cầm bằng đá nên Cửu Lê thua chạy đi hết nên không có lưỡi ŕu ấy để lại.

Trước đó Mă Lai và Mông Cổ không có diệt lẫn nhau mà hợp chủng với nhau, v́ cả hai đều không có ǵ để phải tranh giành với nhau hết.

Tới Hiên Viên th́ đă có mồi ngon. Đó là đất ở Hà Nam đối với một dân tộc vừa tiến lên nông nghiệp. Tàu thắng v́ vừa có vũ khí đồng pha chớ không phải nhờ xe chỉ nam như sử Tàu đă chép.

Lại xin nói nhiều về hai loại lưỡi ŕu.

Các nhà bác học Việt Nam đă đào được tại Núi Voi (Bắc Việt) và Yên Hưng (Bắc Việt) lưỡi ŕu có tay cầm, nhưng không phải bằng đá mài mà bằng đồng pha, giống hệt lưỡi ŕu bằng đá mài ở cạnh đó.

Thế th́ bọn Lạc bộ Trăi đă tự lực tiến lên kỹ thuật đồng pha tại Cổ Việt, chớ không hề nhờ Tàu như O. Jansé đă nói (xin xem h́nh). Và họ cũng đào được lưỡi ŕu h́nh chữ nhựt bằng đồng pha tại Quỳnh Xá giống lưỡi ŕu chữ nhựt đá mài ở cạnh đó.

Lưỡi ŕu có tay cầm bằng đồng pha t́m được tại Núi Voi (Bắc Việt).

Lưỡi ŕu h́nh chữ nhựt bằng đồng pha t́m được tại Quỳnh Xá (Bắc Việt).

Lưỡi ŕu có tay cầm bằng đồng pha t́m được tại một kinh đô cũ của nhà Thương, có lẽ là Triều Ca, khác hẳn loại lưỡi ŕu có tay cầm cũng bằng đồng pha của Lạc Việt.

 Xin so sánh với hai lưỡi ŕu y hệt như thế mà bằng đá mài, ở đoạn trước.

Ta phải kết luận sao đây?

A)    Chỉ có Bắc Việt, cả hai đợt di cư mới đều có hai loại lưỡi ŕu bằng đồng pha, c̣n ở các địa bàn di cư khác th́ không, kể cả ở Nhựt Bổn cũng không.

Thế nghĩa là bọn Mă Lai (Lạc di cư) văn minh nhứt tại Bắc Việt, chớ không phải tại các nơi khác.

B)     Lưỡi ŕu chữ nhựt đồng pha là của bọn sau, tức dân của Câu Tiễn. Câu Tiễn đă làm một thời ở Hoa Nam th́ ông ấy không thể quá kém mà được địa vị đó. Vậy lưỡi ŕu chữ nhựt bằng đồng pha, hẳn phải đă có rồi ở Cối Kê, tức có trước khi bọn đợt sau di cư xuống Cổ Việt.

C)    Đợt trước có phải học kỹ thuật đồng pha của đợt sau hay không? Không, v́ chúng tôi đă có bằng chứng rằng vua Hùng Vương tuy không có trống đồng, vẫn đă biết nghề đồng trước khi bọn sau tới.

D)    Tại sao đều là dân của Câu Tiễn mà bọn di cư sang Nhựt Bổn không có lưỡi ŕu h́nh chữ nhựt bằng đồng c̣n bọn xuống Văn Lang lại có? Có lẽ v́ kỹ thuật t́m mỏ kém nên kim thạch hợp dụng cứ kéo dài rất lâu, đồng pha quư nên chỉ có quư tộc mới có vũ khí ấy. Bọn đi Văn Lang là quư tộc c̣n bọn đi Nhựt Bổn là thường dân.

E)     Kinh đô triều ca của vua Trụ đă t́m được và đă được thám quật năm 1943 tại An Dương (Hà Nam). Ở đó có lưỡi ŕu tay cầm bằng đồng, nhưng khác hẳn lưỡi ŕu tay cầm bằng đá hay bằng đồng của Mă Lai. Thế nghĩa là Hoa và Việt không có ảnh hưởng qua lại trước đó. Khoa khảo tiền sử đă cho biết đích xác cái luật nầy: Khi một dân tộc tiến lên từ đá mài sang đồng pha th́ họ chế tạo đồ đồng pha giống hệt đồ đá mài mà họ có trước đó. Vật liệu khác, kỹ thuật khác, nhưng h́nh dáng th́ không, mà như vậy trong hàng ngàn năm. Ở Bắc Việt lưỡi ŕu tay cầm nhà Thương th́ không giống lưỡi ŕu tay cầm của Mă Lai chút nào.

Đă bảo đồng cóp đă kéo dài hàng ngàn năm th́ không thể nói rằng v́ nhà Thương xuất hiện sau Hiên Viên nên lưỡi ŕu tay cầm bằng đồng pha của họ đă biến dạng. Hơn thế, không hề có lưỡi ŕu tay cầm bằng đá mài ở Trung Hoa dưới thời Hiên Viên và sau thời Hiên Viên.

Tại chưa đào thấy chăng? Có thể, nhưng công việc khảo tiền sử ở Tàu có thể nói là đă làm xong trước thời Mao Trạch Đông th́ cũng khó ḷng mà cho rằng chưa kịp t́m thấy.

Cái tay cầm của lưỡi ŕu th́ nhiều chủng tộc ở phương trời khác cũng đă có nghĩ đến, có chế tạo, chớ không phải là biệt sắc độc nhứt của Mă Lai đợt I hay của Tàu. Như vậy trong trường hợp nầy th́ không thể cho là Việt đă cóp của Tàu hay Tàu đă cóp của Việt mà chỉ là một trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng dĩ nhiên là trong sự trùng hợp đó hai bên không thể nào chế tạo giống hệt nhau được.

Ở Bắc Việt ta tiến từ đá mài lên đồng pha mà cứ giữ nguyên h́nh dáng cũ, c̣n nhà Thương th́ dùng vũ khí h́nh dáng khác, mặc dầu cũng có tay cầm.

Đồ gốm Mă Lai ở Cổ Việt Nam cũng khéo không kém đồ gốm của Tàu, nhưng cũng lại khác hẳn. Không có lấy một yếu tố Mă Lai nào cả trong đồ gốm Ngưỡng Thiền, An Dương và Long Sơn, ba trung tâm đồ gốm cổ của Trung Hoa mà giáo sư Kim Định có ám chỉ đến, có ư muốn gán cho ta nhưng không thành công.

V́ kỹ thuật ấn loát và làm bản kẽm của chúng tôi kém, nên xin mời quư vị so sánh hai loại đồ gốm ấy bằng cách đọc hai quyển sách L’Art de la Chine của nhà xuất bản Larousse và Introduction à l’art ancien du Viet Nam của ông Trần Văn Tốt, Sài G̣n, 1967, mà chúng tôi không trích đầy đủ h́nh ảnh ở đây được.

Thuyết “Lịnh ông, cồng bà” của giáo sư Kim Định th́ gián tiếp nói đến cuộc hợp chủng Hoa Việt ở Hoa Bắc. Nhưng nếu không có thuyết đó mà chỉ có thuyết Tàu cướp văn minh Việt ở Hoa Bắc, ta vẫn phải hiểu là có hợp chủng bởi một nền văn minh phải học lâu lắm mới tiêm nhiễm được, chớ không phải chỉ thoáng thấy trong trận Trác Lộc là cóp được ngay. Mà muốn học lâu, phải có sống chung lâu, phải có hợp chủng.

Nhưng sọ Tàu Hoa Bắc lại không mang yếu tố Mă Lai, cũng không có yếu tố nào khác hơn là một yếu tố da trắng bị t́nh nghi là Nhục Chi. Yếu tố đó không phải là Viêm v́ theo định nghĩa của giáo sư th́ Viêm là Lửa, là Nóng (và quả đúng như vậy).

Nhưng dân Nhục Chi lại không phải là dân xứ nóng. Ở Hoa Bắc cũng thế. Không ở đâu mà có một chủng tên là Viêm hết, hoặc mang ư nghĩa là dân xứ nóng hết để rồi tràn tới Hoa Bắc và bị Tàu gọi là Viêm tộc.

Hoạ chăng là có ta, dân Việt Nam. Nhưng phiền lắm là ta lại từ bên Tàu, tận Hoa Bắc mà sang đây.

Ở đây cần giải thích rơ vấn đề. Khi một quốc gia bị xâm lăng, chắc chỉ có một số người là chạy đi, chớ không phải tất cả đều chạy đi. Đó là t́nh trạng đă xảy ra ở Hoa Nam mà một số Mă Lai quá lớn lao ở lại để lai giống và bị đồng hoá.

Nhưng ở đây sao Cửu Lê phải chạy đi hết? V́ đây là lần đầu tiên mà Tàu thấy dân lạ, Mă Lai cũng thế. Như vậy th́ phải một c̣n một mất, có ai muốn ở cũng không ở được, nhưng thật ra th́ không có ai muốn ở cả, v́ sự lạ lùng nó làm cho kẻ thua khó chịu. Kẻ thắng đă tàn sát cũng chính v́ khó chịu và bỡ ngỡ, mà càng bị tàn sát th́ kẻ thua lại càng có lư do để chạy đi hết, không như ở Hoa Nam mà họ đă có dịp trông thấy nhau từ đời Hiên Viên đến đời nhà Hạ.

Dân Mă Lai hiếu chiến và dữ tợn có tiếng trên thế giới mà hiện nay sự kiện ấy c̣n thấy được nơi các nhóm Cổ Mă Lai ở Phi Luật Tân. C̣n các vua Tàu th́ không có phải là vua hiền vua thánh ǵ hết như sử họ đă chép đâu. Cả đôi bên đều dữ tợn, và lần chạm mặt đầu tiên họ phải tàn sát nhau khốc liệt lắm. Như thế th́ bọn thua không thể nào ở lại được, bất cứ v́ lẽ nào.

(Và như vậy th́ cái thuyết Nho giáo có nghĩa là Nhu, là Hiền lương, là của Việt tộc dùng để chống lại tính cường bạo của Hoa tộc, của giáo sư Kim Định, không đúng, v́ ai cũng cường bạo cả vào thời cổ sơ và lần theo năm tháng hễ ai tiến lên th́ bớt hung hăn, ai c̣n chậm tiến th́ c̣n dữ tợn, không có vấn đề chủng tộc ở đây nữa và Nho giáo có phải là của Việt hay không th́ c̣n ngờ lắm, v́ không có chứng tích, và không nên dựa vào sự phỏng đoán của hai ông Granet và Maspéro về một nền văn hoá chung của Á Đông vào cổ thời.

Sự thật th́ chỉ có chi Âu, tức người Thái, mà cũng chỉ là người Thái Lưỡng Quảng là có văn hoá giống văn hoá Tàu cổ thời, c̣n Thái Vân Nam, Khơ Me, Miến Điện và người Nam Dương th́ hoàn toàn không, mà sở dĩ có sự kiện đó là v́ Thái Lưỡng Quảng đă sống gần Tàu quá lâu đời, tuy đă lập quốc riêng nhưng vẫn luôn luôn tiếp xúc với Tàu, c̣n người Mă Lai mà ta gọi là Thượng Việt th́ chẳng hề giống Tàu ở một điểm lớn nhỏ nào cả. H. Maspéro không so sánh các dân khác, và không nên tổng quát hoá những ǵ mà hai thầy tṛ Granet và Maspéro đă nói).

Xin trở lại chuyện Hiên Viên tàn sát và Mă Lai chạy đi hết.

Hiên Viên có lư do tàn sát, c̣n Mă Lai th́ có lư do chạy đi hết, v́ một là Hiên Viên đă quá mạnh tay, hai là phong tục khác lạ của đôi bên, chỉ mới chạm trán lần đầu tiên, kẻ thua thấy rằng không thể ở lại với một thứ dân kỳ dị là dân Tàu.

Trong khi đó th́ Việt Hoa Nam cũng đồng chủng với Lạc Hoa Bắc, th́ lại ít chạy đi hơn khi Trung Hoa vượt sông Hoàng Hà dưới đời nhà Hạ. Tại sao thế? Là tại từ Hiên Viên đến đời nhà Hạ, Tàu và Việt đă đủ thời giờ quen biết với nhau chút ít.

Hiên Viên sống trước nhà Hạ th́ nhà Hạ phải ít dữ tợn hơn. Đó là một cái luật: Kim hơn Cổ. Tần Thỉ Hoàng đốt sách là bậy. Nhưng không phải là không có lư do v́ các nhà nho chủ trương cổ hơn kim, hoá ra ngăn bước tiến của dân tộc họ.

Hạ th́ ít dă man hơn Hiên Viên, họ không đánh Việt, mà chỉ xin tới ở trọ. Hai lư do đó, Tàu đă hiền hơn, phong tục đôi bên đă được biết nhau, Việt không quá bỡ ngỡ nữa nên ít chống đối hơn.

Nhưng vẫn c̣n một điểm cần giải thích rơ. Lạc bộ Trăi có ở lại Sơn Đông và bị gọi là Đông Di. Nhưng làm sao không có sọ Mă Lai tại Sơn Đông?

Tỉnh Sơn Đông rất đặc biệt. Đó là một Cao nguyên được b́nh nguyên mỏng vây quanh. Khi Tàu đông thiên th́ Đông Di rút lên Cao nguyên với ảo tưởng thoát được. Không dè họ không bao giờ thoát được cả v́ rồi Tàu lại xung phong lên Cao nguyên. Thế nên ở Hoa Bắc có một tỉnh độc nhứt mà sọ Hoa mang yếu tố Việt, đó là tỉnh Sơn Đông.

Nhưng đừng v́ đó mà cho rằng Khổng Tử là “Việt gian”, hợp tác với Tàu. Đến đời Khổng Tử th́ Đông Di đă bị Hoa hoá sâu đậm rồi mà Khổng Tử lại là người Tàu gốc ở nước Tống (Bắc Hà Nam) chớ không phải là người Đông Di.

Cũng đừng cho rằng đạo Nho là của Việt, v́ đạo Nho đă có trước khi Khổng Tử chào đời, mà là có ở đâu ấy, ở An Ấp, ở đất Cảo, chớ không phải ở xứ của rợ Đông Di.

Giáo sư Kim Định chỉ biết rằng ta là Việt, mà không dè rằng Môn, Khơ Me, dân Nam Dương cũng là Việt, nên khi ông thấy ta tiêm nhiễm đạo Nho, ông kết luận rằng đạo ấy phải là của ta, không dè rằng hàng trăm nhóm Việt khác, chẳng có ai biết Nho là cái quái ǵ cả.

Nếu khen Nho v́ nó hay, tốt ở chỗ nào đó, th́ cứ khen, cứ theo, không cần phải cố nói đó là của ta. Nếu nó là của ta đi nữa mà nó không hay, ta cũng chẳng theo làm ǵ. Bằng như nó là của Tàu, ta cứ mượn, người Tàu họ giấu nghề làm miến Song thần, nhưng không bao giờ họ giấu đạo Nho, mà trái lại họ bắt ta học ngất ngư cái đạo đó.

*

*       *

Cũng nên nói sơ qua về thổ dân châu Mỹ mà một nhóm đă thiết lập ra một nền văn minh rất lớn là nhóm Mayar. Mayar là phiên âm của Tây Ban Nha, chớ thật ra th́ họ tự xưng là Mă-Y-A, và họ cũng là Mă Lai.

Trước kia người ta ngỡ họ ở Tây Bá Lợi Á di cư sang Mỹ qua eo biển Béring. Nhưng vừa đây người ta khám phá ra rằng da họ không có đỏ, và họ thuộc da vàng và có lẽ di cư từ Trung Thái B́nh Dương.

Đó là ức thuyết, nhưng chúng tôi lại biết chắc rằng ức thuyết đó đúng 100 phần trăm.

Quả thật thế, họ có ngôn ngữ giống hệt ngôn ngữ của Mă Lai Nam Dương. Mà như vậy th́ họ di cư sang Mỹ Châu không lâu, lối 2.500 năm nay mà thôi.

Ta có phương pháp biết những sự thật lịch sử nhờ một cái luật ngôn ngữ. Thí dụ bọn Mă Lai đợt I biết lúa gạo khác địa bàn với bọn Mă Lai đợt II, nên chi danh từ đó của hai nhóm ấy khác nhau, v́ đó là danh từ sáng tác về sau chớ không c̣n là danh từ gốc tổ nữa, mà hai nơi ở xa nhau, phải sáng tác khác nhau.

Thế mà người Mayar gọi lúa là Padi, y hệt như người Nam Dương (Pháp vay mượn của thổ dân châu Mỹ và biến thành Paddy), thế nghĩa là họ cùng nhau sáng tác rồi mới di cư và hai người đó là một.

Người Mayar cũng thờ mặt trời y như người Đông Sơn, và họ hoàn toàn không biết con ngựa thuở họ bị Tây Ban Nha chinh phục, tức họ không từ phía Bắc mà di cư, v́ ở phương Bắc Mông Cổ nuôi ngựa rất nhiều.

Chỉ c̣n một chi tiết chưa thể biết là họ di cư từ Hoa Nam sau khi nước Việt tan ră, hay từ Nam Dương, v́ danh từ Paddy đă được sáng tác tại Hoa Nam đến Nam Dương th́ họ đă có danh từ ấy rồi, và đây là bằng chứng:

Mường:               Pơ Đuông

Giarai:                  Pơ Đai

Chàm:                  Pơ Đai

Nam Dương:      Pa Đi

Danh từ Pơ Đuông của người Mường, nay đă mất Pơ v́ ảnh hưởng độc âm của Việt Nam, và thêm dấu sắc thành Đuống (sông Đuống) v́ ảnh hưởng đa thinh của Việt Nam.

Người Mường trước khi di cư đến Cổ Việt đă biết lúa gạo rồi v́ họ là Mă Lai đợt II, chớ không phải đợt I như con cháu trực tiếp của Hùng Vương.

Đó là một địa bàn định cư nữa của Mă Lai đợt II mà khoa khảo tiền sử không biết mà chỉ có khoa dân tộc học là biết nhờ chúng tôi đối chiếu đồ vật của người da đỏ và người Nam Dương.

Nhưng các nhà ngôn ngữ học nên t́m ṭi thêm khi mà chúng tôi gợi ư về danh từ Padi nầy.

 

*

*       *

Ta tự hỏi tại sao bọn Mă Lai di cư đợt I lại chỉ tới Đông Ấn Độ rồi đi rẽ sang Đông Dương, và họ từ đâu mà đi Đông Ấn Độ.

Đă bảo dân Môn và Miến Điện là hậu duệ của Khuyển Nhung và dân Khơ Me là hậu duệ của rợ Khel (Khương).

Như thế th́ Khuyển Nhung và Khương (Lạc bộ Chuy) phải chạy sang hướng Tây v́ địa bàn của họ ở Tây Trung Hoa, chớ không chạy ra biển Đông được như bọn Lạc bộ Trăi.

Tới Đông Ấn Độ th́ họ chợt thấy đồng bào Dravidien của họ đang nằm dưới ách của bọn Aryen thuở ấy c̣n trắng da, nên không ở đó làm ǵ.

Thấy rơ là các bọn di cư có liên lạc với nhau, v́ Mă Lai đợt I Hoa Bắc biết ở Ấn Độ có đồng bào của họ.

Về sau, cách đó lối 2.500 năm, bọn Mă Lai đợt II cũng đi đến những địa bàn của Mă Lai đợt I chớ không có đi đâu khác hơn, tuy ở Nam Dương họ chiếm các đảo khác hơn là Célèbes, nhưng các đảo ấy cũng cứ là một địa bàn với Célèbes về khí hậu và địa dư.

Khoa khảo tiền sử đă bỏ sót Bọot-Nê-Ô v́ dân cổ Mă Lai ở đó c̣n quá lạc hậu, quá dữ tợn, họ không xâm nhập vào để làm việc được trừ các nhà dân tộc học có làm việc ở Bắc Bọot-Nê-Ô và biết một nhóm Dayak và văn minh phần nào rồi.

Nhưng nếu các đợt ấy mà không có liên lạc với nhau, họ vẫn chạy đến những nơi giống nhau v́ cả đường bộ lẫn đường biển đều có những tiện lợi nào đó, đèo dễ vượt, hoặc gió phải mùa, mà cả các đợt đều biết.

Bọn Mă Lai đợt II đi Nhựt Bổn từ Hoa Nam, chớ không đi Nam Dương có lẽ là bọn gặp gió Nồm, c̣n bọn đi Nam Dương gặp gió Bấc.

*

*       *

Về truyền thuyết Kinh Dương Vương và Lộc Tục của dân ta th́ phải hiểu thế nào đây? Khoa khảo tiền sử đă cho thấy là Mă Lai Hoa Nam thuần chủng Mă Lai, không có lai với nhóm Mông Gô Lích nào cả th́ làm thế nào mà Lạc Long Quân lại là cháu năm đời của Thần Nông được, trừ phi Thần Nông là Việt, đúng như giáo sư Kim Định đă nói.

Nhưng chúng tôi đă chứng minh rằng Thần Nông không phải là Việt th́ truyền thuyết nầy đâm ra rắc rối vô cùng, không giản dị, dễ giải thích như chuyện Lạc (Long Quân) và Âu Cơ (tức chủng Thái) ly khai để chiếm hai địa bàn khác nhau.

Ta chỉ c̣n biết giả thuyết rằng một người Tàu lai Việt, Việt ở châu Dương hoặc châu Kinh, tên là Lộc Tục đă nhảy lên nắm quyền lănh đạo nhóm Việt tổ tiên trực tiếp của ta. Nhưng y lại đồng hoá với Việt, y hệt như các quan thổ ty Việt mà vua chúa ta gởi lên xứ Thái, đă không đồng hoá được họ mà lại bị họ đồng hoá tuốt hết v́ luật đa số nuốt thiểu số.

Đó là lối hiểu hữu lư nhứt mà không chỏi với truyền thuyết, cũng không chỏi với khoa khảo tiền sử.

Nhưng xin đừng hiểu lầm. Chỉ có một nhà lănh đạo là Tàu lai, c̣n toàn quốc không liên hệ ǵ đến ḍng máu Tàu cả, không có vấn đề Việt đă lai Tàu từ thời đó, tại châu Kinh và châu Dương.

Ngày xưa, dân xem vua là cha mẹ của họ th́ tự nhiên họ gọi tổ tiên của vua là tổ tiên của họ. Thần Nông chỉ là tổ tiên của Lộc Tục, thế mà lại được coi là tổ tiên của dân ta là v́ tinh thần đó.

Nhưng cái nước Việt ở Động Đ́nh Hồ mà Lộc Tục cai trị là nước Việt nào, rồi ta sẽ thấy ở chương sau, khi nghiên cứu Tả Truyện. Và cái nước Việt đó, khi tan ră, dân di cư đi nơi khác, th́ ḍng vua Tàu lai ấy bị diệt rồi, theo lệ xưa, quân xâm lăng phải giết vua mới được. Thế là không c̣n giọt máu Tàu nào hết trong bọn di cư, đúng y như khoa khảo tiền sử đă nói.

Như đă thấy, khoa khảo tiền sử rất đúng và rất cần thiết. Nó giúp ta hiểu những mâu thuẫn cũ. Sách Tàu tả dân Việt cắt tóc ngắn, mà cổ vật Đông Sơn lại cho thấy họ có tóc dài. Sử gia Nguyễn Phương đă dựa vào đó để cho rằng cổ vật Đông Sơn là của dân nào đó, có tóc dài, chớ không phải của Bách Việt tóc ngắn như Tàu đă tả.

Nhưng Bách Việt tóc ngắn chỉ là Bách Việt của Tư Mă Thiên tả, tức Bách Việt đợt II, bọn có lưỡi ŕu h́nh chữ nhựt. C̣n bọn trước th́ tóc dài. Thế nghĩa là Xy Vưu giống họ, không có biệt sắc về tóc nên họ không tả.

Mặt khác, ở Cổ Việt, như chúng tôi sẽ chứng minh ở chương người Mường, chính bọn tóc dài, tức bọn Mă Lai đợt I, lănh đạo, c̣n bọn Tiểu phát chỉ là bọn bổ sung. Thế th́ các tượng đồng tạc h́nh người đào được ở Bắc Việt không c̣n gây thắc mắc nữa, mà cũng không giúp giáo sư Nguyễn Phương kết luận được rằng nền văn minh đó không phải là của Việt vốn Tiểu phát.

*

*       *

Và khoa khảo tiền sử không biết hai điều nầy, mà chúng tôi biết nhờ khoa khác:

Trước khi làm chủ toàn cơi nước Tàu, chủng Cổ Mă Lai phát tích từ Tây Tạng chớ không phải phát tích tại nước Tàu, nói rơ hơn là phát tích tại chơn Cao nguyên Tây Tạng.

Xy Vưu đă từ các vùng đất quanh núi Hy Mă Lạp Sơn đưa dân tới Hoa Bắc sau cùng hết. Các nhóm mà khoa khảo tiền sử gọi là Austroasiatiques và chúng tôi gọi là Mă Lai đợt I, thật ra là Mă Lai đợt III, nếu lấy điểm xuất phát di cư đầu tiên làm cái mốc.

Bọn đợt I là bọn đi làm chủ toàn cơi Ấn Độ, bọn đợt II là bọn đi làm chủ toàn cơi Hoa Nam ở dưới sông Hoàng Hà, c̣n bọn Xy Vưu chỉ là bọn đi sau thiên hạ.

Nhưng ta biết rơ Xy Vưu hơn chỉ nhờ có nhân chứng là con cháu của Hiên Viên, c̣n lại hai bọn kia, chính khoa học biết, nhưng không biết chi tiết như Tàu đă biết về Xy Vưu, v́ như đă nói, khoa khảo tiền sử không biết chi tiết, nhưng khoa đó lại giúp cho các khoa khác không sai lầm về sự tương đồng gạt gẫm bề ngoài.

*

*       *

Hi-Malaya có nghĩa là núi của người Malaya. Danh từ Hi nầy c̣n thấy được trong ngôn ngữ Nhựt Bổn ngày nay. Họ đọc là Khi, nhưng khi nào cần viết tiếng Khi bằng chữ La-Tinh, họ vẫn viết là Hi.

(Có lẽ Hi biến thành Hui, rồi thành Núi, bằng vào những xâu chuỗi biến dạng kỳ dị ở chương ngôn ngữ tỷ hiệu).

Đó là danh từ mà người Âu châu ghi theo ngôn ngữ của dân tồn tại quanh đó ngày nay, như dân Népal chẳng hạn, dân nầy, trước khi lai với Ấn Độ, cũng là Mă Lai gốc ở gần đó.

Thế th́ danh tự xưng của họ ban đầu tam âm chớ không nhị âm, bằng chứng là thánh Kinh Phê Đà gọi họ là Mleech’a mà ta có thể phân tách như sau:

M = Ma

Lee = Lai

Cha = Ya

Chúng tôi biết được những điều ấy do các công tŕnh nghiên cứu khác, c̣n rời rạc, chưa được tóm lược lại thành hệ thống như đối với dân Lạc ở Trung Hoa.

Và đó là bọn Mă Lai rời đất tổ trước tiên hơn hết, dưới quyền lănh đạo của ai th́ chỉ c̣n nhờ các nhà bác học đọc văn tự của họ, ta mới biết được mà thôi.

Họ có văn tự nhưng chưa đọc được v́ chưa ai dè rằng họ là Mă Lai, v́ muốn đọc cổ ngữ phải biết ngôn ngữ của kẻ viết chữ.

Nếu quyển sách nầy mà tới tay các nhà bác học đang cất giữ văn tự đó th́ họ sẽ học tiếng Mă Lai và sẽ đọc được.

Từ 6.000 năm trước đây, trở về xưa hơn, đất Ấn Độ không do hai chủng tộc ngày nay làm chủ. Chủ đất là những thứ dân da đen rất kém cỏi, mà chỉ có một chủng là văn minh hơn cả, đó là Mê-la-nê.

Dân Mă Lai, từ quanh Cao nguyên Tây Tạng tràn tới chiếm đất đó, làm bá chủ, và đẩy lui bọn da đen lên núi rừng nhưng cho đến nay (1970) bọn da đen ấy vẫn cứ tồn tại (chủ trương diệt chủng không đứng vững được, trong bất kỳ trường hợp, thời đại nào).

Bọn Mă Lai đó di cư thẳng từ chơn Cao nguyên Tây Tạng, chớ không phải là một nhóm Cửu Lê ở Hoa Bắc chạy tới đó qua ngả Ba Thục, v́ Cửu Lê một ngàn năm sau mới xuất hiện tại Hoa Bắc.

Địa bàn phát tích của họ là vùng chơn núi Hi-Malaya.

Các dân thổ trước kém cỏi chạy lên núi rừng hết, nhưng dân Mê-la-nê khá văn minh nên ở lại hợp chủng với Mă Lai. Hoá ra Mă Lai ở Ấn Độ phải đen da.

Bọn Mă Lai bị đen da ấy định cư ở đó có 500 năm là đă lập ra một nền văn minh rực rỡ mà các nhà khảo tiền sử chỉ mới khám phá ra đây thôi.

Nền văn minh của họ tồn tại được lối một ngàn năm th́ họ bị dân da trắng xâm lăng. Đó là dân Aryen.

Họ truyền màu da đen của họ sang bọn Aryen cho tới ngày nay, nhưng họ vẫn c̣n đông đến một trăm triệu.

Đây là những bằng chứng Mă Lai đă làm chủ toàn cơi Ấn Độ, trước khi chủng da trắng Aryen đến.

Trước hết ta nên h́nh dung ra nước Ấn Độ. Đó là một h́nh tam giác mà một mũi nhọn chĩa thẳng xuống hướng Nam.

Ở các góc của h́nh tam giác ấy, ngày nay các nhà ngôn ngữ học, các nhà chủng tộc học, các nhà dân tộc học đều t́m thấy dân Mă Lai thuần chủng.

Ở phía cực Tây, tại biên giới Ấn Độ – Ba Tư (nay thuộc quốc gia Pakistan, từ ngày Ấn Độ tách ra làm hai), c̣n một nhóm thiểu số tên là nhóm Brahouis. Tại phía cực Nam, nay là tiểu bang Madras, c̣n một nhóm thiểu số tên là nhóm Nilgiri. Tại cực Đông c̣n một nhóm thiểu số tên là nhóm Naga, thuộc tiểu bang Assam.

Nói là thiểu số nhưng riêng nhóm Naga đông cũng bằng toàn dân số ở Trung Việt, và khi Ấn Độ thu hồi độc lập th́ họ nổi lên đánh du kích và cũng đ̣i độc lập. Họ đánh quá dữ, nên ông Nê Ru phải cho họ tự trị trong liên hiệp Ấn, nhưng họ từ chối cho đến năm 1965 th́ hai bên đă không c̣n liên lạc ngoại giao với nhau nữa và nay không biết thế nào. Cũng nên biết là Trung Hoa đă tḥ tay tới đó và đă lập ra một hội tên là Hội bạn của người Naga, và tương lai của dân Naga chắc không xán lạn lắm như họ muốn, mặc dầu họ đă có “bạn”.

Ba nhóm thiểu số đó là Mă Lai thuần chủng. Nhưng một nhà bác học, ông Przyluski, lại t́m được dấu vết của một nhóm Mă Lai thuần chủng ở ngay trung ương Ấn Độ, đó là nhóm Salva, thờ mặt trời và nai y như dân Đông Sơn.

Sự kiện ở cả ba góc và ở trung ương đều có mặt họ, mỗi góc cách xa nhau hơn ba ngàn cây số, chứng tỏ rằng hồi thái cổ, họ làm chủ cả Ấn Độ, chớ không phải là họ chỉ làm chủ của bốn xó ấy mà thôi.

Dân Mă Lai chủ đất Trung Hoa lập ra nhiều quốc gia có địa bàn liên tục, th́ không có lư nào di cư sang Ấn Độ lại ở cách xa nhau trên ba ngàn cây số, để chỗ trống ở giữa các nhóm cho các chủng tộc khác.

Vả lại, người Aryen, tức người Ấn ngày nay, viết sử cho biết rằng khi họ xâm nhập Ấn Độ th́ họ gặp toàn là thứ người đó mà họ gọi là Mleech’a, ở đâu cũng do thứ người đó làm chủ, trên toàn cơi Ấn Độ (theo Kinh Phệ Đà).

Mleech’a chỉ là phiên âm của danh tự xưng của dân Mă Lai, và quả thật thế, chúng ta sẽ thấy một nhóm nữa, tự xưng là Malaya’am từ 6.000 năm rồi và cho đến ngày nay họ vẫn c̣n tự xưng như vậy.

Chúng ta đă thấy Tàu gọi dân số đó là Lỉ, là Li,Lai, cũng tức là phiên âm danh tự xưng Mă Lai, chỉ có điều là phiên âm không đúng hẳn vào hai lần đầu mà chỉ đúng ở lần thứ ba vào thời Tây Chu mà thôi.

*

*       *

Đó là bốn nhóm thuần chủng Mă Lai ở Ấn Độ mà nhà bác học V. Goloubew cho biết rằng họ cất nhà giống nhà khắc ở trống đồng Đông Sơn và có văn minh giống với văn minh Đông Sơn, thuộc chủng cổ Mă Lai.

Nhưng ngoài bốn nhóm nhỏ ấy các tiểu bang Madras, Kerela và quốc gia Tích Lan cũng là của thứ dân ấy, nhưng đă bị Ấn hoá và hiện c̣n đang lai căn với Ấn Độ cho tới ngày nay mà sự hợp chủng chưa dứt, và họ c̣n đông tới 100 triệu.

Nhận xét của ông V. Goloubew đi song song với khám phá của các nhà chủng tộc học, các nhà dân tộc học và các nhà khảo cổ khác, nhứt là các nhà ngôn ngữ học.

Tất cả họ đều thấy rằng dân Nam Ấn, hiện đông lối một trăm triệu, khác hẳn với chủng Aryen ở Bắc Ấn.

Bắc Ấn, trước ngày độc lập vẫn chia ra thành nhiều tiểu bang, có ngôn ngữ riêng, nhưng tất cả các ngôn ngữ ấy đều đồng gốc Ấn Âu.

C̣n dân Nam Ấn th́ ngôn ngữ khác hẳn. Họ có một thứ ngôn ngữ chung gọi là Nam Phạn (Pali), mà đó chỉ là Bắc Phạn (Sanserit) pha với thổ ngữ để truyền đạo Bà La Môn, c̣n thổ ngữ th́ cứ tồn tại, và khác hẳn ngôn ngữ của chủng Aryen.

Các thổ ngữ thật của thổ dân Nam Ấn đồng tông với ngôn ngữ của ba nhóm Mă Lai thuần chủng nói trên.

Hai danh xưng AryenDravidien là danh xưng của khoa chủng tộc học ngày nay dùng để chỉ người Bắc Ấn và người Nam Ấn, chớ vào thời thượng cổ th́ chắc chắn là họ phải tự xưng khác.

Aryen tự xưng là ǵ không rơ, chỉ biết rằng vào đầu Tây lịch kỷ nguyên họ đă tự xưng là Hindou rồi (đọc là Hạnh Đu).

Đó là chủng da trắng xâm lược từ phương Tây đến.

C̣n chủng của chủ đất cũ vào thời bị Aryen xâm lăng mà Tây gọi là Dravidien tự xưng là ǵ? Ta sẽ lần ḍ để đi đến họ.

Chủng Aryen xâm lược gọi họ là dân Mleech’a mà ta đă đồng hoá được với Mă Lai như đă nói trên kia.

Họ tự xưng bằng nhiều tên, tùy nhóm, chắc chắn như vậy, nhưng v́ họ giống nhau hết thảy, bất kỳ nhóm nào cũng giống nhóm nào, nên hồi thượng cổ chủng Aryen mới dùng danh xưng chung là Mleech’a để gọi tất cả các nhóm, và ngày nay khoa chủng tộc học dùng danh xưng chung là Dravidien cũng để gọi tất cả các nhóm đó.

Trong các nhóm Mleech’a hiện nay có một nhóm ít bị lai giống và ít thọ lănh văn hoá Aryen nhứt. Nhóm đó lập thành tiểu bang Kerela và tự xưng là dân Malayalam.

Không c̣n ngờ ǵ nữa hết về cái chủng Dravidien mà nhóm ít chịu ảnh hưởng ngoại lai nhứt lại tự xưng là Malayalam.

Người của tiểu bang Kerela tự xưng là Malayalam v́ như đă nói, họ là nhóm đại diện cho cái khối Dravidien, khối nầy tan ra thành nhiều chi, tự xưng khác, chỉ có chi gần gốc tổ mới tự xưng theo thời thượng cổ mà thôi.

Vậy toàn thể dân Ấn thượng cổ trước khi dân Aryen đến đều đồng chủng với nhau mà khoa chủng tộc học gọi là chi Dravidien, nhưng ta lại biết được đại diện của họ ngày nay cứ c̣n tự xưng là Malayalam, c̣n dân Aryen th́ gọi họ là Mleech'a khi tới xâm lăng họ.

Chúng tôi vừa nói rằng có tánh cách thuần Mă Lai nhứt, là ba nhóm nhỏ Brahouis, Nilgiri và Naga, c̣n Kelera có bị lai Aryen chút ít, nhưng chúng tôi cho rằng Kerela đại diện v́ ba nhóm thuần chủng nói trên bị thoái hoá, thấy là thuần Mă Lai hơn về phương diện chủng tộc học, nhưng về văn hoá th́ chỉ hơn người Thượng chút ít, không đại diện cho chủng Mă Lai Ấn Độ là một chủng đă có một nền văn minh cao hơn cả văn minh của chủng xâm lược Aryen nữa.

Cái nền văn minh đó hiện nhóm Malayalam c̣n giữ gần đầy đủ.

Malayalam có thể hồi xưa không dài đến thế mà chỉ là Malaya mà thôi. Sau v́ chịu ảnh hưởng Ấn Âu nên đa âm hoá ra.

Ở chương Ngôn ngữ tỷ hiệu, chúng ta sẽ thấy bằng chứng của sự nhị âm của người Mă Lai Nam Dương, nhưng họ chuyển hoá bằng cách tiếp nhánh v́ thọ lănh ảnh hưởng Ấn Âu nên họ đa âm hoá.

Thí dụ

BôngaCái bông,

nhưng Huê dạng th́ là Bôngan tức Bônga + an.

Ta độc âm v́ ảnh hưởng Tàu, nên ta chỉ tạo danh từ kép, c̣n họ th́ đa âm chịu ảnh hưởng Ấn Âu nên từ Mă họ đi đến Malayalam dễ như chơi.

Có điều chắc chắn là vào cổ thời họ chỉ tự xưng là Malaya mà thôi, bằng vào lối phiên âm của thánh kinh Phệ đà là Mleech'a. Lam có lẽ là tiếp vĩ ngữ mới được thêm sau, để nói cái ǵ đó mà ta chưa biết.

Kinh Phệ Đà chỉ được viết trên lá bối trước Tây lịch kỷ nguyên không lâu, nhưng lại chép đúng theo sự học thuộc ḷng của các thầy Bà La Môn và nói đến chuyện cũ 5.000 năm, gọi thổ dân ở Ấn mà họ gặp là dân Mleech'a. Thế nghĩa là danh tự xưng Malaya đă có từ 5.000 năm chớ không phải chỉ mới có từ ngày thánh kinh Phệ Đà được ghi trên lá bối.

Ai cũng biết rằng khi dân da trắng Aryen xâm lăng nước của dân Malayalam th́ họ lập ra chế độ giai cấp để phân biệt dân thống trị và dân bị trị. Dân bị trị bị đồng hoá nhiều th́ ở giai cấp trên, bị đồng hoá ít, ở giai cấp dưới.

Có tất cả bốn giai cấp chia ra thành bốn ngàn tiểu giai cấp. Giai cấp thấp nhứt là giai cấp Paria, giai cấp nầy không được đến gần họ, đụng chạm tới họ.

Nhưng trong tiểu bang Kerela, ngày nay mà dân c̣n tự xưng là Malayalam th́ giai cấp Paria bị xử tệ nhứt nước Ấn Độ, v́ họ c̣n bị cấm “ngó thấy” người Ấn.

“Ngó thấy” sẽ phạm tội chết.

Điều ấy chứng tỏ rằng họ là một thứ dân bị trị ít chịu đồng hoá nhứt nên mới bị bạc đăi đến thế.

Ba nhóm nhỏ Brahouis, Nilgiri và Naga, v́ sống độc lập trong rừng núi nên mới thoát khỏi ṿng cương toả của chế độ giai cấp, c̣n nhóm Kerela th́ lưng chừng, chịu để cho đồng hoá, nhưng sự hợp tác rất mong manh, và thường chống đối, nên mới lọt vào hàng rào giai cấp và bị ngược đăi đến thế.

Chúng tôi nói nhóm Kerela là sai, v́ thật ra th́ Kerela là tên của tiểu bang ấy hiện nay, được mọi người biết nên nói thế cho dễ hiểu, chớ họ phân chia như thế nầy về mặt dân tộc:

Nhóm Malayalam tức Chera ở tiểu bang Kerela;

Nhóm Pandya ở tiểu bang Medras và đảo Tích Lan;

Nhóm Chola ở tiểu bang Nam Andha Pradesch.

Họ tự xưng là Mă Lai là v́ đó là tên chủng tộc của họ, chớ không phải thấy sang bắt quàng làm họ với Mă Lai Nam Dương. Dầu sao họ cũng đă bị lai giống và đồng hoá phần nào với Aryen tức là sang hơn dân kém cỏi chỉ mới được khai hoá sau là dân Mă Lai Nam Dương. Nếu họ không có một nền văn minh thật cao như chúng tôi đă ám chỉ khi năy, th́ họ cũng cứ sang hơn Mă Lai Nam Dương nhiều lắm. Vả lại họ tự xưng là Mă Lai nhiều ngàn năm trước khi Ấn Độ tiếp xúc với Mă Lai Nam Dương.

Mă Lai chủng làm chủ toàn cơi Ấn Độ trên 1.500 năm, v́ họ làm chủ từ lối 6.000 năm trước đây nhưng chỉ mới bị chủng da trắng Aryen xâm lăng cách đây có 4.500 năm.

Thế th́ họ di cư khỏi Tây Tạng trước nhóm Mă Lai phía Đông đến hơn một ngàn năm.

Cả hai cuộc di cư đều đồng nguyên nhơn với nhau là đất quanh Cao nguyên Tây Tạng quá xấu, khí hậu lại quá lạnh. Đó là khí hậu lục địa (climat continental).

Họ làm ǵ suốt trên 1.000 năm làm chủ Ấn Độ? Họ đă thiết lập một nền văn minh rất cao, mà các nhà khảo tiền sử chỉ mới khám phá ra đây thôi, nền văn minh cao đó kéo dài lối 900 năm mới bị bọn da trắng diệt đi, tức họ di cư tới địa bàn Ấn Độ có 500 năm là đă từ dă man vượt lên văn minh tột bực, văn minh hơn cả cổ Ai Cập nữa.

Nước của họ tên ǵ, không ai biết cả và các nhà khảo cổ ước lượng nó sinh trưởng từ lối 3.500 năm T.K. đến 2000 T.K. th́ bị chủng da trắng Aryen từ phương Tây đến, diệt đi.

Khi mới khai quật được hai thành phố chôn vùi là Harappa và thành Mohenjo Daro, th́ các nhà khảo cổ thoạt tiên nghĩ rằng đó là thành phố của dân da trắng, từ Địa Trung Hải đến, tức là dân Aryen.

Nay xét kỹ lại th́ đó là thành phố của chủng Mleech'a, v́ họ nghiên cứu lại thánh kinh Phệ Đà của chủng Aryen trong đạo Bà La Môn, th́ thấy thánh kinh nầy nói đến bằng lời lẽ khinh bỉ, một thứ thị dân kia, da đen, mà họ gặp khi họ xâm nhập Ấn Độ, c̣n chính họ th́ du mục, và da trắng.

Khoa khảo cổ đă làm việc rất nhiều mà không hề đào được thành phố nào khác, mang tánh cách văn hoá khác. Vậy hai thành phố đào được là của chủng Mleech'a đă bị đen da rồi, sau khi hợp chủng với Mê-la-nê-diêng.

Thánh kinh Phệ Đà của Aryen da trắng nói rơ rằng đó là thị dân, tức dân ở thành phố, và da đen. C̣n họ th́ da trắng và chưa biết cất nhà.

Hai thành phố đă khai quật được là thành Harappa và thành Mohenjo Daro, được định tuổi là 3.500 năm, cho thấy một nền văn minh có thể nói là hơn văn minh của Cổ Ai Cập ở nhiều điểm, v́ tuy họ chỉ xây cất bằng gạch chớ không biết dùng đá, nhưng họ giỏi cho đến nỗi gạch của họ, bị chôn vùi dưới đất ẩm năm ngàn năm rồi mà không hỏng, cả ở bề mặt ngoài nữa, và họ xây cất cho dân ở, chớ không phải thánh thần như ở Cổ Ai Cập hoặc như chủng xâm lăng da trắng là chủng Aryen, về sau nầy.

Thành phố gồm toàn nhà lầu, có đường sá rộng lớn, có ống cống, ống dẫn nước, có cầu xí hầm với bàn ngồi, có chỗ tập trung rác rến. Dân đó biết dùng đồ đồng và có văn tự để lại (nhưng chưa ai đọc được).

Muốn đọc cổ tự phải biết cổ tự ấy thuộc ngôn ngữ nào. Biết họ là Mă Lai, là chúng tôi, chớ các nhà khảo tiền sử không dè thành thử họ không học tiếng Mă Lai để mà đọc cổ tự đó.

Có những phương pháp giúp ta đọc cổ tự lạ, khi biết cái ngôn ngữ lạ đó, phương pháp ấy ra đời từ ngày Âu châu bắt đầu t́m đọc cổ tự Ai Cập.

Nhưng rồi ngày kia họ cũng biết đó là cổ tự của Mleech'a, họ sẽ học tiếng Mă Lai, và sẽ đọc được, và những văn kiện ấy sẽ giúp ta biết nhiều hơn về chủng Mă Lai cổ thời.

Đă bảo thoạt tiên các nhà khảo cổ Âu Châu ngỡ đó là thành phố của một thứ người da trắng là người Aryen, nhưng lại có chứng tích trong thánh kinh Phệ Đà của người Aryen cho biết rằng chủng da đen đă biết xây cất thành phố rồi, c̣n Aryen th́ chưa biết cất nhà.

Chứng tích thứ nh́ là trong thánh kinh Phệ Đà, không có thần Shiva, c̣n dân Mleech'a th́ có thần ấy từ muôn xưa. C̣n nay th́ thần Shiva lại đă nghiễm nhiên chiếm địa vị sang trọng trong đạo Bà La Môn của người da trắng Aryen và người da trắng Aryen lại cũng bị đen da từ bốn ngàn năm nay, th́ cuộc hợp chủng và hợp văn hoá giữa Mleech'a và Aryen không c̣n chối căi được.

Mà hễ có hợp chủng, hợp văn, hợp tôn giáo th́ người da đen Mleech'a đă thắng vậy.

Đạo Bà La Môn cấm dân xứ ấy kết hôn với dân bị trị, xưa th́ thế, nay th́ họ chỉ c̣n cấm các giai cấp Bà La Môn kết hôn với các giai cấp thấp hơn, th́ tại sao dân da trắng Aryen lại bị đen da được?

Hiện tượng nầy sở dĩ xảy ra v́ một kẽ hở của lịnh cấm.

Nên biết rằng dân da trắng Aryen xâm nhập Ấn Độ từ phía Bắc, dân Mleech'a bị đẩy lùi ra ba góc tam giác Ấn Độ, và tại phương Nam họ chống cự mănh liệt, người Ấn không bao giờ chiếm được đất phương Nam của họ cả.

Suốt lịch sử gồm hơn bốn ngàn 500 năm của Ấn Độ, họ có thống nhứt được hai lần, một lần dưới trào Ashoka, vào năm 322 T.K. và một lần dưới trào Akbar vào năm 1556 S.K. nhưng ba nhóm Dravidien lớn là nhóm Cholas, nhóm Cheras và nhóm Pandyas đều thoát khỏi cuộc thống nhứt ấy về mặt chánh trị.

Họ chỉ bị nhiễm văn hoá Ấn Độ mà thôi, và bị lai giống lần hồi, đến nay vẫn chưa xong cuộc hợp chủng, chớ không hề bị trực trị.

Sở dĩ hiện nay họ phải nằm trong quốc gia Ấn Độ là v́ khi người Anh rút lui th́ họ trao trả toàn cơi cho phe của ông Nê Ru, tức trao trả bậy bạ. Rồi th́ phe ông Nê Ru dùng sức mạnh để ngăn Malayalam trở về sự độc lập như xưa, nhưng phao lên rằng là ngăn ly khai.

Thuở ấy có bốn nhóm không bằng ḷng cuộc trao trả kỳ dị như vậy và đ̣i độc lập:

1.      Nhóm Tích Lan. Đối với nhóm nầy th́ ông Nê Ru nhượng bộ v́ họ ở ngoài đảo mà ông ta th́ không có tàu bè ǵ hết.

2.      Nhóm Naga, ông Nê Ru không nhượng bộ. Nhưng quân đội của ông ta đánh măi mà không thắng được bọn ấy nên ông ta lờ đi.

3.      Nhóm Hyderabad. Nhóm nầy đă lai Ấn Độ rất đậm, nhưng họ đă lập quốc riêng từ 4 ngàn năm rồi, nên họ ly khai. Ở đây th́ mới gọi được là ly khai v́ Hyderabad giống hệt như nước Sở của Tàu, một quốc gia lai giống và đă hùng cường, và cũng ly khai từ ngày xưa. Ông Nê Ru đă xua quân đánh nhóm Hyderabad. V́ nhóm ấy nằm trong ruột của Ấn Độ, tức yếu thế nên phải bại trận.

4.      Nhóm Nam Ấn thấy Hyderabad mạnh hơn mà vẫn thua, nên không dám rục rịch. Nhưng sau đó khi ông Nê Ru lấy phương ngữ Hindi làm thừa ngữ cho toàn quốc, bỏ ngôn ngữ 5 ngàn năm của họ, đă sản xuất được bốn nền văn chương khá rực rỡ, nền văn chương Tamoul, nền văn chương Télégu, nền văn chương Kanara, và nền văn chương Malayalam th́ họ bạo động đổ máu, khiến người thừa kế của ông Nê Ru huy động quân đội xuống để “dẹp loạn”.

Xin trở lại khe hở nói trên, tồn tại đến ngày nay, nhờ thế mà người ta mới biết được một sự thật về lịch sử và về chủng tộc quan trọng.

Số là ở Nam Ấn, v́ lư do không đánh chiếm được, nên dân Aryen đổi chiến lược, gởi các thầy Bà La Môn xuống giảng đạo để làm cán bộ xâm lăng chậm chạp và trá h́nh, c̣n các giai cấp khác th́ không được xuống đó.

Các thầy Bà La Môn giảng đạo thành công rồi th́ lại cũng bày tṛ giai cấp và cũng cứ các thầy làm giai cấp hạng nhứt.

Vua chúa và quan lại của chủng Mă Lai Dravidien th́ bị đẩy xuống làm giai cấp hạng nh́ y như ở Bắc Ấn, mà vua chúa cũng chỉ thuộc giai cấp hạng nh́ như chiến sĩ.

Dĩ nhiên là cuộc kết hôn giữa giai cấp nầy và giai cấp khác bị cấm hẳn (cả ở Bắc Ấn mà giai cấp hạng nh́, cũng thuộc chủng da trắng Aryen mà cũng bị cấm kết hôn với giai cấp hạng nhứt Bà La Môn, trừ vua. Ở Nam Ấn th́ giai cấp hạng nh́ trở xuống, toàn là người bổn xứ th́ càng cấm ngặt hơn nữa).

Con trai thứ của giai cấp Bà La Môn lại bị cấm cưới vợ (bất kỳ cưới ai) v́ lư do kinh tế. Họ sợ đất ruộng của gia tài bị chia manh xẻ mún. Để giải quyết vấn đề sinh lư, con trai th́ được xă hội làm ngơ để cho tư t́nh hoặc hiếp dâm con gái của các giai cấp dưới.

Nhưng những đứa con lai th́ lại được xă hội nh́n nhận và cho vào các giai cấp trung gian. Đó là chứng tích của sự đen da của chủng da trắng Aryen bị bắt gặp ngày nay tại Kerela, nơi mà cuộc hợp chủng chưa hoàn thành, dân Mă Lai thuần chủng c̣n rất đông.

T́nh h́nh ở Ấn Độ giống hệt t́nh h́nh ở Trung Hoa, chỉ có khác là chủng Aryen không đồng hoá được chủng Mleech'a như chủng Hoa đă đồng hoá được chủng Việt ở Hoa Nam v́ người Aryen kỳ thị hơn người Trung Hoa, mà cũng v́ những dịp thống nhứt xứ sở của họ rất là mạng yểu. Trung Hoa đă thống nhứt được từ đời Tần, Ấn Độ cũng vậy, nhưng nền thống nhứt của Trung Hoa liên tục, thỉnh thoảng mới có phân ly vài mươi năm như dưới các thời Lục Triều, Ngũ Đại, Tam Quốc, c̣n Ấn Độ th́ không bao giờ thống nhứt được trên 300 năm.

*

*       *

Ở Bắc Ấn, thiên hạ đă đen hết cả rồi, nên không ai c̣n làm sao mà hiểu được nguyên nhơn đen da của chủng da trắng Aryen, nhưng ở Kerela th́ chủng Mă Lai Dravidien c̣n đang hợp chủng với giai cấp Bà La Môn, giai cấp nầy, ở Kerela c̣n một số người da trắng, và v́ c̣n cái tục là cấm con trai cưới vợ nhưng cho phép tư t́nh và hiếp dâm con gái giai cấp dưới, nên người ta mới khám phá được hiện tượng trắng thành đen của chủng Aryen.

Hiện nay ở Ấn Độ, chính trong giai cấp Bà La Môn mà cũng chia ra nhiều đẳng cấp, có trên, có dưới, mà giai cấp Bà La Môn ở Kerela lại bảnh nhứt nước Ấn Độ v́ họ c̣n trắng da, như Tây.

(Xin đừng lầm lẫn giai cấp Bà La Môn Kerela với dân Bombay, dân nầy cũng trắng da. Nhưng họ không phải là người Ấn. Họ chỉ là dân Ấn, nhưng gốc Ba Tư di cư, cũng thuộc chủng da trắng).

Tiểu bang Kerela là tiểu bang mà toàn thể dân chúng bị khinh rẻ nhứt nước Ấn Độ, nhưng giai cấp Bà La Môn ở đó lại đứng hàng đầu của phái Bà La Môn Ấn Độ. Có hiện tượng kỳ lạ ấy, v́ các thầy Bà La Môn ở Kerela c̣n một số trắng da, y như Tây, như đă nói, bởi cuộc hợp chủng chưa chấm dứt.

Tại sao giai cấp Bà La Môn ở Kerela c̣n trắng da mà ở Bắc Ấn th́ đă đen? V́ giai cấp ấy đến Kerela truyền đạo sau rốt hết, chỉ lối 2.500 năm nay mà thôi, nên họ c̣n giữ được chủng của họ, c̣n ở Bắc Ấn th́ cuộc chung đụng giữa Mleech'a và Aryen đă xảy ra từ quá lâu đời (5.000 năm) không c̣n ông Bà La Môn nào thoát đen được cả.

Hiện nay, nh́n vào một bức dư đồ phân phối ngôn ngữ, ta thấy dân Mleech'a Dravidien c̣n chiếm được tới một phần ba đất đai Ấn Độ với bốn nhóm ngôn ngữ sau đây: Télégu, Kannara, Tamoul và Malayalam. Ngôn ngữ Tamoul chiếm hết phân nửa khác, dân Tích Lan nói tiếng Bắc Ấn Aryen sai bậy đến nát bét hết.

Đă bảo trừ giai cấp Bà La Môn có xuống Nam Ấn truyền đạo, c̣n giai cấp khác th́ không nhưng sao lại có bọn nói tiếng Bắc Ấn nầy? Đó là phu trồng trà do người Ăng Lê đưa xuống khi họ chiếm Tích Lan vốn là Mă Lai. Người Ấn Độ siêng năng hơn người Tích Lan vốn là Mă Lai, nên Ăng Lê đă dùng phu người Ấn và hiện họ chiếm 50% dân số ở Tích Lan.

(Từ ngày thu hồi độc lập, chánh phủ Tích Lan đă đuổi người Ấn về Ấn, nhưng chánh phủ Ấn lại không nhận dân bị đuổi thành thử dân Ấn ở đó không có quốc tịch v́ dân Tích Lan không cho họ vào quốc tịch Tích Lan).

T́nh trạng của chủng Dravidien y hệt như Việt Nam, tức phải chịu văn hoá Ấn Độ, như ta phải chịu văn hoá Tàu, nhưng giữ được ngôn ngữ. Có khác là họ đă bị nước Ấn Độ của ông Nê Ru thôn tính họ, sau hàng ngàn năm họ độc lập, c̣n ta th́ nay độc lập, sau một ngàn năm bị trị.

Nhưng người ta tiên liệu rằng thế nào rồi họ cũng tách rời ra. Khi một trăm triệu người và khi 1/3 đất đai và dân số muốn ly khai th́ rất khó giữ họ lại trong một nền thống nhứt nhị chủng mà chủng lép vế lại chưa bị đồng hoá hẳn.

Hồi đồng chủng với Ấn, thế mà vẫn c̣n đ̣i ly khai v́ tôn giáo th́ Nam Ấn không có lư do không ly khai v́ họ khác chủng.

Sự kỳ thị chủng tộc kể từ ngày ông Nê Ru cầm quyền, nổi bật lên rơ rệt và được tiếp tục cho đến ngày nay.

Số là thâu thuế th́ các tiểu bang thâu đều và đóng đều cho ngân sách trung ương, rồi trung ương trợ cấp lại cho các tiểu bang để họ chi dụng.

Nhưng hễ tiểu bang nào thuộc chủng Malayalam th́ bị nhận trợ cấp thấp hơn nhu cầu rất xa, khiến dân phải đói. Tại tiểu bang Kerela, dân chúng mộ đạo nhứt nước Ấn Độ, vậy mà có mấy năm họ quá đói nên họ bỏ thăm cử cộng sản lên nắm quyền của tiểu bang.

Ông Nê Ru không biết làm sao giải quyết, bèn bắt bọn dân cử ấy mà hạ ngục hết ráo.

Khi mà lănh đạo Ấn thực thi chánh sách kỳ thị chủng tộc như vậy th́ Mă Lai Ấn Độ tất nhiên phải ly khai khi nào có dịp thuận tiện, và nước Ấn Độ, đă bị lai với Mă Lai rồi, sao cứ c̣n kỳ thị với Mă Lai th́ cũng lạ.

Đạo Bà La Môn là một tôn giáo mềm dẻo, chấp nhận cả thần thánh của các tôn giáo khác để tồn tại và lănh đạo họ trong một cuộc hỗ tương nhượng bộ. Thế nên ngày nay ta mới thấy đạo Bà La Môn thờ thần Shiva, thờ dương vật và âm vật, đó là thần thánh của chủng Mă Lai, tồn tại cả trong xă hội Việt Nam ngày nay nữa chớ không riêng ǵ ở các xă hội theo văn hoá Ấn Độ. Đạo Bà La Môn nguyên thỉ không có thần Shiva cũng không có thờ âm vật, dương vật.

Ca dao và tục ngữ của dân ta đầy dẫy những câu hát tục tĩu và ở nhiều làng c̣n thờ dâm thần, c̣n múa mo, âm vật và dương vật được thay bằng cái mo và cây tre, c̣n gọi con trai là Chày, con gái là Sọt, y hệt như các tiệm tạp hoá ở Ấn Độ bán chày và cối cho dân chúng mua về thờ, c̣n có đám rước âm vật (làng Đồng Kỵ), c̣n chơi tṛ tranh giành Nơn Nường mà dân miền Trung gọi là Lỗ Lường.

Người ta cứ ngộ nhận đó là tục của tù binh Chàm bị Việt hoá, nhưng không phải thế, những tṛ ấy xảy ra ngay tại Bắc Ninh và Phú Thọ, trung tâm văn hoá Lạc Việt, tù binh Chàm chỉ được cho định cư ở các làng quê hẻo lánh để khẩn hoang, chớ đâu được ở Bắc Ninh, Phú Thọ.

Chúng tôi nói rằng Thái cũng là Mă Lai và tục Ném C̣n của họ cũng chỉ là dương vật và âm vật mà thôi.

Trong một đám cưới, ông mai phải cầm trái C̣n (dương vật) ném cho lọt vào một cái ṿng tre bằng giấy mỏng tượng trưng âm vật c̣n màng trinh, ném lọt vào được th́ đám cưới mới cử hành được. Rồi sau đó th́ trai gái trong làng liền tiếp theo chơi cái tṛ chơi ấy, không c̣n tánh cách tôn giáo như khi năy nữa, nhưng cũng cứ là những hành động chúc lành cho đám cưới.

Ta sẽ thấy tôn giáo đồng bóng ở một chương khác, có mặt khắp Đông Nam Á, cũng mang tánh cách đó của chủng Mă Lai, mà Tây phương gọi là tôn giáo Phiền thực (Religion de la fécondité) không bao giờ có trong thánh kinh Phệ Đà.

Hiện tại, người ta thấy xă hội Mă Lai Kerela quá giống xă hội Mă Lai Chàm.

Chàm có câu ca dao:

Đàn ông đi đánh giặc

Đàn bà đi săn sóc con cái

Dân Kerela cũng có một câu ca dao y hệt như vậy và dân Kerela vẫn cứ c̣n theo mẫu hệ, mặc dầu họ trí thức nhứt trong nước Ấn Độ ngày nay. Ở tiểu bang đó, số người mù chữ thấp nhứt nước tức họ giỏi hơn cả chủng Aryen nữa.

Người Chàm tôn trọng chiến sĩ, người Kerela cũng tôn trọng chiến sĩ. Giai cấp chiến sĩ, thuần chủng Malayalam, chỉ kém có giai cấp Bà La Môn là giai cấp Ấn Độ thống trị mà thôi, ngoài ra họ đứng đầu tất cả mọi giai cấp khác.

Nhưng dân Kerela lại không hề có đi chinh phục Chàm bao giờ cả. Họ cũng chẳng có đi khai hoá Chàm. Đó là công việc của một nhóm Ấn khác.

Sự giống nhau ấy là do họ đồng chủng, đồng văn hoá với nhau, tự nhiên mà giống chớ không phải vay mượn. Đành rằng về sau Chàm theo Ấn, nhưng họ đă giống Nam Ấn sẵn rồi, th́ sau đó mới theo văn hoá Ấn.

Các sử gia Pháp viết sử Chiêm Thành đều nói rằng sau Phạm Văn vài đời th́ người của nước Lâm Ấp do dự giữa văn hoá Trung Hoa và văn hoá Ấn Độ. Phạm Văn đă đưa văn hoá Trung Hoa vào nước Lâm Ấp rồi, từ vài trăm năm trước đó.

(Họ do dự được là nhờ độc lập; chớ không bị trị như ta).

Nhưng rốt cuộc th́ họ chọn văn hoá Ấn Độ.

Các sử gia Pháp không cắt nghĩa được sự chọn lựa kỳ dị ấy bao giờ, kỳ dị v́ Chàm đă trót theo văn hoá Trung Hoa rồi, và thấy văn hoá Tàu là cao.

Nhượng Tống làm ta có thể hiểu rằng v́ văn hoá Ấn Độ thời đó đă mang nặng nhiều yếu tố Mă Lai rồi, mà những yếu tố Mă Lai th́ gần gũi với tâm hồn người Chàm, Chàm vốn là Mă Lai.

Tại sao tất cả bao nhiêu thứ dân ấy đều đồng ngôn, đồng sọ, mà chúng tôi không gọi chủng đó là chủng Nhựt Bổn, chủng Thục, chủng Âu hay chủng Thái, hoặc chủng Tạng như Tàu đă gọi, mà lại gọi là chủng Mă Lai, tức lấy Mă Lai làm căn bản?

Là tại tất cả những danh xưng ấy đều chỉ cổ có lối hai ba ngàn năm, c̣n danh xưng Mleech'aMalayalam th́ cổ đến 5.000 năm, tức danh xưng Mă Lai có trước nhứt.

Lại thấy rằng tất cả bao nhiêu ngôn ngữ trên kia đều bắt nguồn từ Tạng ngữ (xin xem Ngôn ngữ tỷ hiệu), và nhiều dân tộc như Khuyển Nhung, Miến Điện, Cao Miên th́ rơ ràng xuất phát từ chơn Cao nguyên Tây Tạng mà họ cũng nói tiếng Mă Lai, ta có thể kết luận rằng Mă Lai chủng xuất phát từ chơn Cao nguyên Tây Tạng, trái hẳn với các sách xưa cho rằng họ xuất phát từ Nam Dương.

Tại sao lại không nói người Tây Tạng là dân Mleech'a hay dân Việt di cư đến Tây Tạng mà lại nói dân nào cũng từ Tây Tạng xuất phát ra? V́ Tây Tạng là một Cao nguyên khô cằn nhứt trong các địa bàn Mă Lai, đất đai c̣n xấu hơn đất Ninh Thuận của ta nữa, th́ không có dân nào lại dại mà di cư đến Tây Tạng.

Tuy nói thế chớ những dân di cư túa ra khắp nơi chỉ là dân sống chung quanh Cao nguyên Tây Tạng chớ không phải là dân của chính Cao nguyên Tây Tạng, như ta sẽ thấy ở các chương khác. Nhưng những vùng đất ở quanh Cao nguyên Tây Tạng cũng chỉ là đất rất xấu.

Tới đây, ta không c̣n phải khó chịu nữa khi nghe ông G. Coedès gọi người Thượng ở Cao nguyên khi th́ bằng danh xưng cổ Mă Lai, khi th́ bằng danh xưng Dravidien.

Ông G. Coedès không bao giờ giải thích tại sao ông dùng danh từ quá xô bồ như vậy, nhưng rơ ra th́ Dravidien Nam Ấn và Thượng là một, tức đồng chủng Cổ Mă Lai với nhau.

Ông G. Coedès đă bác bỏ các nhà ngôn ngữ học, họ cho rằng người Thượng là người Cao Miên.

Không, ngôn ngữ căn bản của người Thượng là Mă Lai ngữ, như ta sẽ thấy, họ chỉ có một số danh từ giống Cao Miên v́ sự gần gũi với một dân tộc văn minh hơn họ mà thôi.

Nhưng người Cao Miên cũng chỉ là Mă Lai như ta đă thấy th́ không thể nói Thượng là phụ chủng của Cao Miên được. Tất cả đều là phụ chủng Mă Lai.

Cũng đừng nên lẫn lộn hai đợt di cư của Mă Lai đi Ấn Độ, nó khác hẳn hai đợt di cư từ Hoa Bắc về thời điểm.

Khi bọn Mă Lai đợt I di cư sang Ấn Độ th́ Mă Lai đợt I ở Hoa Bắc chưa di cư, mà có lẽ cũng chưa tràn sang Hoa Bắc nữa, bằng vào sự vắng bóng dấu vết của họ tại Hoa Bắc.

C̣n trong đợt Mă Lai I di cư từ Hoa Bắc, có một nhóm cũng đi Ấn Độ, nhưng chỉ đến Đông Ấn rồi lại lộn sang Đông phương. V́ sao? V́ họ thấy nơi đó đồng bào của họ đang bị chủng Aryen xâm lăng và đánh đuổi, nên họ không ở lại làm ǵ để phải chịu số phận của đám Dravidien đó.

Hoá ra đợt I Trung Hoa tức là đợt II Ấn Độ.

C̣n đợt II Trung Hoa th́ không bao giờ có đi Ấn Độ cả, có lẽ v́ họ đă biết tin tức là người đồng chủng của họ đă hoàn toàn đại bại và bị đẩy lùi xuống Nam Ấn tất cả rồi.

Chỉ c̣n một điểm không ai biết cả là Mă Lai nằm sẵn lại Hoa Nam có di cư cùng lúc với bọn Mă Lai sang Ấn Độ hay là không.

Ta có linh cảm mà không có chứng tích là họ đi Ấn Độ và đi Hoa Nam đồng lúc với nhau, nhưng họ là hai chi khác nhau chớ không phải một. Linh cảm ở điểm thứ nh́ hơi vững hơn.

Ta đă thấy rằng dân nước Sở nói tiếng Mă Lai Nam Dương.

Mặt khác dân Mă Lai Hoa Bắc đợt I đi Ấn Độ hẳn phải đi t́m bọn đồng ngôn. Thế th́ Dravidien là một thứ người với Mă Lai Hoa Bắc.

Tuy cả hai thứ đều là Mă Lai, đều có một số danh từ chung nhưng vẫn có một số danh từ riêng và bọn nói Chơn phải đi theo bọn nói Chơn, tức Dravidien và Mă Lai Hoa Bắc nói Chơn, Hoa Nam và Nam Dương nói Cẳng.

Chính v́ hai thứ Mă Lai đó khác nhau nên khi rời gốc tổ là Hi-Malaya một đàng sang Tây, một đàng sang Đông. Vậy là bọn gọi là đợt II ở Hoa Nam di cư đến Trung Hoa trước bọn đợt I, và đồng lúc với bọn đi Ấn Độ.

Nhưng ở Trung Hoa họ không văn minh cao như ở Ấn Độ.

Ta cần xét lại thuyết của giáo sư Kim Định lần cuối cùng bằng cách nghiên cứu hẳn chủng Miêu, coi chủng ấy có dính dáng ǵ đến chủng Việt chăng để ông đặt tên là Viêm và định nghĩa rằng:

Viêm =                       Miêu + Việt, và

Tàu Hoa Bắc =          X + Miêu + Việt

Cũng trong dịp nầy, ta có thể bác bỏ luôn ông Lê Chí Thiệp và ông Nguyễn Bạt Tuỵ về nguồn gốc của dân ta.

Miêu không phải là một dân tộc mà là một chủng rất lớn có mặt ở khắp nơi trên đất Tàu, nhưng không có mặt ở đâu nữa hết, trừ các nhóm di cư đến thượng du Bắc Việt và Bắc Ai Lao cách đây mấy trăm năm.

Giáo sư Kim Định cho rằng một chủng tộc tên là Viêm = Việt + Miêu.

Chúng tôi ngạc nhiên lắm mà thấy các nhà học giả ta căi nhau lung tung về các chủng tộc, nhưng không hề có ai dùng chứng tích chỉ số sọ cả, mà đó là chứng tích độc nhứt không thể chối căi được. Có lẽ v́ tài liệu khó t́m, có thể có vị không biết rằng tất cả các chủng tộc ở Á Đông đều được đo sọ cả rồi nữa cũng nên.

Ngoài cái vụ Viêm tộc không hề có, nhiều nhà trí thức khác cũng nói người Miêu, người Dao là người Việt.

Ông Lê Chí Thiệp cũng đă dựa vào cổ sử Trung Hoa để chủ trương như vậy, trong khi chúng tôi đă nói nhiều lần rằng chỉ có khoa chủng tộc học mới là đưa tới kết quả không sai lầm mà thôi. Khoa nầy chứng minh rằng Miêu và Dao đồng chủng với nhau và khác Việt, c̣n ông Lê Chí Thiệp th́ lại nói Dao và Việt là một. Ông Lê dựa vào cổ sử Trung Hoa, cổ sử ấy cho biết rằng người Dao búi tóc, ông chủ trương rằng họ là người Giao Chỉ, chủ trương đó cần được soát lại. Cái búi tóc chỉ là yếu tố văn hoá, dân nầy có thể vay mượn của dân khác. Ngôn ngữ học và việc đo sọ mới là cái ǵ có tánh cách vững chắc.

Một bức ảnh trong chương nầy cho thấy người Dravidien ở Nam Ấn búi tóc y hệt như các cụ V.N. Ở chương Mă Lai chủng, chúng tôi có tŕnh ra chứng tích rằng Dravidien là Mă Lai đấy, nhưng không phải từ Trung Hoa mà đến Ấn Độ. Thế là có rất nhiều nhóm Mă Lai búi tóc chớ không riêng ǵ dân Dao và dân Việt.

Có hai thứ người Dao mà Trung Hoa viết khác nhau, nên các tự điển ta cũng viết khác nhau: Dao và Giao.

Dao, Tàu viết với bộ Khuyển và chữ Miêu (và gần đây họ thay bộ Khuyển trịch thượng đời xưa bằng bộ Ngọc (hay Vương). Dao đó thuộc Miêu tộc, có một số có di cư đến thượng du Bắc Việt mà ta gọi là Mán nầy, Mán nọ.

Thiếu phụ Mạ ở buôn CAMOUNG đang dệt vải. Có sọ Mă Lai và ngôn ngữ Mă Lai, tuyệt đối không phải Cao Miên như sách Tây đă viết. Người nầy xinh như một thiếu phụ Việt có nhan sắc bực trung, c̣n phụ nữ Cao Miên th́ xấu xí hơn nhiều.

ẢNH ĐỐI DIỆN. Một buổi họp việc làng ở Nam Ấn Độ sau ngày độc lập. Người Nam Ấn thuộc chủng Dravidien, tức chủng Mă Lai đă bị lai giống với Ấn Độ một phần. Xin đặc biệt chú ư đến hai búi tóc của hai cụ bô lăo, y hệt như búi tóc Việt Nam. Có hàng chục nhóm Bách Việt để búi tóc và búi tóc không phải là biệt sắc cần theo dơi.

 

C̣n Giao th́ viết ba cách:

1.      Giao, như giao thiệp, đó là chữ dùng cho Giao Chỉ, v.v.

2.      Bộ Trùng, đó là dân Giao của quyển Sơn Hải Kinh, thứ dân sợ con giao long, nhưng sách đó không cho biết dân đó ở đâu một cách đích xác.

3.      Bộ Ngư, đó là dân Giao cũng cứ của Sơn Hải Kinh, chỉ một thứ dân nửa cá nửa người, sống dưới đáy biển, trồi lên buôn bán với người và khóc ra những giọt lệ biến thành hạt trai.

Cả hai thứ Giao đó, đều không c̣n, không thấy ghi trong các sách địa lư của Trung Hoa ngày nay, có lẽ v́ không bao giờ có họ.

Và chính dân Giao ấy không búi tóc mà phải xén tóc ngắn, cả hai đều sống dưới nước, nếu quả có họ.

Ông Lê Chí Thiệp viết với chữ D th́ tức là nói đến người Dao hiện c̣n mà ta gọi là các thứ Mán.

Thật thế, ông lại đưa chứng tích ngôn ngữ th́ chắc chắn là người Dao của ông phải c̣n và đó là người Dao chữ D vậy, nhưng họ lại thuộc Miêu chủng. Như thế th́ ông Lê Chí Thiệp đồng chủ trương với giáo sư Kim Định:

Viêm=Việt+Miêu

Theo hai khoa chủng tọc học (đối chiếu sọ) và ngôn ngự tỷ hiệu th́ Dao thuộc chủng Miêu.

Tàu nói có Tam Miêu nhưng thật ra có đến Ngũ Miêu chia ra như sau:

Hmong

Hmub

Hmoob

Hmao

Hyao

Trong 5 chi, chỉ có 2 chi là có di cư tới Việt Nam cách đây vài trăm năm dưới h́nh thức xâm lăng đẫm máu.

Đó là chi Hmong mà người Việt Nam phân biệt như sau:

Mèo đen,

Mèo trắng

Mèo rằn … v. v. …

và chi Hyao mà người Việt Nam phân biệt như sau:

Mán tiền

Mán quần Cộ

Bán đại bản … v. v…

Lối phân chia chủng tộc của ta rất giống Tàu, tức căn cứ trên những thứ bá láp như là màu sắc y phục, nữ trang (Mán tiền). Người Tàu họ nghiên cứu chủng tộc học về người Dao và nói rằng người Dao gốc người Mân Việt.

Đây là phân biệt theo địa bàn. Ở Mân Việt cổ thời có đến ba bốn chủng tộc mà phân biệt như thế cũng không hơn ǵ ta phân biệt dựa trên quần áo, tức không c̣n biết đâu là đâu nữa.

Vậy cứ xin tŕnh ra biểu chỉ số sọ của Miêu chủng, quí vị sẽ đối chiếu chỉ số sọ của các chủng khác ở Á Đông th́ sẽ biết họ có là Việt Nam hay không, hay là ai.

Dưới đây là bản chỉ số sọ của người Miêu mà quí vị sẽ đối chiếu với các bản chỉ số sọ của người Mă Lai, người Trung Hoa và người Việt Nam ở một chương sau. Miêu với Việt khác nhau, không thể là hai nhánh của Viêm tộc nào hết.

Tên nhà bác học khảo sát

Tên dân được đo sọ

Chỉ số sọ

Mèo, tức chi I của Miêu chủng

Savina

Bonifacy

Bonifacy

Mèo, tức Hyao, chi V của Miêu chủng

Bonifacy

Girand

Deniker

Madrolle

 

Miêu tộc tổng quát

Mèo Cao Bằng

Mèo Đông Quang

 

Mán Bảo Lộc

Mán Pấn-Yi

Mán tổng quát

Mán Tuyên Quang

Chỉ số trung b́nh

 

80,60

75,80

80,20

 

78,40

---

78,70

80,90

78,24

Chỉ số sọ của họ khác chỉ số sọ người Hoa Nam một đơn vị y như ta khác Cao Miên một đơn vị th́ có thể là đồng chủng, nếu các món khác có giống nhau. Nhưng các món khác nơi người Miêu không giống người Hoa Bắc hay Hoa Nam ǵ hết.

Miêu chủng không mang lấy một yếu tố Mông Gô Lích lớn hay nhỏ nào cả như Việt Nam, Cao Miên, Chàm đă mang, c̣n sọ Miêu th́ lại khác sọ Việt đến bốn đơn vị.

Hoa Bắc chỉ khác Hoa Nam có hai đơn vị mà khoa học đă xem là hai chủng khác nhau th́ bốn đơn vị có là dấu vết của sự lai căn được chăng? Hẳn là không.

Đó là về nhơn thể tính. Ta thử xét qua các điểm khác có thể xem là tương đồng Hoa Miêu (Hoa Miêu chớ Việt Miêu th́ tuyệt đối không có điểm tương đồng nào cả).

Họ có một huyền thoại về nguồn gốc của họ, giống của Trung Hoa, nhưng xét ra th́ họ chỉ vay mượn để chưởi dân Trung Hoa mà họ căm thù.

Nên nhớ rằng vật tổ của dân Mông Cổ là con chó sói.

Hậu duệ của Mông Cổ là người Tần cổ sơ cũng thờ vật tổ là con chó Đại bản, tuy chỉ là con chó thường, nhưng nặn tượng bằng đất, họ để con chó ấy ngồi đưa mơm lên trời trông giống con chó sói đang tru.

Nhưng từ đời Hán đến giờ th́ họ không thờ nữa, con chó Đại bản chỉ c̣n là vật trang trí bằng đất tráng men gắn trên nóc nhà hay đặt trước sân các đền, miếu mà thôi.

Người Miêu mượn chó Đại bản để thờ nhưng kể sự tích như thế nầy:

Vua Trung Hoa đánh giặc măi mà cứ thua hoài, bèn rao lên rằng ai mà lui giặc được th́ gả công chúa cho, và chia cho nửa nước.

Con chó Đại bản tới xin quân dẹp giặc và thành công.

Vua Tàu bèn thí công chúa cho nó, c̣n nước th́ ông ta ăn gian, thay v́ chia phân nửa trên mặt đất, ông ta lại chia phân nửa trên không trung, thế nên ngày nay người Miêu chỉ ở trên núi, c̣n người Tàu th́ ở đồng bằng.

Như đă nói, xưa kia Miêu và Lạc làm chủ nước Tàu, trước khi người Tàu đến. Nhưng thay v́ di cư như chủng Việt, họ rút lên núi mà sống từ năm ngàn năm nay, cho đến nỗi lối sống đó biến thành phản ứng sinh lư nơi họ, ngày nay họ xuống đồng bằng là mắc bệnh tức th́.

Thấy rơ rằng họ không có chung vật tổ thật sự mà Miêu chỉ mượn vật tổ để chưởi Tàu cướp đất và có con gái gả cho chó.

Họ không có nét Mông Cổ nào hết để nghĩ rằng sở dĩ họ thờ chó v́ họ cũng có lai giống với Mông Cổ.

Chưa ai cắt nghĩa được nguồn gốc, ư nghĩa của danh xưng Miêu một cách ổn thoả cả. Thuyết cho rằng ngôn ngữ Miêu giống tiếng mèo kêu, thuyết ấy bị Guy Moréchaud bác bỏ rất có lư rằng chính tiếng Tàu giọng Hoa Nam mới có 6 thanh c̣n tiếng Miêu th́ chỉ có hai thanh th́ lẽ ra người Miêu phải gọi Trung Hoa là Mèo mới đúng.

Ông P. Le Convreur có thử giải thích ư nghĩa của danh xưng Miêu bằng vào tự dạng, Thảo đầu và Điền. Ông nói, đó là dân làm ruộng rất dở, không biết làm sạch cỏ trong ruộng, giải thích nầy phù hợp với quan sát của các nhà dân tộc học Âu châu về người Miêu là măi cho tới ngày nay họ vẫn trồng trọt dở hơn là chăn nuôi. Và như đă nói, họ khác ta về phản ứng sinh lư nữa chớ không riêng ǵ về sọ: họ ở trên núi cao được, c̣n ta và Tàu th́ không.

Chúng tôi đọc nhiều sách cho một vấn đề, một dân tộc, và cho mỗi dân tộc, chúng tôi chọn một quyển làm tài liệu chủ lực. Về chủng Miêu th́ chủ lực là quyển “Le chamanisme Hmong” của Guy Moréchand.

Ông Guy Moréchand ghi chép bằng chữ La-tinh hằng lô những câu đối thoại, những lời khấn vái của họ, nhưng chúng tôi không t́m được danh từ nào hơi giống tiếng Việt như là Chàm đă giống, hay Cao Miên, hay Thái đă giống.

Về ngôn ngữ, ông Lê Chí Thiệp dựa vào Prozyluski cho rằng ngôn ngữ Miêu cùng nhóm với ngôn ngữ Thái mà Thái ngữ lại giống Việt ngữ, ông Lê Chí Thiệp không có nói ra điều chắc chắn nhưng ta phải hiểu rằng ông ngầm cho Miêu ngữ đồng nhóm với Việt ngữ nhờ trung gian Thái ngữ. Nhưng Guy Moréchand, tác giả quyển Le chamanisme Hmong, quyển sách đồ sộ nhứt về Miêu tộc mà chúng tôi dùng làm tài liệu chủ lực cho chương nầy th́ lại quả quyết rằng Prozyluski đă lầm và ngôn ngữ Miêu, Dao không hề dính líu ǵ về ngôn ngữ Thái cả. Ông Guy Moréchand v́ nghiên cứu tôn giáo Miêu tộc, bắt buộc phải học ngôn ngữ của họ để hiểu những lời khấn vái, và ông làm việc ngay tại Quư Châu địa bàn chung của Miêu và Thái, nên ông lại phải học tiếng Thái v́ người Thái có buôn bán, c̣n người Miêu th́ không.

Thành thử không là nhà ngôn ngữ chánh hiệu, ông vẫn để dành nhiều chương sách cho ngôn ngữ Miêu, Dao, Thái. Hơn thế, ông c̣n nói rằng Prozyluski đă lầm.

Ông Lê Chí Thiệp dựa vào Prozyluski nói trên viết: “Không thể cắt nghĩa một cách hợp lư chỗ tương đồng giữa hai ngôn ngữ trên đây (Miêu và Việt Thái) nếu không nh́n nhận sự đồng chủng của hai dân tộc”.

Cái tương đồng mà ông Lê Chí Thiệp nói đến là tương đồng ngữ pháp.

Ta không kể Guy Moréchand v́ ông ấy cũng có thể sai và cứ xem như là ông Lê Chí Thiệp nói đúng, nhưng có một nguyên lư nầy về ngôn ngữ học áp dụng vào chủng tộc học, là hai dân tộc có ngữ pháp y hệt như nhau, không cứ là đồng chủng mà cho cả đến việc đồng ngữ pháp và ngữ vựng với nhau cũng không cứ là đồng chủng, lịch sử nhân loại đă cho nhiều thí dụ về các dân tộc bỏ ngôn ngữ của ḿnh lấy ngôn ngữ của chủng khác v́ áp lực hoặc v́ cảm t́nh như trường hợp Thái Khorat mà chúng tôi đă dẫn ở chương Ngôn ngữ.

Nhưng sự thật th́ Prozyluski đă lầm, hai ngữ vựng Miêu, Dao và Việt, Thái không có trùng hợp với nhau như Việt, Thái, c̣n thanh th́ Miêu chỉ có hai thanh.

Sau 1945, một nhà bác học Nga có đến Quư Châu để nghiên cứu Miêu Thái. Ông ấy đă xác nhận Guy Moréchand: Prozyluski đă lầm, Thái ngữ và Miêu ngữ không có liên hệ nhau. V́ sống chung nhau họ có vài danh từ giống nhau, nhưng đó chỉ là Thái Quư Châu, c̣n Thái ở các nơi khác th́ không, mà ở Quư Châu cũng chỉ giống nhau có vài chục danh từ mà thôi.

Vậy xin bác bỏ một lần nữa chủng Viêm của giáo sư Kim Định.

Trong bài tựa quyển Hành tŕnh vào dân tộc học của giáo sư Lê Văn Hảo, giáo sư Nguyễn Bạt Tuỵ lại gọi dân ta là dân Giao viết với Gi, và ông phân biệt Giao Chợ, tức Việt Nam và Giao Mường, tức người Mường.

Chủ trương của ông Nguyễn Bạt Tuỵ chắc dựa vào tài liệu Tàu như của ông Lê Chí Thiệp, chỉ có khác là giáo sư họ Nguyễn viết chữ Giao khác hơn.

Không rơ giáo sư họ Nguyễn lôi kéo ta vào Giao nào. Nhưng dầu sao cũng không phải vào Dao với chữ D nó tả một chi của Miêu tộc.

Hiện nay người Miêu c̣n sống dưới chế độ chưa phân công, tức một cá nhơn vừa làm nông nghiệp vừa chăn nuôi, vừa làm thợ mộc, thợ rèn, v.v. Như thế là quá kém, kém hơn cả người Thượng ở Cao nguyên, th́ cách đây 5.000 năm, họ không thể là thầy của Tàu được.

Mấy trang ngắn trên đây, cho ta biết thật đúng về chủng Miêu để cho phép ta gán ghép họ với các chủng khác. Tuy sự khác biệt chỉ số sọ của họ với Trung Hoa chỉ có một đơn vị th́ có thể xem họ là một phụ chủng Tàu, nhưng cơ thể của họ lại chẳng có mang yếu tố Mông Gô Lích nào cả, và cơ thể Tàu cũng chẳng có mang yếu tố Miêu nào cả.

Ngôn ngữ th́ như thế đó, tức không có lấy một tiếng Tàu, một tiếng Việt nào cả trong Miêu ngữ.

Nghiên cứu của ông G. Moréchand không phải là không được các nghiên cứu khác xác nhận và đó là những ǵ mà ta đă phải biết rơ mà có lẽ Mộng Văn Thông và Chu Cốc Thành cũng đă biết thật rơ.

Như vậy th́ không hề có một chủng tên là Viêm gồm Miêu và Việt được.

Ở trang 405 giáo sư Kim Định cho rằng chỉ có một chủng mà ba thời đại được gọi tên khác nhau: Viêm là tên thái cổ, Miêu là tên thượng cổ, Việt là tên cổ và tên kim.

Nhưng cái sọ và ngôn ngữ th́ như thế đó, sọ Việt là sọ Mă Lai, ngôn ngữ cũng thế.

Dân Giao bộ Ngư có thể là dân Hợp Phố bị huyền thoại hoá, mà ta sẽ thấy rằng dân Hợp Phố là Mă Lai đợt II, nói thứ ngôn ngữ của người Nam Dương.

C̣n dân Giao bộ Trùng có thể là dân Việt ở gần Hồ Động Đ́nh, ở đó có con giao long. Dân nầy cũng đă bị huyền thoại hoá. Nhưng không có tài liệu nào để nối kết nhóm Việt đó với ta hết. Cứ xem Tả Truyện th́ biết dưới thời Xuân Thu ở đó có rất nhiều quốc gia Việt thuần chủng.

Nếu chỉ dựa vào chữ nghĩa th́ cả ba chữ Giao đều viết khác nhau, tức cũng chẳng có dây liên hệ nào giữa ba tự dạng đó.

Vậy Miêu, Dao hay Giao ǵ cũng phải bị loại ra hết cả, v́ Giao có thể không có bao giờ, c̣n Dao chỉ là Hyao, một chi của Miêu chủng mà ta gọi là Mán, mà Miêu th́ lại có cái sọ khác ta đến bốn đơn vị.

Ở chương tới chúng tôi sẽ tŕnh ra những dấu vết Mă Lai trong xă hội Việt Nam hiện kim mà quan trọng nhứt là sự đối chiếu sọ và ngôn ngữ Mă – Việt – Hoa.

Nhưng trước khi tŕnh ra những chứng tích khoa học, chúng tôi cũng xin tŕnh ra những chứng tích kém khoa học hơn, những chứng tích gián tiếp mà chúng tôi đă dùng, trước khi t́m được sách đo sọ của nhóm bác sĩ Huard và sách tóm lược kết quả khảo tiền sử ở toàn cơi Á Đông của ông G. Coedès.

Những chứng tích gián tiếp ấy, chắc không được khoa học và dân chúng tin bao nhiêu, nhưng nó vẫn đưa chúng tôi đến cái sự thật là Việt = Mă Lai.

Chúng tôi đă có chứng tích gián tiếp ấy từ lâu rồi, nhưng không dám viết ra thành sách v́ biết rằng khoa học và dân chúng không tin bao nhiêu. Nhưng giờ đă nắm được cái ǵ thật vững hơn, chúng tôi cũng tŕnh ra cái ít vững, để cho thấy rằng khi mà cái ít vững lại rất hữu lư th́ nó cũng là sự thật được chớ chẳng không.

Nếu muốn t́m một câu trong cổ thư Trung Hoa viết rằng:

Việt = Mă Lai

chắc không ai t́m được, v́ cái lẽ giản dị là câu đó không có trong sách nào hết. Nhưng lại có rất nhiều câu khác đưa ta đến kết luận ấy, và nếu nhà bác học Trung Hoa Lăng Thuấn Thanh không xác nhận rằng Việt thuộc chủng cổ Mă Lai, chúng ta cũng có thể biết được cái chủng của dân Việt như thường.

Chúng tôi khám phá ra điều nầy trước khi đọc Lăng Thuấn Thanh, vả lại họ Lăng chỉ khẳng định Việt = Cổ Mă Lai, chớ không chứng minh được mà khẳng định th́ bất kỳ ai cũng có thể khẳng định bất kỳ điều ǵ.

Khi qua các mê đạo của những sách Tây, Tàu, chúng tôi lượm được những viên ngọc quư sau đây:

Các sách dân tộc học Âu Mỹ và chính cả người Nhựt cũng xác nhận bằng lời với ta là hiện nay những ông già bà cả của họ c̣n có người xâm ḿnh, răng nhuộm đen. Đó là tục rất cổ của họ mà lớp tuổi trẻ đă bỏ, y hệt như trong xă hội Việt Nam.

Quyển sử Nguỵ chí của Trung Hoa (đời Tam quốc) lại tả người Nhựt có tục Văn thân.

Khoa khảo cổ Nhựt t́m thấy trong những ngôi mộ cổ bên Nhựt, những h́nh người bằng đất ung, mặc áo cài nút về bên trái (Tả nhậm).

Như vậy Nhựt Bổn mang đến ba biệt sắc của chủng Việt, là Văn thân, tả nhậm và nhuộm răng đen.

Trên thế giới chỉ có hai dân tộc là có tục Harakiri, đó là dân của Câu Tiễn và dân Nhựt Bổn.

Mặt khác, khoa khảo cổ cho biết tánh cách Mă Lai của người Nhựt đầu tiên, mà không phải là bất kỳ Mă Lai nào. H́nh nhà khắc ở lưng gương đồng cổ thời của người Nhựt giống nhà Đông Sơn.

Hiện nay người Nhựt cũng c̣n ở nhà sàn, mà đó không phải là phát minh mới, mà là theo tục cổ của chủng Mă Lai, thấy được trong gương nói trên.

Người Nhựt cổ thời ở nhà sàn chớ không phải là ở nhà trên lỗ huyệt như các nhà khảo cổ của họ đă lầm. Lối kiến trúc Lập huyệt chi gia mà họ t́m thấy dấu vết, không phải là của dân tộc họ thời thượng cổ, mà của dân tộc khác, có lẽ là của người Aino.

Nhà bác học Hoà Lan P.V. Van Stein Callenfels lại t́m thấy dấu vết Mă Lai trong vật dụng cổ thời trên đất Nhựt mà chính nhà bác học Nhựt Bổn Matsumoto đă t́m được sự giống nhau giữa Nhựt ngữ và Mă Lai ngữ, và dây liên hệ giữa thần thoại Nhựt và thần thoại Mă Lai.

Ở một chương sau chúng tôi sẽ cho đối chiếu một mớ danh từ Việt Nam và Nhựt Bổn mà chúng tôi học được ở Sài G̣n. Chúng tôi đă đối chiếu xong một lần ở danh từ .

Như vậy là có đến sáu bảy cái khoen nối kết giữa Việt, Nhựt và Mă Lai, và ta có thể bằng vào những cái khoen ấy để viết ra tam đoạn luận sau đây:

Nhựt = Việt

Nhựt = Mă Lai

Vậy Việt = Mă Lai

Ta không thể viết cái tam đoạn luận ấy cho ta, v́ ta chưa t́m được dây liên hệ nào hết, trong chương nầy. Nhưng ta sẽ viết mạnh tay hơn, ở chương khác, v́ ta sẽ t́m được nhiều cái khoen nối kết hơn trong xă hội Việt Nam, nhứt là việc đối chiếu sọ.

Đây chỉ là một sự thoáng thấy của chúng tôi mà chúng tôi không dùng để làm chứng tích lớn.

Cũng nên biết rằng nhờ độc lập nên người Nhựt họ tự khảo tiền sử và khảo cổ sử của họ, chớ không có nhờ Âu Mỹ như ta. Nhưng thuở họ mới làm công việc ấy, v́ chưa thấm nhuần nổi tinh thần khoa học, nên họ làm những công việc ấy rất ngây thơ. Hễ đào được bất kỳ cái ǵ ở dưới ḷng đất, họ đều cho đó là của tổ tiên họ, thí dụ như lối kiến trúc “Lập huyệt chi gia” nói trên đây là một.

Về cổ sử họ làm cũng rất buồn cười. Nhân loại tiến lên qua nhiều giai đoạn, nhưng không phải dân tộc nào cũng qua đủ cả các giai đoạn, mà có rất nhiều dân tộc đốt bỏ một vài giai đoạn.

Họ học lịch sử tiến hoá của nhân loại với Âu Mỹ, và tự nhiên trong bài học người dạy phải đưa ra đầy đủ tất cả mọi giai đoạn.

Thế rồi về nước, viết cổ sử cho họ, họ quả quyết rằng tổ tiên của họ có qua đầy đủ các giai đoạn, đúng y theo những bài học tổng quát mà họ học được.

Họ lại không biết tổ tiên họ chỉ mới di cư đến Nhựt không lâu, nên họ nói chuyện thời ăn lông ở lỗ của họ tại đất Nhựt, trong khi thời ấy xảy ra tại Hoa Bắc và Hi-Malaya.

Những khám phá của ông Matsumoto là những khám phá mới đây mà họ đă thấm nhuần tinh thần khoa học được rồi.

Trên đây là toán học, nhưng không phải là máy móc v́ mỗi yếu tố tam đoạn luận gồm sáu vế, đều đă được chứng minh một cách không thể căi, và rồi sẽ c̣n nhiều chứng minh nữa chớ không phải chỉ có bấy nhiêu đó mà thôi.

Thí dụ, chúng tôi sẽ chứng minh rằng tô-tem của Lạc Việt là Nai chớ không phải là Chim như toàn thể thế giới khoa học đều viết.

Mà hiện nay, cố đô Nại Lương của Nhựt Bổn rất nổi danh về đạo binh nai thần, mà họ nuôi một cách trịnh trọng y như là người Ấn Độ nuôi ḅ làm vật tổ.

Các du khách vừa đến phi trường Đông Kinh là thấy cả một thị trường tượng nai, nai bằng lụa dồn g̣n, bằng gỗ, bằng đồng, bằng sơn mài.

Tại sao bán kỷ vật cho du khách, họ không bán con vật nào khác mà chỉ bán con nai, hoặc thường bán con nai?

Tất cả những kiểu trang trí ở Nhựt Bổn, nếu không bắt chước Tàu như Rồng, Phượng, Mai, Trúc, v.v. đều là h́nh nai.

Thế th́ quyển sách của ông G. Coedès, chúng tôi nói là cần thiết, nhưng không có sách đó, ta cũng đi tới được kết luận:

Việt = Mă Lai

như thường.

Nhưng sự thật đó, chỉ nhờ cổ sử Tàu viết khá rơ, chớ với các dân tộc khác mà Tàu không biết, không nói đến, th́ khoa khảo tiền sử vẫn đứng đầu v́ cái lưỡi ŕu có tay cầm và lưỡi ŕu h́nh chữ nhựt là bằng chứng cụ thể hơn nhiều.

Hơn thế lại c̣n sọ Cổ và sọ Kim nữa.

Khoa khảo tiền sử cho biết nhiều hơn bất kỳ những ráp nối đối chiếu phiền phức nào, nhưng chúng tôi đă thử làm chơi để đi đến kết luận Việt = Mă Lai, mà không cần khoa đó, hay nói cho đúng, làm trước khi đo sọ, và trước khi t́m được sách đo sọ để khỏi phải tự đo lấy.

Ngoài ra, c̣n có một phương pháp nữa mà chúng tôi cũng đă theo, như đă nói, đó là phương pháp mà khoa học đ̣i hỏi đối với nên văn minh Đông Sơn: t́m những cái khoen trung gian, nối kết Đông Sơn, Lạc Việt xưa và Việt Nam nay.

Chúng tôi đă tóm, và sẽ tŕnh kết quả ở chương kế tiếp chương nầy, lấy tên là “Dấu vết Mă Lai trong xă hội Việt ngày nay”.

Như đă nói, chuyện Đông Sơn là chuyện quá trễ về sau, đối với nguồn gốc tổ tiên ta mà các sử gia ta lại cứ dừng bước tại đó là sai nguyên tắc làm việc. Nhưng khi đă dừng bước tại đó th́ cũng nên làm việc cho có khoa học, tức t́m cho được những cái khoen nối kết mà khoa học đ̣i hỏi.

*

*       *

Cho đến năm 1927 mà giới khoa học c̣n chưa biết Việt, Mă Lai, Cao Miên và Thái đồng chủng, chớ đừng nói biết họ đồng gốc Mă Lai mà ra. Và cả cho đến nay, cả những nhà bác học không theo dơi các cuộc nghiên cứu cũng không biết rằng Cao Miên, Mă Lai và Việt đồng chủng nữa.

Năm 1927, một câu chuyện ngộ nghĩnh xảy ra, làm ngẩn ngơ giới bác học Âu châu làm việc tại “Đông Dương”.

Số là người ta t́m thấy, dưới hầm sâu 2th20 của trung điện của ngôi đền Chau Sau Têvoda, thuộc Angkor, một bộ xương của một người đàn bà c̣n nguyên. Theo ông Parmentier th́ người đàn bà ấy không thể sinh ra trước thế kỷ 12, v́ ngôi đền chỉ cất vào thế kỷ 12 mà thôi. Bà ta cũng không thể là người Cao Miên bởi người Cao Miên hoả táng, th́ không thể c̣n bộ xương nguyên được.

Và theo ông Malleret th́ người Thái đă cai trị vùng đó cho tới năm 1927.

Người ta tạm kết luận rằng đó là một người Thái thường dân đi ăn trộm vàng, bởi các tục của Cao Miên chôn vàng ở hầm trung đường, và chôn một cách vĩnh viễn. Kẻ trộm bị chết v́ rủi ro nào đó không biết được.

Bà Genet-Varein nghiên cứu sọ của người ấy và thấy rằng người ấy thuộc chủng Mă Lai!!!

Giới bác học ngẩn ngơ v́ vào năm đó, chủng Mă Lai được đo sọ rồi, c̣n việc đo sọ của dân Thái th́ cho măi đến năm 1931 mới biết được kết quả. Người ta tự hỏi làm thế nào mà một người Mă Lai xa xôi lại đơn độc vào một ngôi chùa tại một nước xa lạ được, hầu toan ăn trộm vàng, để phải chết v́ tai nạn?

Chỉ sau 1931 th́ ánh sáng mới rọi vào câu chuyện khó hiểu đó, v́ người ta khám phá ra rằng sọ Mă Lai, sọ Việt và sọ Thái giống hệt nhau, và kẻ trộm, chỉ là người Thái, mặc dầu y có sọ Mă Lai.

*

*       *

Đây là đặc điểm về nhân thể tính của chủng Mă Lai, nó cắt nghĩa được vấn đề rất khó tiêu hoá cho một số người Việt Nam ta, là nguồn gốc Mă Lai của tổ tiên ta.

Ta cứ thấy những Mă Lai sậm màu da, theo văn minh Ấn Độ, có vẻ khác ta, nên khó nhận rằng tổ tiên ta là Mă Lai. Văn hoá biến đổi con người rất kỳ dị như đă nói ở một chương trước.

Khía cạnh nhơn thể tính và chủng tộc học kia mới đáng cho ta dùng làm chứng tích.

Dưới đây là định nghĩa của nhà nhân thể học, kiêm chủng tộc học H.V. Vallois, thường được trích dẫn ở Âu châu, ông ấy là tác giả quyển “Les races humaines” được xem là quyển sách có uy tín về khảo cứu các chủng tộc: “Chủng tộc Cổ Mă Lai tức Anh-Đô-Nê-Diêng rất đặc biệt ở cái điểm nầy là những đặc tính vi tế làm cho chủng ấy khác với ba nhóm chủng lớn: đen, vàng và trắng, những đặc tính ấy biểu lộ ra rất mong manh”.

Nói nôm na ra th́ chủng Mă Lai hơi vừa giống Tàu, lại hơi vừa giống Tây, mà cũng hơi vừa giống các thứ người đen. Nó ở lưng chừng giữa ba chủng kia, không khác biệt nhiều với cả ba chủng ấy như là ba chủng ấy khác biệt với nhau. Một chủng tộc như thế th́ nói nó giống với ai cũng được cả.

Thế nên, các nhà chủng tộc học không ngạc nhiên chút nào mà thấy ở Bắc Sơn và Hoà B́nh sọ người Cổ Mă Lai nằm chung với sọ da đen, với sọ người Mông Gô Lích, v.v. Chủng Mă Lai có khuynh hướng hợp chủng v́ nó tự thấy nó không khác ai bao nhiêu.

Cứ xem con gái Việt Nam lấy chồng th́ đủ biết: Tàu, Ấn Độ, Mă Lai, người đen Phi châu, người Á Rập, người Âu, người Mỹ ǵ họ cũng vui ḷng kết hôn hết thảy, đó là không kể vô số những cuộc lấy nhau mà không kết hôn.

Theo ông G. Willoquet một nhà địa lư học th́ hiện nay không c̣n chủng Mă Lai thuần chủng nữa v́ cái khuynh hướng dễ hợp chủng của họ.

Các nhà chủng tộc học Huê Kỳ đếm được 70 mẫu người Mă Lai bị lai giống như vậy.

Đó là định nghĩa tổng quát, súc tích, dành cho các nhà bác học. Định nghĩa thông thường là chủng Mă Lai có:

1.      Tóc dợn sóng chớ không thẳng như tóc của Hoa chủng, cũng không quăn quíu như tóc của hắc chủng.

Đó là tóc của dân da trắng rồi vậy.

2.      Mặc dầu vậy chủng Mă Lai cũng có tánh cách da vàng hơn là da trắng, nên chi khoa học mới sắp loại nó trong các chủng da vàng.

3.      Và nhứt là không có chủng nào biến thành chủng da trắng được hết mà sách Tàu đă nói và giáo sư Kim Định đă chép lại về một nhóm sang Tây làm tổ tiên da trắng một nhóm sang Đông làm tổ tiên da vàng.

4.      Quan niệm rằng nhân loại đồng gốc, nay đă thấy sai rồi, mỗi nhóm trắng, vàng, đen có những đặc điểm khác nhau và nhóm nầy không biến thành nhóm kia được.

Những nhóm lai căn trung gian cũng phải làm trắng hay làm đen tuỳ yếu tố. Thí dụ người Ấn Độ da thật đen nhưng vẫn được xem thuộc chủng da trắng v́ các yếu tố trắng trong dân tộc Ấn quá nhiều, đè nặng lên yếu tố lai căn của Dravidien vốn là Mă Lai da vàng, lai với Mê-la-nê.

Trong khi đó th́ Trung Hoa bị xem là da vàng v́ yếu tố vàng của Mông Cổ lấn lướt yếu tố trắng của Nhục Chi. Mà như vậy cho đến muôn vạn kiếp, chớ Trung Hoa sẽ không có mũi cao và mắt đục như Nhục Chi được, mà Ấn Độ cũng không thể mất mũi cao và râu quai nón của họ được.

Màu da của Mă Lai th́ vàng, chớ không đen. Nhưng trên thực tế th́ họ lại hơi đen, v́ khi mất địa bàn Trung Hoa, họ Nam thiên xuống quá gần xích đạo, màu da họ sậm lại. Nhưng vẫn không đen. Đó là cái màu mà Pháp gọi là gris cuivré.

Sau đời Hán th́ các vua Trung Hoa luôn luôn tuyển cung phi mỹ nữ ở Hoa Nam, chính v́ màu da trắng của chủng Mă Lai, nhứt là của chi Âu, tức chi Thái ngày nay. Nhiều nhóm Thái có má hồng tự nhiên và Dương Quư Phi có thể là một người con gái gốc Thái v́ bà ấy ở huyện Dung trong địa bàn ngôn ngữ Thái ngày nay (zône linguistique).

Những chi Lạc của chủng Mă Lai cũng không đen, mà người con gái nổi danh nhứt là Tây Thi, nổi danh không kém Dương Quư Phi chút nào, danh lại thơm hơn nhiều. Tây Thi rất trắng.

Tầm vóc của họ kém Hoa chủng, nhưng vẫn cao lớn hơn tầm vóc của đa số hắc chủng Đông Nam Á, cao hơn chủng Mê-la-nê đến 0th20.

Dân ta có lai Mông Cổ cách đây 5 ngàn năm và có lai Tàu cách đây 1.930 năm, nên khác Mă Lai chánh hiệu ở điểm tóc ta thẳng. Tuy nhiên, vẫn có người Việt tóc dợn sóng, và người Bắc Việt v́ ở xa xích đạo hơn người Nam Việt nên da trắng hơn.

Cũng nên nhắc rằng da của người Hoa Bắc rất sậm, gần giống như da của người Nam Kỳ làm nông nghiệp, trái lại da của người Hoa Nam mà ḍng máu Mă Lai chiếm đến 60%, th́ lại trắng.

Không ai c̣n biết người Mă Lai Hoa Bắc ra sao nữa cả nhưng bằng vào da của người Tàu Hoa Nam, ta đoán được rằng da của người Mă Lai Hoa Bắc trắng như thế đó. Da của Đại Hàn và Nhựt Bổn cũng trắng y như da người Tàu Hoa Nam. Da người Việt miền Bắc cũng không kém da người Nhựt Bổn bao nhiêu.

Nhưng các chủng da trắng sở dĩ được gọi là da trắng không v́ màu da chút nào hết. Người Á Rập thuộc chủng da trắng đấy, nhưng dân Bắc Phi lại rất đen. Các chủng da trắng khác chủng da vàng không phải ở màu da mà ở tầm vóc, ở cái mũi và ở sự kiện có lông nhiều, và đôi khi ở màu mắt và ở màu tóc. Các chủng da vàng mắt và tóc luôn luôn đen.

C̣n tại sao chi Khương (Khơ Me) không ở gần xích đạo như người Nam Dương mà cũng đen da, đă được ông G. Coedès giải thích rồi, là khi họ Nam thiên họ hợp chủng lớn lao với người Mê-la-nê thổ trước, người đó, ở xứ họ, đă tiến tới tân thạch, tức văn minh bằng họ, nên cuộc hợp chủng lớn ấy hoá ra dễ dàng hơn ở Nhựt, ở Việt Nam và ở các nơi khác.

Về vóc dáng th́ chưa chắc lắm bọn Mă Lai ở Hoa Bắc lại có tầm vóc nhỏ như người Việt Nam. Như đă nói, người Hoa Bắc cao lớn như Tây, mà họ cho rằng Cửu Lê và Khuyển Nhung quá dữ tợn th́ Cửu Lê không thể bé nhỏ được.

Các nhà khảo tiền sử đă đào được sọ Cổ Mă Lai và lưỡi ŕu tay cầm tại cánh đồng Chum. Thổ dân ở đó hiện nay kể rằng tổ tiên của họ truyền khẩu lại cho biết những cái chum đó, do những ông khổng lồ chế tạo ra.

Thổ dân hiện nay cao độ 1th50, tức không bé lắm đối với dân ta, thế mà họ gọi kẻ có lưỡi ŕu tay cầm là ông khổng lồ th́ hẳn Cửu Lê phải to lớn lắm.

Nhưng tại sao Mă Lai ở Hoa Nam lại bé nhỏ và lôi kéo Hoa tộc bé nhỏ xuống, tại Hoa Nam?

Không làm sao trả lời được câu nầy nếu không dùng ức thuyết. Có lẽ cả hai, Hoa và Việt, đă hợp chủng với thổ dân nào đó vừa bé nhỏ lại vừa trắng da. Vâng, nên chú ư đến sự kiện Hoa Nam trắng hơn Hoa Bắc.

Ở Nhựt Bổn có một thứ dân thiểu số vừa bé nhỏ vừa thuộc bạch chủng. Đó là người Hà Di (Aino). Biết đâu ở Hoa Nam lại không có thứ người đó và chính phụ nữ của họ đă lôi kéo cả Mă Lai lẫn Trung Hoa bé nhỏ xuống.

Bằng chứng là người Thái đen và người Thái trắng ngôn ngữ giống hệt nhau, phong tục giống hệt nhau nhưng kẻ đen người trắng.

Bọn trắng có lẽ lai giống với bạch chủng Hà Di là thứ bạch chủng rất bé. Ở Nhựt có Hà Di th́ không có lư nào mà ở Hoa Nam lại không có Hà Di, vào thời thượng cổ. Nhưng sách vở cổ của Tàu không nói đến Hà Di Trung Hoa chỉ v́ họ không hề biết Hoa Nam vào thời thượng cổ.

Riêng Lạc ở Việt Nam th́ lại c̣n bé nhỏ hơn người Tàu Hoa Nam nữa (nói một cách tổng quát). Tại sao vậy? Lại cũng phải dùng ức thuyết.

Có thể v́ bị lai giống với Mê-la-nê, thứ thổ trước bé nhỏ, nên Lạc mới nhỏ xuống chăng?

Nếu không dùng ức thuyết ấy th́ không làm sao mà cắt nghĩa được sự kiện kỳ dị:

Phúc Kiến = Lạc + Hoa Bắc

Việt Nam = Lạc + Hoa Nam

Nhưng sao Phúc Kiến lại to người hơn Việt Nam?

Ở hang Làng Cườm sọ Mă Lai lai giống với Mê-la-nê rất ít, tỉ số là 5/1. Nhưng đó là sự lai giống ban đầu. Có thể sau hàng ngàn năm sống chung, sự lai giống càng ngày càng tăng và Mê-la-nê đă lôi kéo Mă Lai Bắc Việt thấp bé xuống chăng?

C̣n những người Việt Nam to lớn, cao từ 1th70 trở lên có lẽ ḍng họ của họ không có lai với thổ trước Mê-la-nê.

Nhưng cũng chỉ là ức thuyết mà thôi.

Ta sẽ thấy những cổ Việt sống sót, cao đúng 1th70, ở một chương sau, chương Làng Cườm sống dậy, và ức thuyết trên đây có thể chấp nhận được.

Người Việt ở miền Nam, có tái hợp chủng với Mă Lai từ ba trăm năm nay (đó là một cuộc trở về nguồn chánh) nên có rất nhiều người tóc dợn sóng. Người Trung có lai Chàm, mà Chàm cũng là Mă Lai, tức người Trung cũng trở về nguồn, nên cũng có nhiều người tóc dợn sóng.

Các sử gia trào Nguyễn đều cho biết rằng người Mă Lai đă tới buôn bán đông đảo ở hai thành phố Nông Nại Đại Phố và Đề Ngạn, và họ có ở lại, có lấy vợ, đẻ con, nên ảnh hưởng văn hoá Mă Lai ở miền Nam rất lớn.

Người Việt ở miền Nam gọi Mă Lai bằng đến năm thứ danh xưng khác nhau: Mă Lai, Bà Lai, Bà Bá Kiến HổMiền Dưới. Kiến Hổ là tiếng nói đùa do người Tàu có sống ở các xứ Mă Lai và Nam Kỳ dùng, và người Việt miền Nam bắt chước. Nguyên chữ (Lai), ngày xưa viết với bộ Trùng, mà bộ Trùng có nghĩa là con hổ (kiến lớn). (Người Tàu thời cổ viết tên các dân tộc kém mở mang hơn họ, thường dùng những bộ Khuyển, bộ Trùng một cách ngạo mạn như vậy đó).

Sở dĩ người miền Nam gọi Mă Lai bằng lu bù thứ tên là v́ hai dân tộc nầy có chung đụng mật thiết với nhau từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 tại Biên Hoà, Sài G̣n, Rạch Giá, v.v.

Ở Nam Kỳ người ta làm và ăn bánh Lai, người ta mặc áo Ba, người ta trồng cây Sầu riêng (Durian), người ta gọi cảnh sát là mă tà, một danh từ Mă Lai, ảnh hưởng Mă Lai du nhập vào quá dễ dàng khiến ta không khỏi ngạc nhiên nhưng ta sẽ hết ngạc nhiên khi thấy rằng tổ tiên ta là Mă Lai, và ta sẽ giải thích sự hấp thụ dễ dàng ảnh hưởng Mă Lai ở Nam Kỳ, nó có lư do t́nh cảm âm thầm bí mật giữa hai dân tộc đồng chủng với nhau.

Vị nào có máy thu thanh mạnh, đêm đêm cứ t́m các đài Nam Dương mà nghe. Quư vị sẽ thấy rằng nhạc điệu của họ giống hệt điệu ḥ mái nh́ của ta.

Và ông Nguyễn Phụng, nguyên giám đốc Quốc Gia âm nhạc, cho chúng tôi biết rằng trên thế giới các nước sau đây có cây đàn độc huyền, ngoài ra, không ở đâu khác mà có cả: Việt Nam, Nam Dương, Nam Ấn, các đảo Polynésie.

Đó là dấu vết Mă Lai trong xă hội ta, đáng lư ǵ chỉ được tŕnh bày ở chương dấu vết, nhưng chương ấy quá dài, thành thử chúng tôi phải bớt vài chi tiết nhỏ cho sang chương nầy.

*

*       *

Người Việt làm chủ đất ở Hoa Bắc xưa là Cổ Mă Lai, chớ không phải kim Mă Lai. Bằng vào sự kiện họ bị Trung Hoa lấn đất dễ dàng, ta đoán được rằng họ chưa văn minh bao nhiêu.

Nhưng người Việt chủ nước Ngô và nước U Việt th́ chắc chắn là kim Mă Lai.

Người Cổ Mă Lai (Proto Malais) khác với người kim Mă Lai (Deutoro Malais) như thế nào?

Các nhà bác học châu Âu nói rằng h́nh ảnh trung thành của người Cổ Mă Lai là người Thượng ở Cao nguyên Việt Nam ngày nay. Người Thượng không thể sản xuất được một Tây Thi đâu.

Ta tạm an ḷng với h́nh ảnh người Thượng là Cổ Mă Lai, c̣n người nước Anh-Đô-Nê-Xia là Kim Mă Lai vậy.

Nhưng như đă nói, chúng tôi có t́m được một thứ người Việt tối cổ, nói tiếng Việt cổ hơn người thường và cao đến 1th70 và tự xưng là Lạc, và da đỏ.

Đó là những ông chồng khổng lồ ở cánh đồng Chum, và đó là h́nh ảnh trung thành của Cửu Lê đă đương đầu với dân Hoa Bắc cao lớn như Tây.

Người Mường có lẽ chỉ là h́nh ảnh của người Đông Sơn, v́ người Mường không cao 1th70, lại nói tiếng Việt không rơ lắm.

Tại sao một chủng tộc lại có Cổ có Kim cho rắc rối trí nhớ của thiên hạ?

Chủng tộc nào, hồi nguyên thỉ cũng khác ngày nay cả về văn hoá và về cả vóc dáng và nhân thể tính nữa. Nhưng các người cổ sơ của mọi chủng tộc đều biến mất cả rồi, chẳng hạn không c̣n làm sao mà thấy được một người cổ sơ Trung Hoa một người cổ sơ Anh, Pháp, Đức nữa.

Riêng chủng Mă Lai th́ c̣n đủ cả hai thứ người của hai thời kỳ. Đặc thù của Mă Lai chủng có thể cắt nghĩa tổng quát được như thế nầy. Vào cổ thời cách đây nhiều ngàn năm, họ đang sống ở đâu đó, rồi bị một chủng tộc khác rất mạnh xua đuổi nên họ thiên di.

Bọn thiên di chia thành nhiều nhóm, nhiều đợt. Nhóm nào gặp đồng bằng và các điều kiện thuận lợi khác th́ tiến lên được, c̣n nhóm nào gặp núi rừng sâu th́ đứng yên ở tŕnh độ cũ hoặc thoái hoá, trở lại thành người cổ Mă Lai, đó là trường hợp của người Thượng và người Dayak.

Trong nhân loại đă có bằng chứng có vài nhóm thoái hoá, không phải là một ức thuyết.

Người Chàm xưa kia đứng vào hàng cừ khôi về thuỷ vận, thế mà ngày nay họ không biết đóng một chiếc thuyền? Tại họ mất địa bàn bờ biển, chỉ c̣n làm nông nghiệp chớ không chuyên thuỷ vận được nữa.

Người Maya, ở Trung và Nam Mỹ vốn có một nền văn minh rực rỡ như Ai Cập nhưng ngày nay lại kém cỏi vô cùng, nếu họ không hợp tác với người da trắng.

Địa bàn phương Đông của chủng Mă Lai xưa kia, như đă thấy, là nước Tàu. Bị dân Trung Hoa lấn đất, họ Nam thiên. Tới các vùng đất mới, họ lại bị Tàu xâm lăng nữa, chẳng hạn như ở Cổ Việt th́ họ lại bị nhà Hán chinh phục. Lần bị chiếm đất thứ nh́ nầy, họ không c̣n đất để lánh thân nữa, nên một số ở lại chịu văn hóa Tàu c̣n số khác th́ đành phải rút lên núi rừng, rồi v́ khí hậu xấu và sự thiếu thốn nơi nó, nên họ lại thoái hóa. Thế nên ta mới thấy người Thượng ở Cao nguyên cứ c̣n là Cổ Mă Lai cho tới ngày nay, c̣n ta, kẻ ở lại đồng bằng th́ đă khác xa v́ điều kiện sống tốt giúp ta tiến lên được, hơn thế ta lại bị hợp chủng với dân xâm lược, phải thọ lănh văn hóa mới nữa th́ sự khác ấy lại càng rơ hơn.

Riêng ở Nam Dương quần đảo th́ dân Mă Lai không có bị xâm lăng lần thứ nh́ (không kể xâm lăng của Ḥa Lan về sau) nhưng họ lại bị văn hóa Ấn Độ tràn ngập, thành thử cũng có người bất hợp tác với văn hóa đó, rút vào rừng và cũng thoái hóa, thành Cổ Mă Lai như dân Dayak chẳng hạn.

Những sự kiện trên, không hề có xảy ra cho chủng tộc nào khác hết v́ không chủng tộc nào mà lại bị người Tàu đánh đuổi đến hai lần, lại may mắn có đất để mà thiên di hai lần, rồi có núi rừng không chủ để mà rút vào lần thứ ba. Họ bị diệt hết hoặc bị biến thái hết, không c̣n người Cổ người Kim như chủng Mă Lai được.

Ở đây, chúng tôi xin thương thảo với ông Phạm Việt Châu và các nhà khảo cứu khác để thống nhứt về danh xưng Cổ Mă Lai, hay Tiền Mă Lai, hay Cựu Mă Lai.

Các nhà dân tộc học Mỹ cho biết rằng ngày nay không c̣n Mă Lai thuần chủng nữa v́ khuynh hướng hợp chủng của chủng ấy. Những người Mă Lai ở Anh-Đô-Nê-Xia, ở Mă Lai Á, ai cũng ngỡ là thuần chủng, nhưng không.

Người Kim Mă Lai hay Hậu Mă Lai, hay Tân Mă Lai chủng có mặt từ hồi thế kỷ thứ 6 đến thứ 10 với hai nền văn minh Mă Lai rực rỡ Shri-Vishaya và Madja Pahit, rồi th́ từ ấy những nay, cái chủng đó đă biến dạng v́ những cuộc hợp chủng hỗn loạn, mặc dầu sọ c̣n giống nhau, nhưng mẫu người đă khác, người nước Mă Lai Á có cái mẫu không giống với người nước Anh-Đô-Nê-Xia. Như vậy th́ kể như không có Hậu Mă Lai ǵ hết, và để đối lại, không nên dùng từ Tiền, và từ Cổ ổn hơn nhiều.

Và chúng tôi đề nghị dịch Indonésian hoặc Proto Malais ra là Cổ Mă Lai, chớ không phải Cựu Mă Lai, cũng không phải Tiền Mă Lai. Dân Mă Lai không có tánh cách Tân hay Hậu, mà chỉ có tánh cách hiện Kim mà thôi.

Và sau đây là câu hỏi có thể sẽ được đặt ra. Chúng tôi nói người Tàu v́ quen với khí hậu lục địa nên rất sợ khí hậu nhiệt đới của Giao Chỉ.

Nhưng tại sao người Mă Lai, cũng ở khí hậu lục địa mà lại là thứ khí hậu lục địa tàn nhẫn hơn, là khí hậu Tây Tạng, lại di cư xuống các vùng nhiệt đới được?

Là tại họ ở trong cái thế phải di cư, bởi bị đánh đuổi. Buổi ban đầu chắc dân di cư ấy chết nhiều lắm v́ bất phục thủy thổ, nhưng đó là cái thế chẳng được đừng, chết bao nhiêu họ cũng lao đầu vào chỗ chết, rồi th́ mấy ngàn năm sau nó sẽ quen đi. Bọn sống sót là bọn chịu đựng được.

Ta thấy là ban đầu họ tràn sang Trung Hoa tức di cư tới một khí hậu tốt hơn đó chứ. Họ đă thành công, nhưng rồi bị đuổi đi, thành thử họ cứ chạy tới chứ không lùi về đất Hi-Malaya, khí hậu ác ôn, mà đất đai lại khô cằn, trong khi đó chủng tộc của họ lại đang đà phát triển mạnh, dân đông thêm lần lần, mà đất ở được th́ rất là hạn chế, tại vùng Tây Tạng. Thế là họ đành phải t́m các vùng nhiệt đới vậy, khác hẳn với người Tàu, không có bị ai bắt buộc di cư cả, trừ một ông, đó là ông Lư Tổ Thượng; nhưng ông ta chọn cái chết xử trảm để thay cho việc phải đi Giao Chỉ làm quan đầu xứ.

Một điểm sử khác cũng sẽ được đặt thành câu hỏi, chúng tôi đă thử giải thích rồi nhưng cũng xin lặp lại.

Tại sao ở đất Chàm, Mă Lai đợt II chiếm đa số, thế mà ở nước đó không có trống đồng là sản phẩm của Mă Lai đợt II như chương về người Mường sẽ cho thấy?

Chúng tôi hồ nghi đạo Hồi là một tôn giáo bất khoan dung đối với các tôn giáo khác. Ở Ấn Độ họ đă tàn phá hàng trăm ngàn đền thờ của đạo Bà La Môn, mà trống đồng là nhạc khí tôn giáo th́ không sao mà họ tha được.

Ở Giao Chỉ, Mă Viện cũng có lấy trống đồng nhưng lấy để dùng chất đồng, hễ đủ dùng th́ thôi chớ không cố diệt. Hơn thế ta lại chôn trống để giấu đi, c̣n ở Chiêm Thành th́ chính người Chàm tự ư theo đạo Hồi, tự ư hủy diệt tôn giáo cũ của họ th́ sự hủy diệt phải hữu hiệu hơn ở Giao Chỉ.

Nói thế có gượng ép quá chăng v́ Nam Dương cũng theo đạo Hồi, nhưng lại c̣n trống. Chúng tôi nghĩ rằng không gượng ép, Nam Dương không ngoan đạo bằng Chiêm Thành.

Tuy nhiên,, cũng chỉ là ức thuyết. Thời gian sẽ trả lời v́ Trung Việt ít bị đào bới hơn là Bắc Việt.

Các nhà khảo cứu Pháp ở Trung Việt, say mê đền đài Chiêm Thành trên mặt đất, bận tâm nghiên cứu đền đài ấy, c̣n ở Bắc Việt chẳng có ǵ ngoạn mục hết thành thử họ, rồi nhứt là ta, sau khi họ đi, nỗ lực đào bới rất dữ, một mô đất cao là có thể bị t́nh nghi, bị khai quật rồi, thành thử ở đó, những cổ vật phải được t́m thấy, không ẩn trốn được như ở Trung Việt mà ai cũng tha cho ḷng đất sâu v́ nghiên cứu đền đài trên mặt đất đă mệt lắm rồi.

Ở tất cả các địa bàn của Mă Lai đợt II đều có trống, trừ ở Trung Việt. Cả ở những địa bàn mà khoa khảo tiền sử không biết là Mă Lai đợt II đă đi qua, cũng có trống nữa, thí dụ Tây Bá Lợi Á, thế mà Chiêm Thành lại không, trong khi người Chàm là Mă Lai đợt II rơ rệt, v́ họ c̣n sống sót và dùng ngôn ngữ của Mă Lai đợt II, tức Mă Lai Nam Dương.

Tưởng cũng nên thêm vài ḍng về trống đồng của dân Lạc. Ở chương Người Mường, chúng tôi sẽ tŕnh chứng tích là bọn đợt II đă đưa trống đồng tới cho vua Hùng Vương dùng chớ vua Hùng Vương không phát minh trống đồng v́ ông ấy thuộc đợt I.

Nhưng người ta t́m thấy trống đồng ở Tây Bá Lợi Á, rất gần nơi xuất phát di cư của bọn đợt I, th́ phải hiểu sao đây?

Nhưng cũng nên nhớ rằng đến thế kỷ 3 sau Tây lịch th́ Nhựt Bổn đă xâm lăng Đại Hàn rồi. Bọn xâm lăng là bọn đợt II đă lănh đạo bọn đợt I ở Nhựt.

Chính bọn ấy đă đưa trống vào Đại Hàn, rồi từ đó nó phiêu lưu đi Tây Bá, tức trống Tây Bá là trống mới, về sau nầy.

Ở tất cả các địa bàn hỗn hợp, bọn II lănh đạo bọn I, chỉ trừ ở Cổ Việt mà bọn đợt II bị lép vế. Có lẽ bọn I ở Cổ Việt là nhóm tài giỏi nhứt nên họ đă tự lực tiến lên cao, nên họ không bị bọn II văn minh, đàn áp họ như ở Nhựt, Chiêm Thành và Célèbes.

Riêng ở Phù Nam th́ cũng chính bọn II là Phù Nam bị bọn I là Chân Lạp đàn áp, y như ở Cổ Việt, nhưng măi cho đến thế kỷ thứ 6 sau Tây lịch mà nhờ Nhục Chi lănh đạo, Cao Miên mới được như vậy, c̣n vua Hùng Vương th́ thẳng ngay vào ngày đầu mà bọn đợt II đến nơi, tức trước khi Cao Miên diệt Phù Nam đến 11 thế kỷ, mà không có nhờ sức của ai cả.




Tài liệu tham khảo riêng cho chương nầy:

Tối tân Trung Quốc phân tỉnh đồ, Hồng Kông

Nguyễn Bạt Tụy: Hành tŕnh vào dân tộc học

Lê Chí Thiệp: Văn hóa nguyệt san

Tự điển Từ Hải, Sài G̣n, 1959

R. A. Stein: Le Linyi, Pékin, 1947

Dr. Huand et Équipe: Etat actuel de la crâniologie indochinoise, Ha Noi, 1931

Mă Đoan Lâm: Etnographie des peuples é trangers à la Chine (Bản dịch của H. de St. Denys), Paris 1920

G. Moréchand: La Chamanisme Hmong, Paris 1968

Jonveau Dulereuil: Archéologie du sud de l’Inde, Paris, 1914

 Histoire ancienne du Deccan Pondichéry, 1920

S. Levi: Histore ancienne de l’Inde, Paris, 1915

              Tối tân Trung Quốc phân tỉnh đồ, Hong Kong

La Jonquière: Le Siam ancien, Paris, 1908

Aymonnier: Histoire de l’ancien Cambodge, Paris, 1920

Phayre: History of Burma, Londres, 1883

Murdoch et Yamata: History of Japan from the origin to the arrival of the Portugese, Yokohama, 1910

Raffles: History of Java, Londres, 1830

G. Villoquet: Histore de l’Incdonésie, Paris, 1964

R. A. Stein: Les tribus anciennes des marches sino-thibétaines, Paris, 1969

H.V. Vallois: Les races humaines, Paris, 1944

P. Leston ; J. Millot: Les races humaines, Paris, 1936

O. Jansé: Archéology of the Philippine Istandes, Washington, 1917

Nguy Chí                                                                 Đài Loan N.T.N.S.

Chu Lễ: E. Biot, Paris, 1851

Tả Truyện: Bản dịch Legge, Paris, 1947

Mạnh Tử

--                     Đại Việt quốc thư, Sài G̣n

Nguyễn Bá Trác: Hoàng Việt Giáp Tư niên biểu, Sài G̣n

M.T.: Synchronisme chinois, Shanghai, 1905