Nguồn gốc Mă Lai của dân tộc Việt Nam

B́nh-nguyên Lộc

 

Chương II

 

Những sai lầm căn bản của quư ông H. Maspéro, L. Aurousseau,  

Nguyễn Phương, Kim Định và Trần Kinh Hoà

A. Sự thật về các chủng Mông Gô Lích

I. Bắc và Trung Mông Gô Lích

Theo sử gia Nguyễn Phương th́ dân ta là người Tàu thuần chủng.

Thật ra, sử gia không hề có thốt ra hai tiếng “thuần chủng”; nhưng trong sách, sử gia luôn luôn viết: “Người ta (người Tàu) sẽ loại người man-di (Lạc Việt) ra khỏi hàng ngũ công dân” (trang 244), hay là: “Sự giống nhau giữa ta và Tàu là một sự dời chuyển cả người lẫn phong tục, tập quán, tôn giáo” (trang 230). Cũng ở trang 230, sử gia viết: “Người Trung Hoa đă, đợt nầy rồi đợt khác, sang thực dân tại đây, và cuối cùng khi mọi sự đă tỏ ra thuận lợi, đă đứng dậy, lập một nước riêng, nước Việt Nam”.

Thế nên ngoài quyển sách nói trên, ở các tạp chí, sử gia đă cố chứng minh rằng Lư Công Uẩn, Đinh Bộ Lĩnh là người Tàu, nhưng ông chưa thành công.

Sử gia lại viết: “Dân Việt Nam là người Trung Quốc di cư sang trong thời Bắc thuộc”. Câu nầy được in bằng chữ đậm, chữ tít (trang 231).

Hơn thế, ở trang 335, sử gia c̣n quả quyết rằng, mặc dầu người Tàu ở đất Việt có lai Chàm và “các thứ dân khác” về sau, nhưng những dân đó không có làm cho Tàu cải biến (Chính sử gia đă gạch dưới ḍng để nhấn mạnh rằng cả đến ngày nay, ta vẫn cứ là Tàu, không cải biến.

Sử gia lại viết rằng sau Mă Viện th́ ở đất cổ Việt, có sự dời đổi con người, tức dân Lạc Việt đi mất hết hoặc bị tiêu diệt hết, và dân Tàu đến thay thế. Hai tiếng dời đổi không thể có nghĩa nào khác hơn.

Những câu sử như thế có nghĩa không thể chối căi rằng dân Việt Nam là dân Tàu thuần chủng, hai tiếng không hề được thốt ra, nhưng ai cũng lắng nghe được, bởi v́ cuộc hợp chủng với thổ dân quá nhỏ, không làm cải biến người Tàu kia mà.

Bao nhiêu chứng tích mà sử gia đưa ra, đều là chứng tích di cư không hề có chứng tích hợp chủng, và những tiếng hợp chủng, lai giống, chỉ được thốt ra có một lần, nhưng được gỡ gạc lại ngay bằng ba tiếng “không cải biến”.

Nhưng đó là những câu khẳng định suông. Sử gia nói như thế th́ quá dễ, ta bác cũng quá dễ bằng một tiếng “Không” suông, như tiếng “Có” suông của sử gia.

Chúng ta chỉ có thể làm việc trên cái ǵ cụ thể, tức cần t́m cho được một chứng tích của sử gia để mà nh́n nhận, hay bác bỏ. Và chúng tôi đă may mắn t́m được câu sau đây, một câu sử có vẻ khoa học, có tham vọng chứng minh. Sử gia viết ở trang 229: “Về phương diện nhân chủng, tức phương diện căn bản, không sao nói được là hai dân tộc không giống nhau… đại đa số người Việt Nam đều thuộc giống Mông Cổ, da th́ vàng, tóc th́ thẳng, có h́nh sọ giống h́nh sọ người Trung Hoa”.

Quả đúng như giáo sư Nguyễn Phương nói, khoa chủng tộc học (mà giáo sư gọi theo trước 1945 là nhân chủng học) là nền tảng căn bản. Giáo sư lại nói đến cái sọ là cái ǵ căn bản nhứt trong khoa đó.

Nhưng đó lại cũng chỉ là một lời khẳng định vô bằng.

Chắc chắn là sử gia chưa nghiên cứu về chủng Mông Cổ và chưa hề đối chiếu sọ người Tàu và sọ người Việt nên mới dám viết ra một câu sử táo bạo và liều lĩnh như vậy. Hai thứ sọ đó khác nhau đến 9 đơn vị, c̣n những nhơn thể tính khác, cũng khác nhau.

Trước khi tŕnh ra vài mươi biểu chỉ số sọ của nhiều thứ dân ở Á Đông, để đối chiếu, chúng tôi xin nói rơ rằng ta cần nhớ vài chi tiết nho nhỏ, không tôi sẽ có ngộ nhận. Chẳng hạn khoa  chủng tộc học dạy ta biết rằng sọ của một chủng tộc, vẫn thay đổi với thời gian. Nhưng phải hiểu là hai tiếng thời gian đó có nghĩa là 50 ngàn năm, chớ đối với 5, 7 ngàn năm th́ hoàn toàn không thay đổi, hay có, mà sự thay đổi ấy không thấy được. Dung lượng của sọ người mà khoa học gọi là người Bắc Kinh, dung lượng ấy là 1000 phân khối, c̣n dung lượng của sọ người Tàu đời nay trung b́nh là 1400 phân khối. Nhưng người Bắc Kinh đă sống cách đây mấy trăm ngàn năm, và không phải là tổ tiên của người Tàu.

Thế nên chúng tôi dùng khoa chủng tộc học một cách an ḷng, hơn thế một cách sung sướng, v́ khoa ấy có tánh cách dứt khoát.

Chúng tôi bắt đầu nghiên cứu các chủng Mông Gô Lích xem nó có giản dị như giáo sư đại học Nguyễn Phương nói hay không, xong rồi mới nghiên cứu riêng chủng của dân Việt Nam ta. Không bao giờ ta có h́nh sọ giống h́nh sọ người Trung Hoa như sử gia họ Nguyễn đă nói.

*

*      *

Người Trung Hoa chỉ là kẻ đến sau cùng trên nước Tàu, cũng như dân ta là kẻ đến sau cùng trên đất Việt. Đó là điều chắc chắn như khoa khảo tiền sử đă cho biết.

Nhưng họ là ai và từ đâu đến th́ người ta biết chắc thêm một điều nầy nữa là họ từ Tây Bắc nước Tàu mà đến và họ có máu của người da trắng trong huyết quản của họ. Nhưng tới đây th́ có hai thuyết khác nhau. Thuyết thứ nhứt đă được thấy là sai lầm, nhưng cũng xin kể ra đây.

Nhà bác học Terrien de Lacouperie trong quyển Western Origin of the Chinese Civilization và quyển Early History of the Chinese Civilization, và nhà bác học C. J. Ball trong quyển Chinese and Sumerian cố chứng minh rằng dân Trung Hoa phát tích tại Ba Tư. Ở đó họ chịu ảnh hưởng của nền văn minh Lưỡng Hà, nên chi nền văn minh Trung Hoa mang nhiều yếu tố Lưỡng Hà.

Đó là một sai lầm của hai nhà bác học nói trên mà toàn thể các nhà bác học khác đă bác bỏ v́ bằng chứng không vững vàng.

Dân tộc Trung Hoa lập nền văn minh của họ trên đất Trung Hoa chớ không phải mang từ đâu mà đến cả. Sự giống nhau đó, chỉ là ảnh hưởng về sau, hoặc t́nh cờ tương đồng, chỉ có thế thôi.

Cũng như người da vàng gồm rất nhiều chủng, người da trắng cũng thế. Dân cổ Ai Cập, dân Á Rập đều thuộc chủng da trắng, nhưng khác dân Âu Châu. Các chủng da trắng chia ra như sau: chủng Hamite là chủng của dân Ai Cập, chủng Sémite là chủng của dân Lưỡng Hà, dân Do Thái, dân Á Rập và chủng Ấn Âu là chủng của Hy Lạp, La Mă, Ba Tư, Ấn Độ và các quốc gia Âu Mỹ hiện nay.

Riêng chủng Ấn Âu th́ nguồn gốc và thành phần như thế nầy: Vào thượng cổ, người da trắng, phát tích tại Bắc Âu (có thuyết lại cho rằng tại Nam Nga) bắt đầu di cư.

Thuyết của Salomon Reinach (Origines des Aryens, 1892) v́ chủ trương họ ở Bắc Âu nam thiên, nên cho rằng họ để Schyte dọc đường, tại Nam Nga ngày nay.

Thuyết của A Carnoy (Les Indo-Européens, 1921) chủ trương họ phát tích tại Hắc Hải, nên sự thiên di đi các nơi xảy ra một lượt với nhau.

Họ gồm 8 nhóm lớn, ngôn ngữ khác nhau nhưng đồng tánh cách, tức cùng gốc mà ra:

1.      Nhóm Ba Tư - Ấn Độ (Ấn Độ xưa vốn da trắng như Ba Tư)

2.      Nhóm Hy Lạp

3.      Nhóm Italo Celtique, tổ tiên của La Mă và Gô Loa, rồi sau nầy là Ư, Pháp, Tây Ban Nha v.v.

4.      Nhóm Nhật Nhĩ Mạn tổ tiên người Đức và Anh

5.      Nhóm Xilao, tổ tiên người Nga

6.      Nhóm nhỏ xíu Albanie

7.      Nhóm Arménie cũng nhỏ xíu

8.      Nhóm Tokarien tổ tiên người Tàu

Nhóm Tokarien v́ đi sang Á Đông một ḿnh nên bị quên mất, và người ta chỉ mới t́m được nền văn minh của họ và nền văn chương của họ cách đây không lâu. Ngôn ngữ, chữ nghĩa của họ cũng được khám phá ra, đọc được và mới thấy rằng nó đồng tộc với 7 nhóm khác.

Và nhóm Tokarien tức Scythe Oriental cũng được người Trung Hoa biết đến v́ họ chỉ mới bị tiêu diệt vào đời nhà Hán đây thôi. Các cổ thư Trung Hoa xác nhận rằng thứ người ấy da trắng, mắt xanh và tóc đỏ, chỉ có điều là Trung Hoa xưa không biết đó là tổ tiên của họ mà thôi.

Bọn nầy măi về sau có vào định cư ở nước Tàu và được nhà Nguyên gọi là dân Sắc Mục tương đương với thành ngữ Hommes de couleur của Pháp, nhưng Tàu nói đến màu mắt, c̣n Pháp th́ nói đến màu da.

Dưới đây là thuyết mới nhứt được dựng trên kết quả của khoa khảo tiền sử.

Vào đời thượng cổ, từ miền Nam nước Nga cho tới biên giới tỉnh Cam Túc của Trung Hoa ngày nay, nói cho đích xác hơn, cho tới thành Đôn Hoàng, là một vùng đất đă có người sinh sống.

Vùng đất ấy người Hy Lạp gọi là Sérinde, và măi lâu lắm về sau Tây Lịch, Âu Châu mới đặt tên là Turkestan. Người Tàu vẫn biết đất ấy vào đời thượng cổ, nhưng không có đặt tên, hoặc có mà v́ thiếu sách vở, c̣n việc truyền khẩu th́ bị đứt đoạn, nên không ai biết cái tên cổ ấy, măi cho tới đời Hán mới được nghe họ gọi vùng đó là Tây Vức.

Người thượng cổ ở đó thuộc giống da trắng mà người Hy Lạp gọi là Tokhares. Trong xứ Tây Vức, tại một trung tâm nay mang tên là Anau, các nhà khảo tiền sử có phát kiến được dấu vết của một nền văn minh tối cổ mà giai đoạn tân thạch khí của họ cổ đến 10 ngàn năm (giai đoạn tân thạch khí của chủng Việt chỉ cổ có 5000 năm tức là tiến sau họ đến 5 ngàn năm) và như vậy th́ họ đă phát tích từ 12 ngàn năm sắp lên, tại đó (hay tại nơi khác rồi di cư đến đó th́ mỗi thuyết mỗi nói khác nhau).

Dân Tokhares được Tàu gọi là rợ Nhục Chi hoặc Bạch Địch, mặc dầu các nhóm Nhục Chi đă hết là rợ cả ngàn năm rồi và đă lập ra non 40 quốc gia phồn thịnh và hùng mạnh ở đó, vào thời Xuân Thu.

Cũng cứ vào thời thượng cổ, rợ Nhục Chi đụng đầu với một thứ rợ khác mà Tàu gọi là Hung Nô hoặc Mông Cổ, Âu Châu gọi là Huns, thuộc chủng da vàng, hai bên đụng đầu với nhau tại biên giới của Tây Vức và của nước Trung Hoa ngày nay.

Hai thứ rợ đó đều c̣n du mục, rất dữ tợn, nhưng lại không có đánh nhau, mà lại sống chung ḥa b́nh với nhau và hợp chủng với nhau tại đó.

Cuộc hợp chủng đầu tiên xảy ra có lẽ lối bốn ngàn năm trước Tây lịch, tức cách đây 6 ngàn năm. Thế th́ sử Tàu không lâu đời quá lắm như họ thường khoe.

Thứ con lai giống của họ có tánh cách Mông Cổ ở cái xương sọ, ở loại tóc thẳng và đen (tóc Nhục Chi dợn sóng và màu đỏ hoặc màu râu bắp), ở nước da vàng, ở mắt xếch và mi mắt lót, màu mắt luôn luôn đen. (Tuy nhiên, cũng có người Trung Hoa mắt không xếch, mí mắt không lót) và ở ngôn ngữ độc âm.

Họ lại có tánh cách Nhục Chi ở thân thể cao lớn như Tây, mà hiện nay người Hoa Bắc c̣n mang, khác hẳn người Hoa Nam về tầm vóc.

Xem ra th́ yếu tố Mông Cổ lấn hơn, v́ vùng đất đó là đất chính của Mông Cổ mà là đất phụ của Nhục Chi.

Nhưng cả hai yếu tố ấy đều giống nhau ở điểm nầy là cằn cỗi tâm hồn và quá thực tế, v́ khí hậu ở đó đă đào luyện họ ra như vậy. Thế nên con cháu của họ là người Tàu Hoa Bắc mới là những con người chỉ biết lư trí mà thôi.

Họ không bao giờ lập ra nổi một tôn giáo v́ trí óc của họ không thể đi tới chỗ siêu h́nh. Họ có Lăo, Trang, nhưng Lăo, Trang lấy nguồn hứng ở phương Nam tốt tươi ấm áp, đất mới có về sau mà thôi, c̣n Mông Cổ th́ thuở ấy quá lạnh, Tây Vức lại bắt đầu bị sa mạc hóa, tức quá nóng.

Mặc dầu là thuyết mới nhứt, trong đó có nhiều điểm được giới khoa học nh́n nhận là đúng, Tuy nhiên, thuyết trên đây vẫn chưa được nh́n nhận trọn vẹn. Nhưng chưa có thuyết nào được nh́n nhận trọn vẹn cả, nên chúng tôi dùng thuyết nầy, trong đó có các điểm sau đây được coi là đúng sự thật:

  1. Hoa chủng là kết quả của một cuộc hợp chủng giữa chủng Bắc Mông Gô Lích của người Mông Cổ và với một chủng nào đó cao lớn như Tây, thế nên người Hoa Bắc, nhứt là ở Cam Túc, Sơn Tây và Thiểm Tây, mới cao lớn như vậy.

2.      Cuộc hợp chủng ấy xảy ra ở ngoài nước Tàu, tại đâu không rơ, nhưng họ xâm nhập Trung Hoa từ hướng Tây Bắc, qua hành lang Cam Túc.

3.      Cái sọ của họ khác sọ Việt Nam 9 đơn vị về chỉ số.

4.      Sọ Việt Nam có tánh cách brachycéphale, c̣n sọ Hoa Bắc và Hoa Nam th́ có tánh cách mésocéphale. Dung lượng sọ cũng khác.

Đây là chúng tôi chỉ mới nghiên cứu có một chủng Mông Gô Lích mà thôi, mà đă khác xa Việt chủng như vậy đó, nhưng có đến bốn chủng Mông Gô Lích khác nhau.

Chúng tôi tạm ngưng việc xét sọ v́ bấy nhiêu đó đủ bác sử gia Nguyễn Phương rồi. Chúng tôi xin bước qua vài chi tiết khác để bác giáo sư Kim Định.

Người lai căn ấy không có đất dung thân, xứ Tây Vức phải để dành cho Nhục Chi, c̣n đất Mông Cổ th́ để dành cho Hung Nô, cả hai thứ dân đó cần đất quá nhiều v́ lối sống bằng nghề chăn nuôi súc vật của họ. Thành thử bọn mang hai ḍng máu phải biến thành quân xâm lược đi cướp một vùng đất mà nay là Hoa Bắc, đă có chủ rồi.

Một chủng mới đă ra đời, mà 5 ngàn năm sau, các nhà chủng tộc học Âu Châu mới đặt tên, đó là chủng Trung Mông Gô Lích, tức chủng của người Hoa Bắc, nó khác với chủng Bắc Mông Gô Lích là chủng Mông Cổ thuần túy, và khác hẳn chủng Nam Mông Gô Lích của người Hoa Nam, và khác rất xa chủng của ta.

Theo khoa chủng tộc học (Anthropologie physique) th́ khi hai cái sọ khác nhau từ hai đơn vị sấp lên, th́ phải xem đó là hai chủng khác nhau, và nếu hai cái sọ ấy bị ràng buộc với nhau bằng vài tánh cách khác th́ phải xem một cái sọ trong đó là một phụ chủng của cái sọ kia, v́ thế mà khi nói đến chủng Mông Gô Lích là nói một điều vô nghĩa đối với khoa học v́ khoa học phân biệt đến bốn chủng Mông Gô Lích khác nhau:

A.     Bắc Mông Gô Lích của người Mông Cổ

B.     Trung Mông Gô Lích của người Hoa Bắc

C.     Nam Mông Gô Lích của người Hoa Nam

Một phụ chủng thứ tư ra sao, và tên ǵ, chúng ta sẽ biết trong sách nầy.

Có một điều nầy lạ lắm là tất cả các sọ lai căn đều được khoa chủng tộc học biết rơ cả hai yếu tố hợp thành cái sọ đó, lai qua lai lại bốn ngàn năm cũng c̣n biết được, nhưng sọ của người Tàu th́ khoa chủng tộc học chỉ biết có một yếu tố độc nhứt là yếu tố Bắc Mông Gô Lích, c̣n yếu tố thứ nh́ th́ họ không thể biết chắc lắm.

Họ chỉ kết luận rằng Hoa chủng là Mông Cổ hợp với Nhục Chi, chỉ v́ họ thấy người Hoa Bắc cao lớn như Tây, và quanh nơi xâm nhập không có một trung tâm văn minh Tân Thạch nào hết, trừ trung tâm Anau.

Họ suy luận rằng người Tàu văn minh sớm như thế th́ phải có một trung tâm Tân Thạch sớm gần họ, chớ không lẽ họ lại nhảy vọt được từ Cựu Thạch lên đến đồng thau, mà cái trung tâm đó th́ tuyệt nhiên không có, trừ trung tâm Anau nằm trong đất Nhục Chi.

Thế nên thuyết trên đây, mặc dầu chưa được công nhận trọn vẹn, vẫn chưa bị ai bác về điểm lai giống với Nhục Chi, người ta xem đó là một nghi vấn. Dầu sao cũng có bốn điểm trên kia là bốn điểm chắc và được toàn thể nh́n nhận.

Bọn lai căn đó, xâm nhập vào đất lạ, vào lối năm nào? Khoa khảo tiền sử ước lượng là cách đây 5000 năm, tức trước Kitô kỷ nguyên ba ngàn năm, tức sau khi Ai Cập và Lưỡng Hà đă văn minh cao rồi.

Họ gặp ai tại cái địa bàn đó? Nói một cách khác ai đang làm chủ cái địa bàn bị Hoa tộc xâm nhập ấy?

Trước hết xin nói rơ cái địa bàn đầu tiên của Hoa tộc.

Đó là Hoa Bắc, ở trên sông Hoàng Hà.

Tàu phải mất hai ngàn năm từ buổi xâm nhập cho đến đầu đời Hạ mà chỉ chiếm được có một diện tích đất bằng hai tỉnh rưỡi của Trung Hoa ngày nay mà thôi.

Tỉnh Cam Túc không được kể, v́ đó là hành lang xâm nhập, dân ít ở lại mà chỉ dùng làm đường đi qua. Họ chiếm được nơi mà nay là phía Nam của tỉnh Sơn Tây, nơi mà nay là phía Đông của tỉnh Thiểm Tây, nơi mà nay là phía Bắc của tỉnh Hà Nam, nơi mà nay là phía Nam của tỉnh Hà Bắc, và một vùng đất nhỏ xíu ở cái nơi mà nay là tỉnh Sơn Đông.

Như vậy dân thổ trước ở đó phải giỏi ít lắm cũng gần bằng Trung Hoa và những ông vua mà sử Tàu ca ngợi là vua Thánh vua Hiền, thật ra phải vô cùng tàn bạo v́ cuộc tranh cướp đất đai phải vô cùng khốc liệt.

Đó là địa bàn được biết cho tới nhà Hạ. Nhưng cho đến đời Chu, tỉnh Sơn Đông cũng cứ c̣n nhiều quốc gia của “Rợ” Đông Di mà Tàu phải chinh phục, mà một quốc gia kia rất nổi danh, đó là nước Cô Trước đă biết xây cất thành tŕ hàng ngàn năm rồi.

Về dân thổ trước th́ ta thử dựa vào thượng cổ sử Tàu trước cái đă.

Người Tàu gặp tại địa bàn mới nhiều dân tộc, nhưng không phải nhiều chủng tộc đâu.

Như đă nói, ở đây chỉ dựa vào sử Tàu, chớ chưa kể đến công tŕnh Âu Mỹ khác xa Tàu. Thí dụ Âu Mỹ khai quật quê hương của rợ Khuyển Nhung, một thứ rợ rất dữ tợn đă làm áp lực cho nhà Chu phải thiên đô về hướng Đông, th́ họ thấy rằng dân Khuyển Nhung (Tây Thiểm Tây) có cái sọ giống hệt sọ của người Miến Điện mà sọ Miến Điện lại là sọ Mă Lai. Mặt khác họ lại t́m được dấu vết Nam thiên của người Khuyển Nhung, từ Tây Thiểm Tây xuống Miến Điện ngày nay.

Điều đó cũng ăn khớp với sử Tàu v́ sử Tàu cũng cho rằng dân Lạc (Lạc bộ Chuy) ở vùng sông Lạc (Thiểm Tây Ba Thục), tức họ chỉ Khuyển Nhung bằng một tên khác, là danh xưng Lạc, mà Lạc, như ta sẽ thấy, chỉ là tiếng phiên âm danh tự xưng Lai (Mă Lai) mà thôi.

Nhưng v́ Tàu ít dùng danh xưng Lạc bộ Chuy để chỉ dân ở đó hơn là danh xưng Khuyển Nhung, nên rồi không ai chắc chú ư đến bọn Lạc bộ Chuy đó cả.

Hơn thế ngày nay khi viết tên con sông của dân Lạc bộ Chuy th́ họ lại viết với bộ Thủy, thành thử Lạc bộ Chuy mất tích luôn.

Người Tàu có gặp Miêu tộc ở địa bàn ấy hay không? Và Miêu có phải là Việt hay không, như giáo sư Kim Định đă dùng làm căn bản lớn cho sách của ông.

Xét chỉ số sọ của chủng Miêu, thấy nó không giống chủng nào khác hết, nó khác với Hoa chủng mà cũng khác với Việt, với Mă Lai.

Sọ lai căn ba bốn chủng tộc, khoa chủng tộc học cũng biết được, mà chỉ lai một lần hay lai đi lai lại măi, khoa đó cũng biết được một cách đích xác, lai mấy ngàn năm rồi, cũng cứ c̣n biết được như thường.

Nhưng khoa đó xác nhận là Miêu thuộc một chủng riêng, rất lớn, có mặt ở khắp nước Tàu, mà không có mặt ở đâu nữa cả, trừ cuộc di cư cách đây hai ba trăm năm đến Thượng Lào và Thượng du Bắc Việt.

Có, họ có gặp chủng Miêu ở đó, có xung đột, nhưng không có chiến tranh lớn với chủng đó mà cho đến ngày nay vẫn c̣n quá kém cỏi.

Miêu cũng bị đẩy lui lần từ Hoa Bắc đến Hoa Nam, và cuộc nhường đất của Miêu hoàn toàn xảy ra trên bộ và dưới đời nhà Chu, theo Kinh Thư, Miêu đă bị đẩy xuống vùng đất giữa hồ Động Đ́nh và hồ Bành Lăi. Nhưng đến nay th́ Miêu cũng mất luôn địa bàn đó và đất xa nhứt của họ ở phía Bắc là tỉnh Quư Châu.

Đây là một dịp cho ta thấy rằng không thể diệt chủng ai được hết. Miêu chủng bị lấn từ 5 ngàn năm rồi mà chỉ mất có phân nửa đất đai, v́ Quư Châu là nơi chia hai nước Tàu về mặt diện tích và về bề ngang.

Họ chỉ mất hết Hoa Bắc mà thôi.

Giáo sư Kim Định tuyên bố không dựa vào sử Tàu thường bóp méo sự thật, cũng không dựa vào khoa khảo tiền sử mơ hồ. Nhưng ở giai đoạn nầy th́ ông lại dựa vào quyển sách Tàu Cổ sử nhân vi của Mông Văn Thông là một người chưa học khoa chủng tộc học lần nào hết, để nói rằng Tàu gặp Viêm tộc trước nhứt mà Viêm là Việt + Miêu.

Một chủng tộc, tự xưng là ǵ mặc kệ nó, người Tàu có quyền đặt tên khác cho nó, là Viêm chẳng hạn, nhưng khi bảo rằng Viêm = Việt + Miêu th́ sai sự thật quá xa v́ sọ Miêu khác xa sọ Việt, lại không bao giờ có sọ lai Miêu + Việt.

Nhưng nếu lại bảo thêm rằng khoa chủng tộc học là khoa học không đáng tin, đừng nói đến việc đối chiếu sọ mất công, th́ một giáo sư đại học không có quyền nói. Đó là khoa học chính xác như toán chớ không phải khoa học nhân văn nữa đâu mà có quyền tin nó hay không tin nó.

Người ta cải thiện khoa học chính xác, chẳng hạn như Tân Toán Học cải thiện Toán học, nhưng không ai lại phủ nhận Toán học được.

Thí dụ họ đặt tên cho chủng Việt là chủng Viêm đi, ta cũng cho qua, nhưng nói Viêm là Việt + Miêu th́ là bất chấp đến một khoa học chính xác là khoa đo và đối chiếu sọ đă được nh́n nhận là khoa học chính xác đủ khả năng truy nguyên các chủng.

Nói th́ thế nhưng trong bức bản đồ ở trang 77, th́ giáo sư lại cho vẽ khác hết. Theo bức bản đồ th́ Viêm Việt gồm có Anh-Đô-Nê, Môn, Chàm, Miến Điện, Miêu, Lạc v.v.,,

Đă khá hơn rồi, nhưng vẫn c̣n sai quá xa, v́ khoa chủng tộc học thấy rằng tất cả các dân tộc đó, trừ Miêu đều có sọ giống hệt nhau, nhưng không đặt tên nó là Viêm, v́ nó đă tự xưng là Mă Lai từ 5 ngàn năm rồi (có chứng tích), c̣n Chàm, Miến Điện v.v. th́ đều là danh xưng mới có về sau. Và Mă Lai = Anh-Đô-Nê.

Vậy cái Viêm tộc của giáo sư Kim Định ăn vào Mă Lai chủng của khoa chủng tộc học, nhưng sai ở danh xưng. Danh xưng Viêm không bao giờ có, c̣n danh xưng Mă Lai th́ đă có từ sáu ngàn năm, hơn thế đó là danh tự xưng.

Mà điều cần nhấn mạnh nhiều nhứt là Miêu là một chủng rất lớn và không có mặt trong cái chủng mà Mông Văn Thông và giáo sư Kim Định gọi là Viêm nhưng khoa chủng tộc học gọi là Mă Lai, v́ gọi theo danh xưng của nó từ ít lắm là sáu ngàn năm rồi.

Đă bảo người Tàu có quyền đặt tên một chủng, khác với khoa chủng tộc học. Nhưng danh xưng Viêm th́ không hề thấy dùng để chỉ chủng tộc bao giờ cả mà chỉ có dùng để trỏ vài dân tộc nhỏ ở phương Nam của Hoa Bắc và chỉ có nghĩa mơ hồ là dân xứ nóng, chớ không trỏ hẳn ai.

Họ có chỉ nước ta là Viêm bang, nhưng đó là sau đời Hán, c̣n về thượng cổ th́ họ mù tịt về bọn phương Nam Hoa Bắc.

Phương chi Miêu lại là chủ đất Hoa Bắc th́ họ không có lư do để gọi Miêu là Viêm, v́ thuở đó rơ ràng Miêu là dân xứ lạnh y hệt họ.

Nhưng cái sọ mới là cái ǵ mà không ai nói ra nói vào ǵ được cả.

Vậy th́ gốc tổ tiên là Mă Lai chớ không phải tên Viêm, mà Tàu cũng không bao giờ gọi nó là Viêm, chỉ có một ông Tàu đời sau là Mộng Văn Thông mới phịa ra đấy thôi. Tàu gọi nó là Lỉa, tức Lai đấy v́ Tàu độc âm, bỏ mất hoặc v́ Mă Lai cũng có thói quen tự bỏ bớt một âm, có nhóm chỉ tự xưng là Mạ mà thôi. Nhưng cái nhóm chánh cổ sơ nhứt th́ tự xưng rất dài là Malaya (núi Hymalaya) và nhóm thứ nh́ có sáu ngàn năm tự xưng là Malayalam được kinh Phệ Đà phiên âm là M’leccha.

Điều sai thứ nh́ là giáo sư gồm Miêu trong bản đồ đó là lấy số 3 của Tam Miêu để diễn dịch và quy nạp thành ra trên 400 trang sách, trong khi đó th́ khoa chủng tộc học cho biết sọ Miêu thuộc chủng Miêu, khác hẳn với sọ Mă Lai về chỉ số và về nhơn thể tính (Indice-crânien et caractères anthrropologiques) và họ có đến Ngũ Miêu, chớ không phải Tam Miêu như Tàu cổ đă nói (Coi chừng giáo sư sẽ cho Ngũ hành, Ngũ kinh, Ngũ nhạc, Ngũ phương, Ngũ sắc, Ngũ đế, Ngũ hồ, Ngũ lĩnh là của Ngũ Miêu khi mà số 3 sụp đổ v́ số 5 ḷi ra thành sự thật khoa học).

(Bản đồ nầy cho thấy rằng giáo sư biết Anh Đô Nê ở Nam Dương, nhưng lại gọi họ là Mán, Thổ).

Giáo sư biết là dân Anh-Đô-Nê ở xứ Anh-Đô-Nê-Xia ở Nam Dương, chỉ có thế thôi, nhưng lại cứ hiểu họ là “Mọi” chớ không là Mă Lai, v́ trong bản đồ, sau danh xưng Anh-Đô-Nê và Nam-Dương, giáo sư chua là Mán Thổ mà Mán Thổ đó cũng lại được giáo sư hiểu là Mọi, nhưng cái nghĩa khoa học của Mán Thổ, không là Mọi như thường dân hiểu.

Mán là một chi của Miêu tộc có di cư tới Việt Nam, c̣n Thổ là một chi của Thái có di cư tới Việt Nam, chớ không bao giờ có mặt tại Nam Dương như bản đồ đă vẽ, và bản đồ mà vẽ như vậy là người cho vẽ bản đồ hiểu Mán, Thổ là Mọi, y như dân chúng đă hiểu.

Xin giáo sư học hai nền văn minh Shri – Vishayaa và Madja – Pahit ở Nam Dương, xem họ có là Mọi hay không. Đó là hai nền văn minh của thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch mà Pháp gọi là “Très haut degré de Culture d’un faste inoui” (Một nền văn hóa rất cao với một sự xa hoa chưa hề nghe nói đến hồi nào và ở đâu cả).

Vậy bài viết: Viêm = Miêu + Việt không ăn với bản đồ, bản đồ có hơi đúng hơn nhưng chỉ được dùng có một lần c̣n bài viết th́ được dùng làm căn bản cho cả cuốn sách với con số 3 nồng cốt là dân Tam Miêu.

Điều sai thứ ba là giáo sư cho rằng dân Hoa Bắc có ḍng máu Viêm mà Viêm th́ như đă thấy, ăn vào với Anh-Đô-Nê = Mă Lai.

Nhưng khoa chủng tộc học lại không hề thấy có cái sọ nào ở Hoa Bắc từ 6 ngàn năm nay mà có chất Viêm, hay chất Anh-Đô-Nê Mă Lai nào cả.

Mà khoa chủng tộc học th́ có cái ǵ đưa ra làm chứng: những cái sọ với phương pháp đo đủ mọi khía cạnh để biết sọ nào của chủng nào, sọ nào lai căn mà lai với ai, c̣n cái triết của giáo sư th́ chỉ có những con số 3 (Tam Miêu), số 9, Cửu Lê, Cửu Trù. Con số 3 căn bản ấy, th́ lại có cái sọ không phải của Tàu, cũng không phải của Việt, cũng không có lai căn với ai bao giờ hết.

Tóm lại Viêm tộc theo quan niệm của giáo sư Kim Định, không bao giờ có. C̣n theo bản đồ th́ có, nhưng nên loại trừ Miêu ra một chủng riêng, và nên gọi Viêm tộc như tự nó đă xưng là Mă Lai chủng.

Và điều nầy quan trọng hơn hết là không hề có sọ Mă Lai hoặc sọ Việt, sọ Cửu Lê chủng tại Hoa Bắc để cho Mộng Văn Thông và giáo sư Kim Định cho rằng chính họ sáng tạo nên nền văn minh ở đó rồi bị Hoa tộc cướp lấy. Nếu quả thế, th́ phải có sọ cổ của Mă Lai, của Cửu Lê hay của Việt ở đó chớ sao lại không bao giờ có, nghĩa là làm sao?

Ở trang 75 giáo sư viết rằng: Khảo tiền sử, khoa khảo cổ, khoa chủng tộc học (mà giáo sư gọi là nhân chủng học) chỉ có giá trị giả thiết (có lẽ giáo sư muốn nói giả thuyết). C̣n viết theo quan niệm văn hóa như giáo sư đă làm mới cho thấy được sự thật.

Rồi giáo sư lại ám chỉ H. Maspéro. Quả Maspéro trong quyển Les religions đă cho rằng Hoa tộc và các dân tộc Đông Nam Á khi xưa có một nền văn hóa chung. Nhưng ông H. Maspéro chỉ dám nói có bấy nhiêu đó thôi.

C̣n giáo sư Kim Định th́ phát triển mạnh cái câu đó ra, cho họ đồng chủng và nhứt là cho tác giả chính là chủng Viêm nào đó.

Các dân tộc có một địa bàn dính nhau th́ dĩ hiên phải có văn hóa chung vào buổi sơ khai, nhưng điều đó không bao giờ có nghĩa là Miêu đồng chủng với Việt, lại không bao giờ có nghĩa là sự phát triển ban đầu ấy theo một chiều hướng nào đó là do Tàu ăn cắp của Việt.

Tàu họ từ cái căn bản đồng đều ban đầu mà bác sĩ Huard đă nói đến và chúng tôi trích dịch cho đăng ở đầu trang sách, phát triển khác xa các dân tộc khác hết mà không có bằng chứng là cái ban đầu đó họ ăn cắp của ta, lại có bằng chứng ngược lại là khoa khảo tiền sử. Khoa nầy th́ quá đích xác như toán học, chớ không phải là giả thuyết như sách V.L.T.N. là chủng Mă Lai hoặc Cửu Lê hoặc Việt chưa biết trồng trọt vào thời Hiển Viên (với chứng tích) c̣n theo V.L.T.N. th́ Cửu Lê đă giỏi trồng trọt (không chứng tích). 

 

Bức dư đồ dùng cho tất cả các chương. V́ quá nhiều điểm sử phải được ghi vào đây và nếu ghi hết th́ dư đồ hóa ra rừng rậm, không c̣n đọc được, nên chỉ vẽ sơ lược đến mức tối đa, chỉ cốt vừa đủ để dùng làm những cái dấu mốc mà thôi.

Cửa sông Hoàng Hà được vẽ thành 4 cửa, v́ trăi qua ba bốn ngàn năm, cửa sông đó xê dịch một cách kỳ cục, cách nhau 1.000 cây số.

Những cái mốc cần biết là sông Hoàng Hà, sông Dương Tử, sông Hán, sông Hoài, sông Vị, động Đ́nh Hồ, núi Ngũ Lĩnh và đất Ngũ Lĩnh, núi Kinh, nước Đông Âu, nước Tây Âu, nước Mân Việt, những cái mốc quan trọng đó đều có đủ và đều được vẽ đúng.

Dư đồ nầy cần thiết cho 6 chương tất cả.

 

Tại sao H. Maspéro lại không dám nói nhiều hơn như giáo sư Kim Định đă dám? V́ H. Maspéro biết rơ là văn hóa biến bậy ra cả, tṛn biến vuông, đen biến trắng, một nền văn hóa chung buổi sơ khai biến thành 20 nền văn minh khác nhau, và không nên trở về cái vốn cũ để nói rằng ai ăn cắp của ai, nhứt là để nói rằng có sự lai giống và sự đồng chủng.

Granet và Maspéro đều đă lướt sơ qua trên khảo cổ, giáo sư Kim Định đă noi gương hai ông đó, nhưng họ lướt sơ qua rất là khoa học, thế mà họ c̣n sai, phương chi giáo sư Kim Định lại bất kể khoa học, cho khoa Anthropologie physique là “giả thuyết”, không biết rằng khoa đó nằm trong nhóm khoa học chính xác (sciences exactes) chớ không phải là khoa học nhân văn.

Cũng nên biết rằng y học tiến bộ là thế, mà vẫn chỉ được nằm trong khoa học thực nghiệm mà thôi, c̣n khoa Anthropologie physique tuy là được sắp loại trong khoa học nhân văn, nhưng vẫn được xem là khoa học chính xác từ khuya rồi.

Khoa ấy c̣n đang tiến mạnh, nhưng đó là tiến chớ không phải bị sửa đổi, và tiến trên cái nền tảng đă vững.

Nhơn thể tính của các chủng tộc đă thành h́nh hẳn, từ 10 ngàn năm nay, đều biến thành cái ǵ như là công thức rồi, họ chỉ c̣n học đi học lại về những chủng người trước đó nữa mà thôi, v́ những chủng trước đó chưa thành h́nh hẳn, c̣n chứa nhiều nghi vấn, nhưng Tàu và các dân Đông Nam Á hiện c̣n sống sót đều thuộc về các chủng sau, tức cổ nhứt cũng chỉ có 10 ngàn năm, th́ không c̣n cái ǵ mà họ hồ nghi nữa hết và để cho ta hồ nghi nữa hết, bởi một cái sọ lai hai chủng mà chỉ lai một lần từ 5 ngàn năm, họ cũng biết, và một cái sọ lai hai chủng mà lai đi lai lại măi từ 2 ngàn năm, họ cũng biết.

Nhưng Mộng Văn Thông không phải là người dốt đâu. Sách của ông là một mưu đồ chánh trị rất là thâm sâu và độc ác.

Đặt tên cho Việt là Viêm chỉ để lôi kéo nó vào Viêm Đế biết nông nghiệp chớ không phải là một sự đặt tên phất phơ đâu. Đó là một dụng ư lớn. Nhưng rồi ta sẽ thấy rằng dụng ư đó không chịu đựng nổi sự kiểm soát của khoa khảo tiền sử, khoa đó cho biết rằng Việt tộc chưa biết nông nghiệp vào thời Viêm Đế.

Nói rằng Việt giỏi nông nghiệp, c̣n Tàu th́ dă man th́ rất hănh diện cho dân ta, căi lại làm ǵ. Nhưng làm việc khoa học có đâu lại để t́nh cảm xóa sự thật, thế nên chúng tôi mới căi lại là v́ sự thật mà thôi.

Các ông Tàu đi từ cực đoan nầy đến cực đoan khác. Ta không là man-di, họ cứ gọi ta là man-di. Rồi giờ họ lại nói rằng ta văn minh hơn họ, mà ở hai thái cực đó họ đều quan niệm tầm ruồng, không có một căn bản khoa học nào hết.

Nhưng thật ra th́ đó là một hậu ư chánh trị vĩ đại núp sau lưng văn hóa, chớ không phải là vô t́nh đâu. Khi mà họ làm cho 700 triệu người Tàu tin rằng Tàu là Việt th́ 700 triệu người ấy hẳn sẽ có khuynh hướng thống nhứt ta. Khuynh hướng ấy chính đáng nếu nguyên ủy đúng, nhưng nguyên ủy lại không đúng.

Và khi 30 triệu người Việt cũng tin y hệt như thế th́ ta mất hết cả ư chí chống xâm lăng. Hoa và Việt đă là một th́ thống nhứt là đúng, c̣n chống làm ǵ nữa.

Mao Trạch Đông cho vẽ dư đồ nước Tàu trong đó có Việt Nam chưa đủ, mà phải có hai ba ngụy thuyết nữa mới xong:

Việt = Hoa (Nguyễn Phương)

Nếu Việt = Hoa không được ai tin th́ họ nhượng bộ, nói:

Hoa = Việt (Mộng Văn Thông)

Thuyết sau có vẻ quá hấp dẫn, thăng hoa dân Việt th́ bọn Việt cứng đầu hẳn phải đành chịu vậy.

Ngụy thuyết của Mộng Văn Thông hơi hữu lư hơn, có thể chấp nhận được, nhưng chính v́ thế mà nó nguy hiểm hơn.

Họ Mộng không quả quyết rằng Việt là Tàu thuần chủng như giáo sư Nguyễn Phương, mà chỉ nói là Tàu Hoa Bắc lai giống với Việt mà thôi.

Kiến giải nầy hấp dẫn hơn kiến giải của Nguyễn Phương bội phần v́ hai lẽ: cái sự thuần chủng rất là khó tin, chí như lai giống th́ người ta có thể nhắm mắt mà nghe, không cần kiểm soát. Lẽ thứ nh́ là nó vuốt ve ta quá lắm v́ họ Mộng cho ta làm thầy của Tàu.

Ta vừa hợp máu với họ lại vừa làm thầy của họ th́ xí xóa hằm bà lằng, thế nào xong th́ thôi, đảo Hoàng Sa của ta hay của họ cũng chẳng có ǵ quan trọng mà phải tranh chấp.

Theo thuyết trên th́ vua Thần Nông hiệu là Viêm Đế là Việt chớ không phải Tàu. Vua ấy đă giỏi nông nghiệp và bị một thủ lănh của Tàu là Hiên Viên hạ sát để cướp đất và cướp luôn cả văn minh nông nghiệp đó.

Khi nói cướp văn minh, phải ngầm hiểu là có cướp người v́ kẻ bị cướp sẽ không dạy học cho kẻ cướp đâu, mà phải bắt họ làm người Tàu, họ mới bị đồng hóa lần lần và dạy cho mà học.

Vậy người Tàu Hoa Bắc đích thị là người Việt một phần lớn.

Câu chuyện trên đây đă xảy ra cách đây 5.000 năm, tức là cái sọ chưa thay đổi, và nếu có sọ Tàu lai Việt ở Hoa Bắc th́ khoa học cũng thấy rồi và biết rồi.

Nhưng sọ người Hoa Bắc lại khác sọ người Việt Nam một cách lớn lao về chỉ số, về dung lượng, nhứt là về hai tánh cách Brachycéphale và Mésocéphale. Cũng không thấy sọ lai Tàu + Viêm nào cả ở Hoa Bắc.

Như vậy th́ nếu quả có Viêm tộc nào đó, thần dân của Viêm Đế, th́ cái Viêm tộc đó không thế nào mà là Việt được cả.

Cứ theo các cổ thư Trung Hoa th́ vua Thần Nông đánh diệt Bổ Toại. Bổ Toại là dân nào, đă dựng nước hay chưa th́ không ai biết cả, mặc dầu có sách nói mà không dẫn chứng rằng họ đă dựng nước rồi.

Kế đó các cổ thư lại cho ta biết rằng Hoàng Đế đánh diệt Xy Vưu.

Rồi vua Nghiêu đánh diệt Hoan Mâu.

Vua Thuấn đánh đuổi Tam Miêu.

Vua Vơ đánh Cung Công.

Sử Tàu chép là các vua nói trên đánh các chư hầu tàn bạo. Sự thật th́ chính các thủ lănh Tàu mới là tàn bạo. Người ta là chủ đất cũ, họ ở ngoài xâm nhập, đánh cướp đất đai của người ta, mà lại cho rằng nhứt thiết người ta tàn bạo là thế nào?

Nhưng đó là phê b́nh tư tưởng Tàu, không phải là công việc của cuộc nghiên cứu nầy.

Trong năm cuộc đánh diệt để giành giật địa bàn Hoa Bắc ấy, ta chỉ biết được có ba dân tộc là dân Khuyển Nhung, dân Cửu Lê của thủ lănh Xy Vưu và dân Miêu, không phải chỉ v́ ba thứ dân ấy hiện tồn tại, mà v́ các cổ thư Tàu có cho chút ít chi tiết để truy nguyên ra họ.

Ta không biết Bổ Toại, Hoan Mâu, Cung Công là nước, là thủ lănh hay là dân và là dân nào, v́ sách Tàu mỗi sách mỗi nói khác nhau. Thí dụ Bổ Toại có khi được gọi là nước, có khi được gọi là hậu, tức thủ lănh một chư hầu nhỏ, có khi được gọi là dân, có khi được xem là một nhơn vật và không c̣n chi tiết nào nữa hết.

Nhưng ta bỏ qua ba thứ dân ấy được, bởi khi mà các cổ thư Trung Hoa không có chi tiết nào khác là v́ dân ấy quá ít, không phải là một dân tộc lớn đáng kể. Bổ Toại th́ c̣n có thể đổ thừa rằng v́ quá lâu đời (đời Thần Nông) chớ Cung Công th́ tương đối mới đây thôi (đời nhà Hạ). Sử Tàu biết về đời Hạ rất nhiều mà không nói rơ về Cung Công, tức Cung Công chỉ là một dân tộc không làm chủ được bao nhiêu đất.

Cái ông Cung Công nầy thật là một người Việt của Kim Dung.

Thuở xưa theo các ông Tàu th́ đất Tàu vuông, trời Tàu tṛn và nóc được bốn cây cột chống đỡ.

Nhưng ở Tây Bắc, Cung Công nắm cây cột mà lay nên cột găy, làm cho trời sập ở Tây Bắc cho đến ngày nay, tức đến đời vua Vơ, kẻ hạ sát Cung Công.

V́ trời sập ở đó nên trời ở đó thấp c̣n đất th́ cao lên (?) trong khi đó đất hướng đông dĩ nhiên thấp xuống.

“Bằng chứng” (?) là bao nhiêu sông của Tàu đều chảy ra hướng đông, c̣n trăng sao và mặt trời th́ trôi ngược lại từ Đông sang Tây.

Ấy, đó là một nhơn vật tương đối hơi mới v́ Cung Công chỉ mới bị vua Vơ hạ, tức vào đầu đời Hạ mà thôi.

Nhưng không là sử nữa mà là huyền thoại bày ra để giải thích hiện tượng trăng sao mọc hướng Đông rồi đi sang hướng Tây, và về sông Tàu chảy ra hướng Đông, nhưng kẻ sáng tác ấy, quá kém cỏi v́ không ai hiểu sao mà đất Tây Bắc lại trồi lên cao chỉ v́ trời sập ở Tây Bắc.

Và kẻ ấy lại đặt câu chuyện quá gàn là đầu đời Hạ, một cách vụng về, khi ta biết quá rơ về nhà Hạ.

Thế th́ ta chỉ c̣n biết dựa vào khảo tiền sử. Khoa ấy đă đào bới và chỉ thấy sọ người Hoa Bắc và sọ của Khuyển Nhung và của Miêu tộc mà thôi (không kể những cái sọ lâu đời là sọ người Bắc Kinh cổ hàng trăm ngàn năm và chẳng dính líu ǵ tới người Tàu cả).

Thế th́ Bổ Toại, Hoan Mâu, Cung Công và Viêm, nếu có; th́ chỉ có thể là Tàu, chớ Miêu đâu có quá giỏi như các tay hiệp sĩ Tàu mà lay nổi cột trời cho trời sập. Chỉ có người Tàu mới làm nổi kỳ công ấy mà thôi.

Nhưng về Xy Vưu th́ có chắc một trăm phần trăm, v́ dân Cửu Lê tồn tại.

Chỉ đáng kinh ngạc lắm là không hề có sọ Cửu Lê.

Ta phải hiểu thế nào đây?

Vâng, Tàu đă nói đến Khuyển Nhung, đến Miêu, lại c̣n nói đến Cửu Lê.

Mà Cửu Lê th́ được nói đến nhiều nhứt, tức Cửu Lê là một dân tộc quan trọng và liên hệ giữa họ và Tàu rất là đáng kể, chớ không phải như các thứ dân khác. Nhưng người ta đă t́m lại được Cửu Lê ở nơi khác, nhưng tuyệt nhiên không có sọ Cửu Lê ở Hoa Bắc, nhưng câu chuyện th́ mới xảy ra có năm ngàn năm, tức tương đối rất mới đối với lịch sử nhân loại. Thật là kỳ lạ.

Và kỳ lạ nhứt là theo thuyết Kim Định có sự cướp văn minh. Cướp văn minh, không thể thoáng thấy mà cướp được, mà phải học hàng trăm năm, tức phải có sự hợp tác. Nhưng sọ và dụng cụ của Cửu Lê lại chỉ t́m thấy ở ngoài nước Tàu mà không hề có ở trong lănh vực Hoa Bắc.

Giáo sư Kim Định, trong Việt lư tố nguyên đă lập ra một triết thuyết, triết thuyết ấy dựa trên sử mà đó là sử riêng của giáo sư chớ không phải của Tây hay của Tàu.

Theo giáo sư Kim Định th́:

Cửu Lê = Các bộ lạc

Nhưng bộ lạc của dân tộc nào, chủng tộc nào th́ giáo sư không có nói, và cứ đọc một câu văn như vậy, ai cũng hiểu rằng đó là các bộ lạc Trung Hoa. Nhưng ở trang 114 th́ ông viết Cửu Lê với chữ Lê không có hoa, và chua là 9 thứ dân trong đó có Tam Miêu (nhưng c̣n 6 thứ dân nữa là dân nào ông không cho biết).

Đành rằng chữ Lê là dân chúng, cũng viết y hệt như Lê là dân tộc Lê, nhưng Tàu làm ǵ mà chỉ có 9 bộ lạc vào thời ấy. Họ phải có một ngàn bộ lạc, hoặc một bộ lạc độc nhứt, mà ở chương Họ chúng tôi sẽ trưng bằng chứng rằng Hoa tộc, từ cổ chí kim chỉ là một bộ lạc độc nhứt.

Như vậy trong Cửu Lê phải hiểu khác, chớ không thể hiểu là Các bộ lạc, Chín bộ lạc.

Đó là một dân tộc, không thuộc Hoa chủng, nhưng gồm 9 nhóm khác nhau chút ít, và đang làm bá chủ Hoa Bắc khi người Tàu từ Tây Bắc xâm nhập qua hành lang Cam Túc.

Ông bảo rằng Cửu trù là của Cửu dân, tức Cửu Lê. Đó là theo ư ông chớ thật ra th́, theo các cổ thư Trung Hoa, Cửu trù giản dị hơn nhiều, đó là 9 phép trị nước mà ông Cơ Tử truyền lại cho vua Vũ.

(Cái ông Cơ Tử nầy là Cơ Tử khác chớ không phải là Cơ Tử tôi của vua Trụ đời Ân đâu).

Nếu quả Cửu trù do 9 thứ dân khác chủng với Trung Hoa th́ dân đó chưa thống nhứt cho nên họ mới có đến CỬU trù, chớ đă thống nhứt rồi th́ họ chỉ c̣n có NHỨT trù mà thôi.

Nhưng vua Vũ góp nhặt 9 trù của cả 9 thứ dân th́ quả thật là lỉnh kỉnh. Hơn thế Tam Miêu, mặc dầu là 3, nhưng họ chỉ có 1 trù độc nhứt, đến nay cũng thế, cái trù đó là chế độ bộ lạc, v́ cho đến ngày nay mà họ vẫn chưa tiến lên tới chế độ phong kiến giai cấp mà c̣n ở dưới chế độ nguyên thỉ của loài người.

Rất nhiều người cho rằng Lê là Thái. Nhưng chúng tôi không tin rằng Lê là Thái.

Người Lê hiện tồn tại ở Hoa Nam, nhưng chỉ đông đảo ở Hải Nam mà thôi. Chính ông H. Maspéro bảo họ là Thái, nhưng ông V. Goloubew lại cho rằng họ có văn hóa giống hệt người Đông Sơn, và Lệ Đạo Nguyên trong Thủy Kinh Chú lại tả họ giống người Nhựt Nam.

Người Tàu chia thổ dân ở Hải Nam ra hai thứ: Sanh Lê, tức Lê sống, tức Lê c̣n dă man, ở trong rừng, và Thục Lê, tức Lê chính, tức Lê theo văn minh Tàu.

Tôi học ngôn ngữ của người Thục Lê là người Lê di cư đến Việt Nam với danh nghĩa là Tàu Hải Nam th́ thấy rằng họ nói tiếng Tàu sai giọng, như bất kỳ nhóm Tàu nào, trừ nhóm Trung Nguyên, ở gần ba kinh đô ngày xưa của Tàu, và cũng như các nhóm Tàu khác, họ c̣n giữ được lối một trăm tiếng cổ của dân tộc xưa của họ, mà danh từ cổ của Hải Nam đó là danh từ Mă Lai Nam Dương, và chúng tôi sẽ chứng minh rằng đó là Lạc bộ Mă và đồng tông với người Chàm.

Thế th́ Lê không phải là Thái mà là Mă Lai Nam Dương bị Hoa hóa. Theo chỗ chúng tôi biết chắc, bằng vào ngôn ngữ th́ là như thế đó.

Hán thư lại cũng gọi thổ dân Hải Nam là Lạc Việt, th́ cả ba nguồn V. Goloubew, Hán thư và quan sát của chúng tôi đều ăn khớp với nhau, là Lê là Lạc.

Người Chàm theo văn minh Ấn Độ, người Cao Miên, người Nam Dương cũng thế. Vậy mà mỗi lần trong nước của họ có biến lớn th́ sử chép rằng họ di cư sang Hải Nam, thay v́ đi vào Cao Miên, đi Nam Dương và đi Ấn Độ.

Ta cứ ngỡ rằng họ chạy bậy, nhưng không phải thế. Vào thời mà họ di cư sang Hải Nam th́ người Lê ở đó c̣n đồng ngôn với họ, họ biết như vậy và đó là họ chạy đúng đường.

Huyền thoại bà chúa xứ Pô Nưga của họ lấy chồng Tàu cũng v́ lẽ đó. Tàu trong huyền thoại là bọn Lạc bộ Mă bị Hoa hóa tức cũng là Chàm với nhau, và nếu trong trạm tiền sử Sa Huỳnh có dấu vết cổ vật Tàu đời Hán th́ không có ǵ lạ hết.

Dưới đời Hán, dân Hoa Nam vẫn chưa thành Tàu hẳn, mà cứ c̣n là Mă Lai bằng chứng là cho đến đời nhà Nguyên mà Marco Polo c̣n cho biết rằng dân Hoa Bắc gọi dân Hoa Nam là Mandzi tức Man di, tức việc Hoa hóa măi đến đời nhà Nguyên vẫn chưa xong.

Chỉ có điều là cả Hán thư lẫn Hậu Hán thư đều tiền hậu bất nhứt, khi th́ viết chữ Lạc với bộ Trăi, khi th́ viết với bộ Mă, nhứt là Hậu Hán thư trong có một trang sách mà ông Phạm Việp viết hai chữ Lạc khác nhau để chỉ có một thứ dân là dân ta.

Rồi ta sẽ thấy rằng quả có hai thứ Lạc, chớ không phải là Tàu viết bậy bạ, c̣n Hán thưHậu Hán thư tiền hậu bất nhứt, cũng có lư do chính đáng lắm, v́ ở Hải Nam và Việt Nam đều có hai thứ Lạc.

Thế th́ Cửu Lê là chín thứ dân Lê, mà trong đó chắc chắn là có Lạc chớ không phải là các bộ lạc nào hết, và câu văn của giáo sư Kim Định lại làm cho ta hiểu rằng đó là các bộ lạc người Tàu cổ thời.

Chữ Lê nầy viết như họ tức có Ḥa, một thứ lúa, có Nhơn, có Thủy. Có thể chiết tự mà hiểu rằng dân đó đă biết trồng trọt (Lúa Ḥa) hay chăng?

Cứ làm, và cứ hiểu như thế thử xem. Nhưng nó nghịch lại với khoa khảo tiền sử. Khoa khảo tiền sử không t́m thấy bên cạnh sọ cổ 5 ngàn năm của bọn Cửu Lê dụng cụ nào để xay, giă hay nghiền, tán, nấu, bất kỳ loại mễ cốc nào hết.

Thật ra th́ không ai biết rơ Ḥa ra làm sao, nhưng dầu sao đó cũng là một thứ mễ cốc mà mễ cốc th́ không thể ăn được nếu thiếu dụng cụ.

Vũ khí của họ bằng đá th́ dụng cụ cũng phải bằng đá chớ không thể bằng gỗ, mà dụng cụ bằng đá th́ phải c̣n. Nên biết rằng dụng cụ gỗ khó chế tạo hơn dụng cụ đá, mặc dầu gỗ mềm hơn đá. Đồ đá có thể đẽo bằng đá khác, c̣n đồ gỗ th́ đ̣i hỏi dụng cụ kim khí. Vậy nếu họ có dụng cụ để xay, giă, nghiền, tán lúa Ḥa th́ dụng cụ ấy phải bằng đá và phải c̣n cạnh sọ của họ và cạnh vũ khí của họ. Nhưng không bao giờ thấy, mặc dầu các cuộc khai quật đă đầy đủ.

Nhưng người Tàu viết chữ, không phải luôn luôn chiết tự mà hiểu đúng được ngữ nguyên v́ ba loại viết theo phương pháp Hài Thanh, Chuyển ChúGiả Tá rất là gạt gẫm.

Sử thuyết của giáo sư Kim Định dùng làm nền tảng cho triết thuyết của quyển sách nói trên là như thế nầy:

Người Tàu xâm nhập Trung Hoa (giáo sư không cho biết họ là ai, xâm nhập vào thời nào) là dân du mục. Dân ấy gặp Viêm tộc tức Việt tộc, đă biết canh nông, nhưng theo mẫu hệ chớ không theo phụ hệ như Tàu, rồi tù trưởng Hiên Viên của Tàu thắng Viêm tộc, cướp văn minh Viêm làm văn minh của họ, tự xưng là Hoàng đế.

Cửu Lê, ban đầu được tŕnh bày như là các bộ lạc Tàu thượng cổ nhưng đột ngột biến thành 9 thứ dân khác chủng với Tàu, nhưng không biết là chủng nào, rồi th́ lại được đồng hóa với Viêm Việt.

Giáo sư Kim Định chối bỏ sử Tàu và khoa khảo tiền sử, cho là sử Tàu bóp méo sự thật c̣n khoa khảo tiền sử th́ mơ hồ. Nhưng cái vụ Hiên Viện, Cửu Lê nầy lại lật tẩy giáo sư, cho thấy là giáo sư dựa trên sử Tàu rơ rệt, chỉ có khác là giáo sư hiểu theo ư muốn của giáo sư.

Nếu không có sử Tàu th́ trên đời nầy không hề có ai hay biết có một viên tù trưởng Tàu của thị tộc Hữu Hùng, tên là Hiên Viên, định cư ở Bắc Hà Nam, đă thắng 9 nhóm dân Lê dưới quyền chỉ huy của tướng Xy Vưu hết.

Theo sử Tàu th́ Hiên Viên và Xy Vưu ngang hàng với nhau đều là Hậu, tức thị tộc trưởng (chefs de clans). Thuở ấy đă có một ông vua là vua Thần Nông, hiệu Viêm đế, và giáo sư Kim Định dựa theo Mộng Văn Thông cho rằng đó là vua của Viêm tức Việt.

Nhưng theo tự điển Từ Hải trích dẫn cổ thư th́ Xy Vưu không là Hậu bao giờ hết mà là Vua. Xy Vưu cổ thiên tử, Xy Vưu bá thiên hạ.

Một dân tộc Việt có thể có hai vua chăng? Rất có thể, khi dân tộc ấy chưa thống nhứt và cả hai, Thần Nông và Xy Vưu đều là vua của một dân tộc Việt. Nhưng thật ra họ đă thống nhứt rồi, trong khối Cửu Lê.

Xy Vưu là vua của 9 nhóm Lê, điều đó th́ rất khó căi, v́ Lê tồn tại cho tới ngày nay.

Chỉ c̣n phải biết Thần Nông là vua của Tàu hay của Việt. Việt đây phải hiểu là một chi Việt v́ Việt gồm tới bốn năm chi và hàng trăm tiểu chi (Bách Việt).

Ở đây ta tạm dẹp khoa khảo tiền sử lại, để xét truyền thuyết xem ra sao. Người Tàu có truyền thuyết về vua Thần Nông là một trong nhiều vua cổ của họ, c̣n Việt Nam th́ không. Lộc Tục chỉ là cháu của Thần Nông, nhưng lai căn hai ba đời rồi.

Mà câu chuyện cũng xảy ra ở Hoa Nam chớ không phải ở Hoa Bắc. Hoa Nam là đất mà Hoa tộc có sau Hoa Bắc đến hơn hai ngàn năm.

Vậy trong truyền thuyết cũng chỉ có Tàu Hoa Bắc là giành vua Thần Nông làm tổ trực tiếp c̣n ta th́ chỉ giành làm cháu lai căn của ông ấy ở Hoa Nam mà thôi.

Đứng về mặt nào, khoa học hay truyền thuyết, Thần Nông cũng cứ là tổ trực tiếp của Tàu, và tại Hoa Bắc, c̣n ta, tại Hoa Bắc, nếu có th́ ta không là hậu duệ của Thần Nông, bởi trí nhớ của ta cũng không kém của Tàu, mà ta không rành ông đó, tức là ông không có dính líu ǵ tới ta hết.

Truyền thuyết chắc có đúng sự thật phần nào và giáo sư Kim Định đă cho truyền thuyết một địa vị lớn lao quá sức trong sách của ông, nhưng riêng về điểm nầy th́ ông lại bất kể truyền thuyết, cứ theo Mộng Văn Thông và cho rằng Thần Nông là vua Việt.

Mộng Văn Thông có dụng ư chánh trị khi nối kết Việt vào Thần Nông.

Đă bảo khi thuyết:

Việt = Hoa

của giáo sư đại học Nguyễn Phương thất bại, bị phản ứng quá mạnh rồi th́ phải có cái ǵ khác thay vào mà cứ giữ được quan niệm hai dân tộc là một.

Cái ǵ khác đó là thuyết của Mộng Văn Thông:

Hoa = Việt.

Sự nhượng bộ nầy chỉ làm cho ta hănh diện mà thôi, nhưng ta sẽ chết với sự hănh diện đó. Ta làm tổ của Tàu, Tàu không sao cả, v́ đó chỉ là tổ giai đoạn, giai đoạn thôn tính bằng sử xuyên tạc. Thôn tính xong, quyển sách của Mộng Văn Thông sẽ bị phủ nhận là sai. Thế là ta sẽ rơi trở vào địa vị tay con.

Thật ra th́ ta nghiên cứu sử, tức t́m sự thật th́ làm con cũng chẳng sao, mà làm tổ cũng chẳng sao, miễn sự thật là thế. Nhưng cả hai môn, truyền thuyết và khoa khảo tiền sử đều cho thấy Thần Nông và Cửu Lê khác chủng với nhau, khác văn minh với nhau.

Theo truyền thuyết của hai dân tộc th́ như thế đó, mà giáo sư Kim Định lại tin truyền thuyết hơn khoa học.

Dầu sao tin theo đàng nào cũng cứ có những sự kiện sau đây:

Mộng Văn Thông không đưa ra được chứng tích, c̣n khoa khảo tiền sử th́ có chứng tích. Chứng tích đó lại ăn khớp với những ǵ xảy ra từ thời Hiên Viên đến nay (1970).

Thuyết Mộng Văn Thông chưa chi đă thấy sai là:

Viêm = Miêu + Việt.

Chúng tôi có một chương riêng cho Miêu tộc. Ở đây chỉ được tóm lược lại mà thôi. Sọ Miêu và sọ Việt khác nhau rất xa, ngôn ngữ cũng thế, mà cũng không hề t́m thấy một cái sọ lai căn Miêu Việt bao giờ hết ở Hoa Bắc, như đă thấy sọ lai căn Mă Lai + Mông Cổ ở Triều Tiên.

Sọ lai căn mang hai đặc thái của hai chủng lai giống với nhau, các nhà nhân thể học xem là biết ngay.

Theo khoa dân tộc học th́ ngày nay Miêu tộc c̣n chăn nuôi giỏi hơn là làm ruộng và chưa tiến đến chế độ phong kiến giai cấp, tức là c̣n ở chế độ bộ lạc. Thế th́ vào thời Hiên Viên, họ chưa biết nông nghiệp được đâu. Chữ Điền trong chữ Miêu không hề có nghĩa là họ biết làm ruộng, vả lại văn tự th́ chỉ mới có về sau, lối đầu đời Thương, chớ vào thời Hiên Viên th́ không có bằng chứng là có văn tự.

C̣n chữ Hữu ở trước chữ Miêu, không có nghĩa là có ruộng như giáo sư nói. Theo tự điển Từ Hải th́ chữ Hữu dùng trước các họ, các dân tộc, chỉ là trợ từ: Hữu Miêu, Hữu Sào, Hữu Hùng, Hữu Ngu.

Vậy có thể loại Miêu ra khỏi Viêm tộc, chỉ c̣n Lạc và Lê mà thôi.

H́nh như là Mộng Văn Thông vẫn có biết kết quả của khảo tiền sử ở Á Đông, nhưng một là không thông ngoại ngữ, ông ấy đọc sách không vỡ nghĩa, hay là ông có mưu đồ chánh trị th́ không rơ.

Quả thật thế, ông bảo rằng trước khi Hoa tộc đến th́ Viêm = Miêu + Việt làm chủ toàn thể Hoa Nam ngày nay, rồi th́ từ Hoa Nam họ tràn lên Hoa Bắc.

Khảo tiền sử cũng nói hơi tương tự như thế, nhưng lại khác xa, nếu ta hiểu được chữ nghĩa của họ.

1)      Miêu không bao giờ dính với Việt bất cứ về phương diện nào: Chủng tộc, ngôn ngữ, truyền thuyết, vật tổ.

2)      Việt Hoa Bắc không phải là Việt Hoa Nam tràn lên, bằng chứng là ngôn ngữ căn bản của họ có khác nhau, Việt Hoa Nam nói cái cẳng, Việt Hoa Bắc nói cái chơn, hai thứ Việt đó, Việt Hoa Nam không hề biết danh từ chơn, Việt Hoa Bắc không hề biết danh từ cẳng, chỉ có Việt Nam là biết đủ thứ v́ là Việt hỗn hợp. Cả Nhựt, Chàm, Phú Nam cũng đều là Việt hỗn hợp nhưng họ chỉ biết cẳng mà không hề biết chơn.

Nói các ông ấy có âm mưu chánh trị h́nh như oan cho ông ấy chăng v́ một câu khác của các ông chứng tỏ các ông đọc sách không vỡ nghĩa. Ông Vương Đồng Lĩnh mà giáo sư Kim Định có trích dẫn cho rằng dân ở Thiên San chia thành hai nhóm, một nhóm sang Tây làm thủy tổ da trắng, một nhóm sang Đông làm thủy tổ da vàng.

Nhưng khoa chủng tộc học th́ dạy rằng chủng nầy không thể biến thành chủng khác được, trắng là trắng, vàng là vàng không kể chủng trung gian trắng vàng là Hoa chủng… Nhưng Hoa chủng là một chủng lai y hệt như Ấn Độ. C̣n các chủng ở Âu Châu (mà thật ra th́ có một chủng tộc độc nhứt, đó là chủng Ấn Âu) th́ không phải là chủng lai.

Dĩ nhiên là da trắng c̣n hai chủng nữa là chủng Hamite và Sémite, nhưng hai chủng nầy th́ chẳng liên hệ đến Tàu.

Có lẽ họ Vương ngỡ khí hậu biến dân da vàng thành ra Pháp, Đức, Nga được như chơi. Nói đến chủng lai th́ có chủng độc nhứt đó là Hoa chủng. Người Aryen cũng lai, nhưng họ chỉ là một nhóm chớ không phải một chủng. Họ trắng nhưng lai với Mă Lai Dravidien, mà Dravidien là Mă Lai, tức vàng, nhưng trước khi lai với Aryen đă bị lai với Mê-la-nê, nên đă đen da, thành thử cái sọ, của người Ấn Độ mang đến ba yếu tố:

Ấn Âu: trắng

Dravidien: vàng

Mê-la-nê: đen

Người Cao Miên cũng thế nhưng ít lai với da trắng mà lại lai nhiều với da đen, thành thử họ xấu người hơn ta nhưng lại nói tiếng Tây giống Tây hơn ta.

Làm thế nào để biết Thần Nông là vua của Tàu hay vua của ta?

Chúng tôi không dám trèo đèo viết sách cho giáo sư đại học xem, vả lại giáo sư Kim Định không tin khoa học mà chúng tôi th́ dựa vào khoa học th́ đừng mong ǵ.

Vậy chúng tôi xin trao sách nầy cho những ai tin khoa học.

Muốn biết người xưa, khoa khảo tiền sử đào bới để t́m sọ, vũ khí và vật dụng của họ.

Đào xong, khoa đó cũng chưa biết cái ǵ hết. Cả đến nhà bác học Einstein cũng sẽ mù tịt khi ta đưa ra trước mặt ông ấy hai ba cái sọ, ông ấy cũng chỉ thấy đó là hai ba cái đầu lâu, không hơn không kém.

Nhưng có một khoa học kia th́ biết rơ. Đó là khoa chủng tộc học (Anthropologie physique) mà trước đây ta gọi là nhân chủng học.

Vậy các nhà đào bới đă nhờ khoa đó tại Hoa Bắc và khoa đó đă tiết lộ những điều kỳ dị hết sức là các thứ sọ Hoa Bắc chỉ thuộc ba chủng c̣n để hậu duệ lại cho đến ngày nay:

  1. Sọ Trung Hoa

2.      Sọ Miêu

3.      Sọ Khuyển Nhung ở Tây Thiểm Tây, mà sọ Khuyển Nhung chỉ là sọ Miến Điện, mà sọ Miến Điện chỉ là sọ Mă Lai.

(Chúng tôi không thể kể những sọ không c̣n hậu duệ, chẳng hạn như sọ của thứ người gọi là người Bắc Kinh sống cách đây mấy trăm ngàn năm, y không phải là tổ tiên của người Tàu là kẻ mới đến sau).

Kỳ dị là không hề có sọ Cửu Lê, sọ Lạc, sọ Việt hay sọ nào khác để đặt tên là Viêm chẳng hạn.

Nhưng sử Tàu đă nói đến Cửu Lê đến Lạc và đến Lạc Lê, lại nói rơ địa bàn của họ nữa, về Lạc-Lê th́ họ đích xác hơn về Miêu rất nhiều th́ ta mới hiểu sao đây?

Không thể cho rằng sử Tàu dựng đứng lên Lê và Lạc, để làm ǵ chớ? Thế th́ hẳn Lê và Lạc phải có.

Như vậy ta tạm hiểu rằng Lê và Lạc làm chủ Hoa Bắc không lâu là bị Tàu đánh đuổi, nên không có để dấu vết lại.

Giả thuyết nầy, sẽ thấy là đúng, qua những sự kiện về sau. Mà như thế th́ vấn đề Thần Nông đă được giải quyết.

Thần Nông biết nông nghiệp c̣n Miêu th́ không, như khoa dân tộc học đă chứng minh và như tự điển Từ Hải đă giải thích rằng Hữu Miêu không phải là có ruộng, mà Hữu chỉ là trợ từ.

Thần Nông cũng không phải là Khuyển Nhung v́ Thần Nông ở tại rún địa bàn Hoa Bắc cổ thời c̣n Khuyển Nhung th́ chỉ ở Tây Thiểm Tây.

Như thế th́ Thần Nông chỉ có thể là Tàu cho dẫu y là vua hay là một đợt văn minh nông nghiệp bị Chu Nho ngây thơ theo lối Evhémère biến thành nhơn vật.

C̣n Lê và Lạc th́ cũng ở ngoài b́a nước Tàu thượng cổ ấy (Nam Hà Nam và Sơn Đông) chớ không có ở tại rún của quốc gia đó bao giờ.

Dầu sao th́ vào thời thượng cổ Cửu Lê và Lạc đă làm chủ Hoa Bắc thật sự v́ biến cố Hiên Viên, Xy Vưu là một biến cố lớn của thời ấy, không như vụ cầm tù lănh tụ Miêu tộc là một sự kiện lặt vặt.

Nhưng lại không hề có sọ Cửu Lê và sọ Lạc ở Hoa Bắc thế nghĩa là làm sao?

Những cái sọ Lạc không t́m thấy ấy, rồi họ sẽ t́m thấy nơi khác, cạnh nước Tàu, nhưng ta vẫn phải nh́n nhận rằng ở Hoa Bắc có Cửu Lê và có Lạc, chỉ có điều là họ làm chủ chưa lâu là bị Hiên Viên đánh đuổi ngay.

Ở đây, sự suy luận phải thật gắt gao và siêu chính xác, v́ sai một li là đi đời cả thượng cổ sử Hoa và Việt.

Theo sử Tàu th́ Thần Nông làm vua được 8 đời mới bị Hiên Viên diệt. Tám đời vua th́ phải lâu, và phải có để dấu vết lại.

Trong khi đó th́ Cửu Lê không hề có để lại một tí dấu vết tại đất Hoa Bắc.

Như thế th́ làm thế nào mà Thần Nông, là vua của dân Lê và Lạc được?

Bằng như nói Thần Nông thuộc Miêu, th́ chúng tôi đă bác rồi là Hữu Miêu không có nghĩa là có ruộng và ngày nay họ c̣n giỏi chăn nuôi hơn là trồng trọt th́ không làm sao mà cách đây 5.000 năm họ đă giỏi nông nghiệp hơn Tàu.

Viêm chăng? Không có cái sọ nào khác hơn là sọ Tàu và sọ Miêu để cho Mộng Văn Thông đặt tên là Viêm hết.

Khuyển Nhung chăng? Khuyển Nhung định cư ở Tây Thiểm Tây, không liên lạc được với Thần Nông v́ Đông Thiểm Tây là của Tàu. Như vậy Khuyển Nhung cũng không thuộc Thần Nông. Khuyển Nhung lại có sọ Mă Lai.

Việt chăng? Không có cái sọ Việt nào ở Hoa Bắc hết.

Vậy Viêm tộc không bao giờ có trên đời nầy.

Viêm bang chỉ là danh xưng mà Tàu đă bày ra về sau, để chỉ nước ta v́ nước ta viêm nhiệt, c̣n Viêm phương là danh từ mà Tàu đă bày ra trong đời Chu để chỉ mơ hồ phương Nam của Tàu. Chỉ có thế thôi.

Có lẽ quả thật Thần Nông là nhóm Tàu đă bày ra nông nghiệp c̣n Hiên Viên th́ không, nhưng họ cũng chỉ là Tàu với nhau. Bằng chứng trong một nước có so le văn hóa, thấy rơ trong Hậu Hán thư tả Giao Chỉ đă giỏi làm ruộng c̣n Cửu Chơn th́ chưa biết nông nghiệp. Thần Nông và Hiên Viên có khác nhau về sinh kế là cũng ở trong trường hợp đó.

C̣n ông ấy lấy hiệu là Viêm Đế là v́ lư do nào không rơ, chớ không v́ ông ấy là vua của chủng Viêm mà chúng tôi quả quyết là không có, hoặc nếu có th́ cũng chỉ là một nhóm Tàu họ lấy tên là Viêm có thể v́ nhóm đó biết lửa trước nhóm Hiên Viên. Mà như vậy là dân tộc chớ không phải là chủng tộc nữa.

Nhưng thật ra th́ vua Thần Nông không bao giờ có, thế th́ Viêm Đế cũng không bao giờ có. Giáo sư Kim Định cũng đồng ư với các nhà bác học Tây phương (mà ngày nay các nhà bác học Trung Hoa cũng đồng ư như vậy) là họ chỉ là một nhóm người Tàu văn minh trước các nhóm người Tàu khác, mà các Chu Nho ngây thơ theo tinh thần Evhémère đă biến thành một nhơn vật.

Không tin Thần Nông là một nhơn vật, nhưng giáo sư lại tin rằng kẻ không phải là một nhơn vật đó lại có vương hiệu là Viêm Đế, tức vua của dân Viêm.

Ông ấy có hay là không? Nếu không th́ không sao mà có vương hiệu cả và cái vương hiệu là Viêm không có th́ thế nào có dân Viêm mà ông bảo rằng Viêm Đế là vua của dân Viêm ?

Không ai biết Cửu Lê là 9 thứ dân nào, và mỗi thứ tên là ǵ, nhưng có điều chắc chắn là cạnh dân Lê, sử Tàu đặt hai thứ dân khác là Lạc-Lê và Lạc.

Chúng ta thử t́m, nhưng không được. Hiện nay các thứ cổ dân làm chủ đất Trung Hoa đều c̣n đủ mặt ở bên Tàu. Người Tàu không biết chủng tộc học, nên sách giáo khoa của họ ngày nay cũng cứ tiếp tục đếm tên từng nhóm, như Ngũ Miêu, và sáu bảy thứ Thái khác nhau mà họ gọi là Bạch Di, Cần Di, Nông (Nùng) Thái, Lô Lô, Thổ, Đồng, Khát Lăo, v.v. không phân biệt chủng tộc nào hết.

Nhưng khoa chủng tộc học và dân tộc học phân biệt như sau:

  1. Chủng Miêu gồm 5 thứ

b.      Chủng Cổ Mă Lai gồm 4 thứ Lạc và 6, 7 thứ Thái

Tất cả những thứ ấy chỉ ở Hoa Nam, nhưng xưa kia đều làm chủ Hoa Bắc, trước khi người Tàu đến, nhưng không phải là Cửu mà nhiều hơn thế kia, hoặc chỉ có nhị nếu dựa vào chủng tộc.

Thế th́ Cửu của Tàu chỉ dựa vào sự quan sát, có thể cũng đủ số cửu thật đó, vào cổ thời, những thứ khác vốn chỉ có mặt ở Hoa Nam, mà Hoa Nam th́ họ chưa chiếm nên chưa biết.

Nếu dựa vào chủng tộc học, ta biết rằng họ chỉ gặp có hai chủng mà thôi là chủng Miêu và chủng Mă Lai nhưng Miêu th́ chắc chắn không có mặt trong cái Cửu đó, v́ cho tới ngày nay họ vẫn c̣n kém th́ cách đây 5 ngàn năm họ chưa đủ sức đương đầu với Tàu.

Nếu dùng ức thuyết th́ Cửu Lê là chủng Mă Lai, và gồm các nhóm Thái và Lạc, có mặt ở Hoa Bắc vào thuở đó (mà không có Miêu).

Nhưng khoa khảo tiền sử lại đào bới hoài mà không gặp sọ Mă Lai tại Hoa Bắc. Đó là một sự lạ, trái ngược với ức thuyết của chúng tôi, nhưng mà rồi sẽ giải thích được rơ ràng.

Vậy Xy Vưu là Cổ Thiên Tử của 9 nhóm dân Mă Lai. Đó là nói tiên tri trước vài mươi trang, chớ ta chưa thấy Thái và Lạc là Mă Lai bao giờ cả, nhưng rồi ta sẽ thấy.

Dân Cửu Lê ở đâu? Hiên Viên đánh thắng họ tại Trác Lộc (Bắc Hà Nam) ở trên sông Hoàng Hà. Có lẽ đó là trung tâm của họ.

Rồi họ có ở lại hợp tác sau khi vua họ là Xy Vưu bị hạ sát hay không? Đă bảo họ có sọ y hệt như sọ Mă Lai, mà ở Hoa Bắc lại không t́m thấy sọ Mă Lai.

Thế nghĩa là họ bị tàn sát hết hoặc chạy trốn hết. Nhưng cái việc tàn sát hết đó, không thể xảy ra được, khi mà đất trống c̣n quá nhiều để cho họ chạy trốn.

Sử Tàu có nói đến Vũ Xy Vưu. Có lẽ đó là vài mươi tên tù binh bị bắt mà không có khí giới, và làm nô lệ cho Tàu, múa (vũ) cho họ xem, chỉ có thế thôi, và chỉ có vài mươi tên, nên không c̣n sọ.

Không phải sọ nào cũng c̣n được sau 5 ngàn năm mà trong 10 ngàn cái chưa dễ có một cái chưa thành tro.

Khi mà khoa khảo tiền sử t́m được 5 cái sọ của chủng nào đó th́ người ta đoán biết rằng chủng ấy có mặt đông ít lắm cũng tới 50 ngàn người.

Cạnh người Lê và ngăn Lê và Lạc làm đôi là dân Lạc-Lê, có lẽ là một nhóm lai căn giữa Lê và Lạc. Tuy cả hai Lê và Lạc đều đồng chủng Mă Lai với nhau, nhưng vẫn có khác, nên một cuộc hợp chủng mới cho đẻ ra nhóm Lạc-Lê, y hệt như trên Cao nguyên ta hiện nay, tất cả đều là Mă Lai. Nhưng Sơ Đăng khác Bà Na, Bà Na khác Gia Rai.

Ta không biết địa bàn của Lạc-Lê, nhưng địa bàn của Lạc th́ được biết. Rợ Lạc bộ Trăi có địa bàn ăn khớp với rợ Đông Di, tức tỉnh Sơn Đông và ở trên nữa, tức tỉnh Hà Bắc.

Rợ Lạc nầy viết khác với rợ Lạc ở Thiểm Tây, Lạc ấy viết với bộ Chuy, c̣n Lạc nầy viết với bộ Trăi, cũng đọc là Trĩ, tức con sâu không chơn, và không có nghĩa ǵ cả, bởi thói quen của người Tàu là viết tên các thứ dân kém mở mang hơn họ bằng những bộ Trùng, bộ Khuyển, bộ Thỉ, v.v... Người Đao một chi của Miêu tộc đă bị viết với bộ Khuyển từ hơn ba ngàn năm nay, măi đến nay mới được viết lại với bộ Ngọc.

Dầu sao họ cũng biết Khuyển Nhung và Đông Di là Lạc v́ địa bàn Khuyển Nhung ăn vào địa bàn Lạc bộ Chuy, c̣n địa bàn Đông Di ăn vào địa bàn Lạc bộ Trăi.

Rồi ta sẽ biết Lạc-Lê và Lạc là ai, rồi họ đi đâu.

Nhưng tại sao họ không có mặt trong trận đánh với Hiên Viên? Không, không có bằng chứng là không có họ. Cửu Lê gồm có Lạc-Lê và Lạc mà Cửu Lê bị đánh th́ Lạc và Lê cũng không thoát.

Ta sẽ biết Lạc là ǵ, rồi họ đi đâu, sau khi bị Hiên Viên diệt. Sự “đi đâu” của họ, phải có nguyên nhơn, mà nguyên nhơn đó là sự đánh diệt của Hiên Viên, vậy họ phải có mặt trong trận Trác Lộc, mặc dầu địa bàn của họ không phải ở Trác Lộc.

Theo sử Tàu th́ Lạc bộ Trăi là rợ Đông Di, có địa bàn ở sông Bộc và cũng được gọi là Bách Bộc, mà sông Bộc chỉ cách Trác Lộc có 10 cây số. Thế th́ Cửu Lê bị đánh ở Trác Lộc, phải có mặt Lạc.

Đă biết. Hoa chủng không c̣n gặp ai nữa cả, tại Hoa Bắc, theo khoa khảo tiền sử th́ họ chỉ gặp có hai chủng: Miêu chủng và Mă Lai chủng.

Mă Lai chủng phương Tây là Khuyển Nhung th́ đă rơ. C̣n sọ Khuyển Nhung và đó là sọ Miến Điện, tức sọ Mă Lai. Lại có dấu vết Khuyển Nhung di cư đi Miến Điện.

Nhưng không hề thấy dấu vết của sọ và vũ khí của Lê và Lạc ở địa bàn của Lê và Lạc. Thật là phiền cho giáo sư Kim Định v́ nó không ăn khớp với cái vụ ăn cướp văn minh Việt mà Tàu là thủ phạm.

Đă bảo một nền văn minh không bắt chước được khi thoáng thấy, mà phải học. Nhưng chủ nhân của nền văn minh đó lại biến mất, không để dấu vết lại th́ phải làm thế nào?

Thế nên chúng tôi mới bác bỏ cái đám cướp tưởng tượng đó và chủ trương một lối thấy khác nữa là cái ông Cổ Thiên Tử Xy Vưu đó, đến làm chủ Hoa Bắc không tới 10 năm là đă gặp rủi ro, là sự xâm nhập của Tàu, chớ nếu ông ta đă làm vua ở đó lâu đời rồi th́ thế nào sọ và vũ khí của dân Cửu Lê cũng c̣n sót lại, ít lắm là một cái.

Làm vua mới có 10 năm, hoặc 5 năm, chưa có ai kịp chết hầu để sọ lại, rồi th́ bị đánh đuổi và chạy đi mất hết, nên mới không để dấu vết ở Hoa Bắc.

Và như vậy th́ không có vấn đề Tàu ăn cướp văn minh nông nghiệp tại Hoa Bắc.

Họ có ăn cướp của Miêu chăng? Cũng không, v́ cho tới ngày nay mà Miêu vẫn c̣n giỏi chăn nuôi hơn là trồng trọt th́ cách đây 5.000 năm, họ không thể đă biết nông nghiệp trước Tàu.

Giáo sư Kim Định nói Hữu Miêucó ruộng đă bị từ điển Từ Hải đính chánh. Các nhà dân tộc học Âu Mỹ phỏng đoán Miêu làm ruộng rất dở v́ có Thảo ở trong Điền. Làm ruộng mà để cỏ mọc trên ruộng là quá dở. Lối giải thích đó không chắc đúng, nhưng có vẽ đứng vững hơn.

Sự vắng bóng của sọ Lạc ở Hoa Bắc, nhưng lại có mặt tại Đại Hàn, Nhựt Bổn, Đài Loan, Hải Nam, Việt Nam vẽ ra lộ tŕnh một cuộc di cư vĩ đại từ Hoa Bắc và chính v́ thế mà chúng tôi mới kết luận rằng Lạc và Lê làm chủ Hoa Bắc có lẽ không tới mười năm th́ bị Hiên Viên đánh đuổi đi.

Và Hiên Viên là thủ lănh của bọn Tàu xâm nhập, chớ trước Hiên Viên không có Hữu Sào, Phục Hi, Toại Nhân ǵ cả đâu.

Quả thật thế, sử Hy Lạp cho biết rằng Nhục Chi và Mông Cổ đều đă biết lửa. Thế th́ tại sao con cháu của Nhục Chi và Mông Cổ phải đợi Phục Hi và Toại Nhân nào đó vào nước Tàu rồi mới dạy cho làm lửa?

Truyền thuyết Tàu đă lầm lẫn địa bàn. Họ nói đến một nhơn vật Mông Cổ hay Nhục Chi ở ngoài nước Tàu. Nếu truyền thuyết Nhục Chi và Mông Cổ mà thọ như truyền thuyết Tàu, th́ họ cũng có hai nhơn vật y hệt như thế, mà đó mới là Toại Nhân và Phục Hi thật sự.

Hoa tộc xâm nhập Trung Hoa là đă biết lửa rồi.

Thế nghĩa là Toại Nhân, Phục Hi, nếu quả là hai nhơn vật chớ không phải là hai đợt văn minh, th́ đó là hai nhơn vật hoặc Nhục Chi, hoặc Mông Cổ, ở ngoài nước Tàu.

Hiên Viên mới đích thực là một trong hai lănh tụ, lănh tụ thứ nh́ là Thần Nông. Hai nhóm đó diệt nhau, chỉ là một cuộc tranh chấp nội bộ giữa Tàu với nhau mà thôi, chẳng dính líu ǵ với ta cả.

Truyền thuyết Tàu đă lầm lẫn địa bàn, mà truyền thuyết của dân tộc nào cũng thế. Chúng ta sẽ thấy rằng truyền thuyết Việt cũng lầm lẫn địa bàn không kém Tàu chút nào hết.

Và nếu ta nhận ra rằng Lạc-Lê làm chủ nước Tàu không lâu, không hơn mười năm th́ nhóm Thần Nông không thể đă truyền ngôi được 8 đời, như sử Tàu đă chép. Nếu Thần Nông là Việt như giáo sư Kim Định nói th́ hai chủng tộc đó phải diệt nhau tức th́ khi chạm trán với nhau, chớ cuộc giành giật đất đai suốt tám đời vua, nếu có, truyền thuyết Tàu đă có nói đến, và các cổ thư Tàu đă có chép truyền thuyết ấy.

Có lẽ v́ thế mà Tư Mă Thiên chỉ bắt đầu từ Hiên Viên chăng? Nhóm Thần Nông có thể chỉ làm vua trên đường xâm nhập, bởi cũng nên biết rằng xâm nhập đất đă có chủ: Miêu, Khuyển Nhung, Lạc-Lê, không phải đầu hôm sớm mai mà vào được mà phải mất hàng ngàn năm.

Về vụ Xy Vưu và Cửu Lê ta chỉ có thể lập ra ức thuyết mà không mong có cuộc khám phá nào mới lạ nữa, v́ như đă nói, khoa khảo tiền sử ở Hoa Bắc đă được làm xong rồi.

Ta giả thuyết rằng Cửu Lê, từ đâu chưa biết, nhưng thuộc chủng Mă Lai, theo khoa khảo tiền sử, xâm nhập đất Hoa Bắc đă có chủ rồi là Miêu chủng.

Nhưng v́ Miêu chủng quá kém, nên họ làm bá chủ ở Hoa Bắc cho nên Xy Vưu mới được gọi là Cổ Thiên Tử.

Nhưng họ chỉ mới làm chủ có 5, 7 năm ǵ đó th́ bị Hiên Viên đánh đuổi. Họ bị tàn sát. Những kẻ c̣n sống sót di cư đi Đại Hàn, Nhựt Bổn, Đài Loan, Hải Nam, Việt Nam, nhưng lại vắng bóng ở Hoa Bắc.

Có thể nào mà họ từ Hoa Nam mới tràn lên đó chăng? Không, v́ nếu thế th́ khi bị Hiên Viên đánh đuổi, họ lui trở xuống Hoa Nam chớ không phiêu lưu mạo hiểm trong một cuộc di cư xa xôi và khó khăn như thế vào cái thời mà loài người chưa thạo đi biển mà cũng chưa có phương tiện hàng hải đáng kể.

Họ không lui về Hoa Nam mà cũng không xâm lăng Hoa Nam v́ họ biết rằng Hoa Nam đă có chủ rồi, và chủ ấy là ai rồi ta sẽ thấy.

Khi tràn vào Hoa Bắc, kẻ tiên phong phải là Lạc bộ Trăi, v́ như ta biết th́ Lạc bộ Trăi có địa bàn ở cực Đông Hoa Bắc, tức là họ phải là bọn đi đầu mới tới biển trước 8 nhóm khác.

Những ǵ nói ra trên đây hơi sớm nhưng tại đă đến lúc phải nói. Nhưng rồi ta sẽ thấy rơ ở chương Mă Lai chủng.

Lạc là ai, ra thế nào, và tại sao được Tàu gọi là Lạc?

Chúng tôi chỉ có thể tŕnh diện Lạc ở chương Mă Lai chủng nhưng ở đây cũng xin nói sơ qua rằng Lạc có địa bàn như trên và lâu lắm về sau mới nghe sách Tàu chép rằng rợ Đông Di xâm ḿnh và nhuộm răng đen.

Có đến 5 thứ Lạc nhưng Tàu chỉ biết có ba thứ thôi, và biết vào ba thời đại khác nhau. Dưới thời Hiên Viên họ gộp Lạc vào Cửu Lê, nhưng có lẽ đến đời Hạ Thương th́ họ biết rằng rợ Đông Di là Lạc, v́ sau đó họ chép rằng Cơ Tử khi đi khai hóa rợ Tam Hán, mà họ biết rằng rợ Tam Hán là hậu duệ của Lạc bộ Trăi từ Đông Bắc Trung Hoa di cư sang Triều Tiên.

Họ cũng biết rằng Khuyển Nhung là Lạc bộ Chuy, nhưng họ không chắc lắm nên tự dạng Lạc bộ Chuy, về sau bị bỏ, và được một quyển sách đời sau dùng lầm để chỉ ta, đó là quyển Giao Châu ngoại vực kư.

Đến đời Chu th́ họ biết rằng dân Việt ở Hoa Nam cũng là Lạc, nhứt là dân Thất Mân, và chỉ bọn Lạc đó bằng tự dạng Lạc bộ Mă.

C̣n hai thứ Lạc nữa mà họ biết rất trễ, không rơ vào thời nào, có lẽ cuối Chu cũng nên, nhưng không có gọi hai thứ đó là Lạc bao giờ cả, có lẽ v́ hai thứ đó tự xưng khác.

Đó là người Khơ Me mà họ phiên âm là rợ Khương ở tỉnh Tây Khương và người Thái mà họ gọi là Âu vào đời Tần.

Lạc là ǵ?

Là danh tự xưng được Tàu phiên âm và đọc là Ló mà ta thoáng thấy rằng danh tự xưng đó là Lai. Việc phiên âm của Tàu về các đời sau, khá đúng, nhưng vào thời thượng cổ, xem ra không đúng lắm.

Họ có âm Ai chớ không phải là không có mà bảo rằng v́ thiếu âm nên phiên âm sai. Nhưng buổi ban đầu tiếp xúc, thường th́ dân tộc nào cũng gọi sai các dân tộc khác, thí dụ ta đă gọi Pháp là Ḥa Lan, rồi Hạ Lan, c̣n Âu Châu th́ gọi Mă Lai Nam Dương là Ấn Độ.

Và cho đến danh tự xưng của họ, họ cũng làm thế, có nhóm chỉ tự xưng là Mă không mà thôi, chớ không có Lai. Có nhóm lại tự xưng là Mă Đa, thí dụ sử Chàm đă chép rằng họ đă diệt một tiểu bang tên là Mă Đa tại lối Phú Yên, tiểu bang đó cũng là Mă Lai như họ, và ở miền Nam có một nhóm Thượng tự xưng là Mạ và nói tiếng Mă Lai (nhưng các ông Tây lại sai lầm mà cho rằng Mạ nói tiếng Cao Miên).

Ta cứ ngỡ rằng sách Tàu viết chữ Lạc lộn xộn bậy bạ có khi với bộ Trăi, có khi với bộ Mă, có khi với bộ Chuy.

Nhưng cái sự lộn xộn của Tàu thật ra là sự trật tự đấy, v́ khoa khảo tiền sử khám phá ra rằng quả có ba thứ Mă Lai, một thứ di cư từ Hoa Bắc xuống Việt Nam, một thứ nằm sẵn tại Hoa Nam, rồi cũng di cư đi Việt Nam. C̣n Lạc bộ Chuy là Khuyển Nhung, một chi Mă Lai, sẽ thành Miến Điện về sau.

Hai thứ kia là Khơ Me và Thái th́ họ chỉ mới biết cũng là Mă Lai gần đây thôi.

Phải phục các ông Tàu đời Chu là giỏi.

Cho tới nay, thiên hạ than phiền về ba tự dạng Lạc bể đầu ấy lắm, không biết tại sao Tàu viết lộn xộn đến thế. Nhưng rơ ra th́ họ đă biết là có ba thức Lạc, ngay từ đời Chu rồi, và đáng sợ hơn nữa là họ chỉ đích xác người Phúc Kiến, tức Thất Mân, bằng chữ Lạc bộ Mă, luôn luôn như vậy, mà Thất Mân, theo khoa khảo tiền sử th́ đích thị là Mă Lai đợt II, mà chúng tôi sẽ tŕnh diện rơ hơn.

Ấy thế mà sử gia Nguyễn Phương của ta lại nói rằng sử gia Tàu không biết Lạc là ǵ, nên quá bối rối t́m cách giải thích liều lĩnh nhưng không xong.

Lần lần ta sẽ thấy rằng họ biết Lạc rơ cũng gần bằng khoa khảo tiền sử ngày nay.

Các bản đối chiếu ngôn ngữ sẽ cho ta thấy Việt ngữ gồm cả ba loại danh từ của cả ba thứ Lạc đó, họ có một số danh từ giống hệt nhau, nhưng cũng có một số danh từ khác nhau. Nhưng Việt Nam lại có đủ cả ba v́ ta là Lạc hỗn hợp.

Người Tàu c̣n biết nhiều hơn nữa kia và ăn khớp với khoa khảo tiền sử, và lần lần, ta sẽ thấy rơ như ban ngày trong thượng cổ sử của ta.

Rồi chúng ta lại thấy bọn Lạc-Lê tái xuất hiện ở Việt Nam, cũng với tên xưng hơi giống giống Lạc-Lê.

Ta cứ ngỡ nhóm trung gian Lạc-Lê mà các cổ thư Trung Hoa nói đến, quá nhỏ nên bị tàn lụn rồi, nhưng họ c̣n có mặt ít lắm là vào thời Hùng Vương 16, 17, 18 và chúng tôi hồ nghi có căn cứ rằng người Hải Nam cũng là Lạc-Lê chớ không là Lạc thuần túy, bằng vào Thủy Kinh Chú trong đó Lệ Đạo Nguyên tả dân Hải Nam giống dân Nhựt Nam mà dân Nhựt Nam th́ đích thị là Lạc-Lê, theo nghiên cứu riêng của chúng tôi.

Như vậy là Lê thuần túy không c̣n nữa, v́ sách giáo khoa mới nhứt của Tàu gọi dân Hải Nam là Lê, nhưng họ lại chỉ là Lạc-Lê, hoặc Lê là danh phiên âm tối cổ, trước khi có danh phiên âm Lạc cũng không chừng, và Cửu Lê, chỉ là Cửu Lạc mà thôi, bởi Lê th́ Tàu đọc là Lỉa, mà Lỉa cũng không xa nhau cho lắm, bằng chứng là đời Hán đến đời Đường, họ phiên âm tên nước Cam-bu-chia đến ba cách khác nhau: Cam Bố Tŕ, Cam Phá Giá rồi Giản Phố Trại, mà đó là thời họ đă văn minh rồi, làm việc cẩn thận hơn vào đời Hiên Viên nhiều lắm rồi, mà họ c̣n phải ṃ mẫm như vậy gần mười thế kỷ mới phiên âm thật đúng danh tự xưng của một dân tộc.

Riêng Lạc bộ Trăi di cư đi Triều Tiên th́ đến tới Tây Chu họ đă phiên âm thật đúng. Họ gọi rợ Tam Hàn là Lai di. Họ đă mất hai ngàn năm mới lần ḍ từ Lạc đến Lai được.

Ông H. Maspéro là một nhà bác học chưa học khoa chủng tộc học, nên khi nghe Granet khám phá ra những tục dâm đăng của người Tàu qua những bài thơ trong Kinh Thi, mà chính người Tàu cũng không hề thấy sự kiện đó mà c̣n được Khổng Tử khen nữa, và khi thấy người Thái Thượng du Bắc Việt cũng có phong tục y hệt như vậy, ông kêu to lên: “Thái là người cổ Trung Hoa” (Pré-chinois).

Ông có biết đâu rằng dân tộc nào cũng trải qua các giai đoạn tiến hóa gần giống nhau và Tàu đời Thương, Chu, giống Thái thời nay, không hề có nghĩa là Thái là cổ Trung Hoa.

Giáo sư Kim Định cũng làm y hệt như vậy, đưa những đám hát trống quân, hát quan họ của ta rồi so sánh với Kinh Thi và cho rằng ta là cổ Trung Hoa.

Nên biết rằng những bài thơ trong Kinh Thi phần lớn là dân ca, được sáng tác trước thời dân Tàu có lễ giáo điệu nhà nho. Dân Tàu đă có dâm phong thật sự vào thời ấy và đó là sự dĩ nhiên không hề chứng tỏ Thái và ta là cổ Trung Hoa.

Cũng nên xét qua về hai lối định một câu nhận xét Kinh Thi của Khổng Tử. Ông Nguyễn Hiến Lê dịch là: “Không dâm”, nhưng ông Trần Trọng Kim dịch là: “Không nghĩ xằng”.

Ta xem nguyên văn th́ thấy là “không nghĩ xằng”. Mà ai không nghĩ xằng? Không phải độc giả đâu nhé. Khổng Tử nói đến tác giả của những bài dân ca đó, họ chỉ tả đúng phong tục thời đó, chớ không có ư khiêu dâm. Tâm vô tà là tâm của tác giả các bài ca, chớ không phải là tâm người đọc, v́ người đọc tuyệt nhiên không thấy sự thật ẩn trong đó, trước khi ông Granet khám phá ra, th́ họ làm sao mà có tà tâm được.

Nhưng Khổng Tử vốn có thấy, y như Granet, v́ thế mà nghĩ phải đưa ra nhận xét trên, để binh vực các tác giả đó, khi nào những bài ấy bị ai lên án mà ngài phải liên lụy. Nhưng không có chú Tàu nào thấy cả nên Kinh Thi không bao giờ bị lên án.

Nhiều học giả Tàu và ta cho rằng những bài dân ca Kinh Thi lượm lặt ở nước Vệ, nước Trịnh, nước Tề, được sáng tác vào đời Chu v́ chính vào đời Chu mới có những nước ấy.

Nhưng không, vào đời Chu th́ Tàu đă hết dâm phong rồi hay c̣n rất ít mà Kinh Thi th́ đầy dẫy dâm phong.

Sự thu lượm ở các nước nói trên, không có nghĩa là được sáng tác vào đời Chu. Nó được sáng tác trước đó hai ba trào đại, vào đời Hạ cũng nên, cũng cứ tại những nơi đó, tuy chưa mang tên là nước Nầy, nước Nọ. Khi người ta thu lượm th́ thu lượm tại những nước ấy vừa đă có tên là Vệ, là Trịnh, v.v., dĩ nhiên là phải thế, nhưng nơi chốn không phải luôn luôn là thời điểm sáng tác.

Thí dụ những bài dân ca dâm đăng nhứt được thu lượm tại nước Trịnh mà trước đời Chu th́ không có nước Trịnh nhưng đă có quận huyện nào đó nằm tại nước Trịnh đời Chu và chính dân của các quận huyện ấy đă sáng tác rồi truyền miệng lại đến đời Chu th́ người ta thu lượm, dĩ nhiên là tại nước Trịnh.

Giáo sư Kim Định đă đặt ra nghi vấn về mấy thiên đầu Kinh Thi:

Viết nhược kê cổ = Việt nhược kê cổ

và cho rằng chính một người Việt đă chép Kinh Thi (trước khi Khổng Tử san định).

Điều đó cũng có thể, v́ có thể một người Việt hiếm hoi bị bắt và trở thành trí thức Trung Hoa.

Đành thế. Nhưng một vài cá nhân lọt sổ, ở lại hợp tác và thành trí thức Tàu, khác xa sự kiện toàn dân Việt ở lại để dạy Tàu văn minh của họ.

Người Việt thành trí thức Tàu quả có thực và chúng tôi thấy rằng 9 bài Cửu Ca của Sở Từ là do một người Việt viết ra, và cả sử Tàu cũng xác nhận là tướng Giám Lộc, kẻ phát minh ra canal à écluses, là người Việt.

Nhưng vẫn cứ là vài cá nhân lẻ tẻ, không hề có cuộc sống chung ḥa b́nh, hoặc chinh chiến giằng co lâu năm tại Hoa Bắc mà bằng chứng không thể chối căi là khoa khảo tiền sử t́m được dấu vết Cửu Lê tại Đại Hàn, nhưng dấu vết đó tuyệt đối vắng bóng tại Hoa Bắc.

Giáo sư Kim Định cho rằng Khổng Tử là người Việt, và là Việt gian, v́ hợp tác với Chu (Tàu du mục), nhưng Việt gian đáng được tha thứ.

Nhưng trong chương Bất tương đồng Hoa Việt, ở tiểu mục Bí mật pḥng trung, chúng tôi đă cho thấy những dị biệt giữa Tàu và Việt. Mẹ Khổng Tử đă “lâm bồn”, trong khi đó th́ phụ nữ Việt từ cổ chí kim không hề có nhóm nào “lâm bồn” cả. Vậy Khổng Tử là Tàu hay Việt?

Giáo sư quả quyết rằng có quen với một người Việt, người ấy cha truyền con nối, c̣n nhớ văn tự của dân Việt thời Nghiêu Thuấn.

Nhưng sao trên trống đồng Lạc Việt không thấy có khắc chữ ǵ hết, trừ loại trống sau cùng có khắc chữ… Tàu?

Nếu dân Lạc Việt không thích khắc chữ trên trống th́ cứ không thích hoài chớ sao trước không thích mà sau lại chịu ảnh hưởng Tàu, rồi mới thích khắc chữ là thế nào?

Chúng tôi cố t́m xem có những nét nào giống gần hay giống xa ǵ với văn tự của người Mường hay không, và tuyệt đối không thấy. Thế nghĩa là văn tự của người Mường cũng chỉ mới có đây thôi, không biết vào thời nào, nhưng chắc chắn là sau thời Thượng Hiệt.

Nhưng cũng nên biết rằng giáo sư chỉ nói đến một thứ Việt mù mờ nào đó, chớ không phải là dân ta. Nhưng rồi sau đó h́nh như giáo sư lại nối kết Việt mù mờ đó và dân ta một cách rất rơ ràng minh bạch. Vậy th́ dân ta phải có chữ, trước khi học chữ của Tàu. Nhưng văn tự đó ở đâu? Sao không thấy giáo sư làm bản kẽm in ra xem thử ra sao?

Mộng Văn Thông cũng chỉ nói phất phơ vậy thôi v́ kẻ không có chứng tích không bao giờ dám to tiếng quả quyết cái ǵ hết. Nhưng giáo sư Kim Định phát triển mạnh mẽ những điều đó ra, và cho rằng cái ǵ của Tàu cũng do ta sáng lập ra cả, mà ở tận Hoa Bắc lận kia.

Giành giật nền văn minh Đông Sơn th́ không sao, chớ giành luôn Hồng Phạm, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh nào cũng dân Việt làm ra hết th́ người Tàu sẽ buồn cười lắm.

Họ không căi đâu, mà chỉ cười thôi.

C̣n nhớ cách đây mười năm, nhân ngày lễ Hai Bà Trưng, tờ báo Tàu Phụ nữ của ông Lư Thu trong Chợ Lớn in h́nh một cô “Mọi” Cao nguyên to tướng ngay trong bài đó.

Tờ báo bị đóng cửa, dĩ nhiên là như vậy.

Nhưng như thế đủ biết “người anh em đồng bào c̣n ở lại bên Tàu” để tiếp tục cái văn minh mà Việt đă lập ra bên ấy (theo giáo sư Kim Định), “người anh em” đó nghĩ thế nào về Hai Bà Trưng của ta?

Họ nghĩ gần đúng v́ quả h́nh người khắc ở trống Đông Sơn ăn mặc gần giống như người Thượng ngày nay. Nhưng vua Vũ, Khổng Tử, sống trước Hai Bà Trưng quá xa, sống trước vua Hùng Vương cũng quá xa, sau khi ta di cư, ta không mang theo món ǵ của vua Vũ hết cả, mà chỉ có cái lưỡi ŕu có tay cầm mà vua Vũ không bao giờ có ?

Nếu quả đúng nền văn minh Tàu do ta lập ra th́ chúng tôi hănh diện trước nhứt. Nhưng mà… không bao giờ có chuyện đó. Nó chỉ là huyền thoại mới đặt năm 1969.

Họ nghĩ gần đúng, chỉ phiền là họ thiếu tinh thần khoa học, quên mất rằng vào thời Hiên Viên, Tàu cũng chỉ văn minh đến thế là cùng.

Họ thiếu tinh thần khoa học và bức ảnh đó được đăng với tánh cách chế giễu và khinh khi “man di” không thể chối. Thế nên tờ báo ấy mới bị đóng cửa.

Giáo sư khuyên là đừng oán ghét “người anh em đó”. Ai mà oán ghét họ! Chỉ có họ là khinh bỉ ta thôi đó chớ.

Ông bảo Tứ Thư, Ngũ Kinh là của dân ta. Bảnh lắm. Nhưng rồi ông nói Ngũ Kinh tiếp nhận cổ huấn từ Tam phần, mà các bộ sách Tam phần thất truyền ấy lại là của Phục Hi, tức trước Thần Nông nữa.

Thế th́:

A.     Nếu Phục Hi là Tàu th́ ta bất quá chỉ cóp theo Tàu, nếu quả Ngũ Kinh là của ta đi nữa.

B.     Nếu Phục Hi là Việt th́ không bao giờ có Tàu trên đời nầy cả, v́ cứ ngược nguồn hoài mà chỉ gặp toàn Việt không mà thôi, không hề gặp chú Tàu nào cả.

Thế th́ có Tàu hay không có Tàu?

Chúng tôi cho rằng kư ức con người có hạn, mà kư ức Tàu không hơn ǵ kư ức Việt, họ nhớ tới đâu ta cũng nhớ tới đó.

Mà cả hai dân tộc th́ xuất hiện tại Hoa Bắc cùng lúc với nhau, ta đi trước họ có mười năm là cùng.

Như vậy sao trong truyền thuyết ta lại không bao giờ có Phục Hi, c̣n họ th́ có?

Không nên bắt quàng làm họ với người anh em đăng ảnh một cô Mọi ở truồng giữa bài nói về ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng.

Lạc là ǵ? Từ hai năm nay có rất nhiều học giả ta tranh giành Hà Đồ Lạc Thư với Tàu, cho rằng đó là sách của ta, làm tại sông Lạc là đất của dân Lạc.

Nhưng cổ sử Tàu lại cho biết rằng đất của dân Lạc là khu vực sông Bộc. Đó là thứ người mà đời Chu gọi là rợ Đông Di.

Có lẽ trước kia đất của họ là sông Lạc chăng? Có thể, nhưng Lạc đó là Lạc bộ Chuy, tức Miến Điện mà Miến Điện th́ chẳng hề biết Kinh Dịch bao giờ, Lạc bộ Trăi th́ biết nhưng họ không có ở sông Lạc bộ Chuy.

Sông Lạc nầy th́ ngày nay viết với bộ Thủy, không biết v́ lẽ ǵ chớ không phải sợ người Miến Điện giành Hà Đồ, Lạc Thư của họ đâu, v́ văn minh Miến Điện không cần Hà Đồ, Lạc Thư lắm như Việt Nam trước năm bị Pháp chinh phục.

Nếu quả dân Lạc đă phát minh Hà Đồ, Lạc Thư th́ Lạc đó là Lạc bộ Chuy ở Thiểm Tây, biến thành Miến Điện, chớ không phải là ta, v́ ta là Lạc bộ Trăi biến thành Việt Nam, mà Lạc bộ Trăi là rợ Đông Di nhuộm răng đen, không bao giờ có địa bàn ở sông Lạc cả.

Người ta tự hỏi, sau khi nghe các ông giành Hà Đồ, Lạc Thư, tự hỏi tại sao cái thứ văn tự của Lạc đó, khi họ di cư, họ bỏ mất luôn, không c̣n nhớ lấy một nét, v́ địa bàn Triều Tiên không xa địa bàn xuất phát di cư bao nhiêu mà tưởng rằng đường xa nên các người lớn biết chữ đă chết dọc đường.

Không, khi Chu diệt Ân th́ các công thần Ân đưa người ra Triều Tiên để chinh phục bọn Lạc bộ Trăi di cư đến đó, và có mang chữ Tàu theo hẳn ḥi, mà các công thần nhà Ân th́ cũng đi từ đất Lạc bộ Chuy ra Triều Tiên, tức là đường c̣n xa hơn nhiều, thế mà họ cứ c̣n nhớ chữ Tàu.

Rồi th́ từ địa bàn định cư Triều Tiên đó, đến các địa bàn định cư khác, thí dụ như Nhựt Bổn, Đài Loan và cổ Việt Nam, luôn luôn kế tiếp nhau, v́ họ đi bằng đường biển th́ không mấy hôm là tới nơi, mà cũng chẳng có dân định cư nào nhớ cái văn tự của Hà Đồ, Lạc Thư hết.

Bằng như nói là sách tâm truyền th́ cũng được, nhưng chỉ phiền là h́nh như là quả họ đă có văn tự rồi vào thời vua Vũ, v́ các nhà khảo cổ Pháp đă bảo rằng văn tự đời Thương đă được kiểu-thức-hóa khá sâu đậm, chớ không c̣n là h́nh vẽ như văn tự Ai Cập, thế tức là văn tự đó đă có, ít nhứt là từ đời nhà Hạ.

Nhận xét nầy, ta thấy được trên các mu rùa, xương thú chụp ảnh phóng đại trong quyển L’Art de la Chine và quả văn tự đời Thương, tuy không bằng chữ ngày nay, nhưng vẫn không phải là h́nh vẽ con ngựa con ḅ, cái nhà nữa.

Nhà Hạ đă bỏ ra 432 năm để kiểu-thức-hóa h́nh vẽ cho thành văn tự để nhà Thương hưởng, th́ cái thời gian đó vô địch về mau chóng, chớ không phải là quá lâu mà không thể tin được đâu, v́ Ai Cập văn minh nhiều suốt ngàn năm nhưng cứ c̣n vẽ h́nh hoài mà không kiểu-thức-hóa nổi.

Giáo sư Kim Định chủ trương rằng tất cả đều hẹp ḥi, khoa nào cũng thế, chỉ có văn hóa là mở rộng cửa cho ta thấy một chơn trời mênh mông mà không khoa nào đủ khả năng cho ta cái nh́n tổng quát ấy được.

Câu trên đây rất đúng, nếu chỉ nói chuyện ảnh hưởng văn hóa giữa chủng nầy với chủng nọ.

Nhưng giáo sư lại lấy làm nền tảng cho cái ảnh hưởng có thể có đó, nhưng nó lại là sử sai.

V́ lấy sử sai, nên kết luận phải sai. Hoa Bắc không hề có chịu ảnh hưởng văn hóa Viêm, Việt nào cả. Ông nói đến ảnh hưởng nông nghiệp của Mễ và Ḥa của Hoa Nam. Nhưng sự thật th́ sau đời nhà Hạ khá lâu Hoa Bắc mới biết Mễ, tức Tàu đă chiếm Hoa Bắc và thiết lập văn minh của họ ở đó nhiều ngàn năm rồi, th́ họ mới thấy cây Mễ lần đầu trong đời họ.

Thế th́ làm thế nào mà Hiên Viên lại cướp cái văn minh nông nghiệp Mễ ấy được chớ? Ở chương sau ta sẽ thấy Tàu biết Mễ vào năm nào, có lẽ là năm Hùng Địch được phong.

*

*       *

Bọn Nhục Chi về sau rất là quan trọng v́ chính họ đă khai hóa Chàm và Cao Miên, Nam Dương chớ không phải Ấn Độ như những quyển sử Tây tiền chiến đă viết sai.

Nhưng đó là chuyện sau, chuyện gần là chuyện Hiên Viên và dân Nhục Chi cổ cũng rất quan trọng.

Bọn ấy, ở lại đất cũ là Tây Vức, cũng tiến lên nhưng tiến theo lối khác, và thời điểm khác. Người Nhục Chi chịu ảnh hưởng Hy Lạp v́ rồi đế quốc Hy Lạp bành trướng lên biên giới cực Tây của Nhục Chi sau đó, và Nhục Chi cực thịnh vào đời nhà Chu của Tàu, với 36 nước hùng cường.

Đó là những nước văn minh rất cao, nhưng cứ bị Tàu gọi là rợ, đại khái có:

Nước Lâu Lan (Lobnor)

Nước Xa Sư (Tourfan)

Nước Đại Uyển (Fergana)

Nước Khương Cư (Sodiane)

Nước Sa Xa (Yorkand)

Nước Quy Tư (Koutcha)

Nước Ô Tôn (?)

Nước Thiện Thiện (?)

Nước Vu Điền (Kachgar)

Nước Yên Kỳ (Qarachahr)

C̣n đến 24 nước nữa, v́ quá nhỏ, nên không thấy tên trong sử Tây Tàu ǵ hết.

Như đă nói, họ là người da trắng, theo văn minh Hy Lạp và nay ta t́m được sách vở của họ th́ mới hay họ nói tiếng Ấn Âu, tức thuộc ḍng với tiếng Bắc Phạn, cha đẻ ra nhiều ngôn ngữ Âu Châu ngày nay. Sử Tàu chép rằng đă cướp Trân Châu Kỳ của họ, một lá cờ đốt không cháy, tức họ đă biết chất Amiante dệt vào vải làm cờ tức đă văn minh cao lắm rồi.

Trong khi đó th́ Hung Nô cũng tiến lên tới bán du mục. Họ vừa tiến lên, muốn tràn vào đất Tàu th́ nước Tàu đă văn minh và cường thịnh rồi, dưới đời Chu và nhứt là dưới đời Tần Thủy Hoàng. Không c̣n mong vào đất Trung Hoa được nữa, họ lấn Nhục Chi ở hướng Tây, diệt 36 nước kể trên, nhưng dân và văn minh của 36 nước đó cứ tồn tại.

Quư tộc Nhục Chi chạy măi về cực Tây, đi ngược lại con đường di cư hồi thượng cổ, rồi cướp lấy các thuộc địa của Hy Lạp để tái lập quốc, tự xưng là Đại Nhục Chi.

Đại Nhục Chi lại xâm lăng Ấn Độ và Ba Tư và hùng cường vào bậc nhứt thuở ấy, sau khi bị Hung Nô rượt chạy trối chết.

(Dân Nhục Chi có một số phận ngoại hạng v́ sau đó, họ trở nên vô cùng quan trọng tại Trung Á, họ làm môi giới giữa Trung Hoa, Ấn Độ, Ba Tư, Hy Lạp, v.v. về thương mại, văn hóa, và được để yên, hầu làm một nước trái độn. Văn minh Cận và Trung đông đă ảnh hưởng đến văn minh Trung Hoa qua trung gian của 36 nước nầy ngay từ đời nhà Hán. Người ta đă t́m thấy những chiếc gương đồng nhà Hán mà sau lưng được trang trí bằng những chữ T. Đó là chữ Tau (đọc là Tô) của dân tộc Lưỡng Hà, và về sau th́ văn minh Ba Tư, Ấn Độ cũng đi qua nẻo nầy mà vào nước Tàu, mặc dầu 36 nước đó đă bị Hung Nô, rồi nhà Hán diệt đi.

Măi cho tới đời Đường, Tam Tạng đi thỉnh kinh c̣n gặp những nơi phồn thịnh ở đó, bây giờ th́ trắng vàng đă lẫn lộn rồi.

Thật ra th́ nhà Hán diệt cấp lănh đạo Hung Nô của 36 nước Nhục Chi, chớ dân và văn minh Nhục Chi cứ c̣n nguyên vẹn cho tới thế kỷ XIX mà các nhà khảo cổ Đức, Nga, Pháp khám phá được họ, học tiếng của họ và thấy ngôn ngữ họ đồng tông với ngôn ngữ Ấn Âu.

Chính Đường Minh Hoàng đă mượn toàn bộ âm nhạc Tây Vức, tức âm nhạc của dân Nhục Chi.

Hiện nay th́ nước Tàu làm chủ trọn phía Đông của Tây Vức mà Âu Châu gọi là Turkestan Oriental và biến vùng đó thành tỉnh Tân Cương của họ. Tỉnh đó chỉ c̣n giá trị quân sự, bởi đất đai đă bị sa mạc hóa hết cả rồi và hơn 90 phần trăm ốc đảo xanh tốt ngày xưa, nay đă bị cát xâm lăng.

 

*

*      *

Như vậy th́ chủng Mông Gô Lích mà sử gia Nguyễn Phương nói đến, không giản dị chút nào. Chưa chi ta đă thấy hai chủng khác nhau. Bắc Mông Gô Lích của Hung Nô chánh gốc và Trung Mông Gô Lích của người Hoa Bắc mà người Tàu th́ chưa vượt được sông Hoàng Hà.

Trung Mông Gô Lích, chủng của người Hoa Bắc, xương sọ khác hẳn chủng Bắc Mông Gô Lích của người Mông Cổ, khác đến 6 đơn vị mà khoa học chỉ đ̣i hỏi khác 2 đơn vị là tách ra làm một chủng khác rồi.

Về các yếu tố chủng tộc học khác, chủng Trung Mông Gô Lích của người Hoa Bắc cũng lạ lắm: họ cao lớn gần như Tây, nước da họ không vàng hoặc trắng như nước da của người Hoa Nam, mà ngâm ngâm đen. Tính t́nh của họ th́ trầm lặng đến độ không ai chịu được v́ họ không nói ǵ hết, c̣n người Hoa Nam th́ nói quá nhiều lại ưa làm ồn. Người Hoa Bắc cũng không làm văn nghệ nhiều được như người Hoa Nam, nhưng lư trí th́ vô địch và tính thực tế th́ rất trắng trợn.

Chúng tôi xin đưa sơ ra vài con số về chỉ số sọ. Những con số nầy và bao nhiêu biểu đối chiếu trong sách nầy đều trích ở quyển Etat actuel de la crânologie indochinoise của nhóm bác sĩ P. Huard, E. Saurin, Nguyễn Xuân Nguyên và Nguyễn Văn Đức, Hà Nội, 1938, tên sách tuy là thế nhưng nhóm bác sĩ nầy có trích đăng chỉ số sọ của hầu hết các thứ dân Á Đông chớ không riêng ǵ của dân Đông Dương.

Đây là kết quả của công tŕnh khảo cứu về chủng tộc học ở Á Đông làm đă xong từ lâu, nhưng sách thật là khó t́m, chúng tôi đă lục lạo nhiều năm mới chạp được tài liệu nầy.

Với những vị bất kể đến khoa chủng tộc học th́ không cần phải nói ǵ thêm, nhưng vị nào thấy đó là chứng tích quan trọng bậc nh́, xin cứ tham khảo các bản chỉ số sọ mà chúng tôi sẽ trích cả ra trong sách nầy, để không c̣n hồ nghi ǵ nữa về nguồn gốc của các dân tộc, ít lắm là về mặt chủng tộc học. Sọ của ta là sọ Mông Cổ, sọ Tàu hay sọ Tây ǵ đều thấy được qua các biểu chỉ số sọ đó, mà không sử liệu nào khác có đủ thẩm quyền nói trái lại cả, kể cả máu cũng không đủ thẩm quyền v́ khoa học phân biệt chủng tộc nầy với chủng tộc khác bằng tánh cách của sọ, chớ không phải bằng máu.

Tuy nhiên, máu Việt vẫn khác máu Hoa. Nếu máu giống th́ c̣n châm chế, dung ḥa được phần nào, đằng nầy cái yếu tố đồng chủng mong manh cũng lại khác. Thế th́ c̣n ǵ sự đồng chủng giữa VIỆT và HOA?

*

*      *

Chỉ số sọ của dân Mông Cổ, tức của chủng Bắc Mông Gô Lích: 81,40 theo cuộc đo sọ của nhà bác học Nga Hrdlicka.

Nhưng lai với Tây Vức rồi, tạo ra chủng Trung Mông Gô Lích của người Hoa Bắc th́ chỉ số sọ bị sụt xuống c̣n có 75,70.

Đó là chỉ số của những cái sọ mà nhà bác học Black đă đo tại thỉnh Cam Túc, con đường xâm nhập vào Trung Hoa của dân lai căng hai ḍng máu Nhục Chi và Mông Cổ.

Và dưới đây là hai con số chỉ số sọ của người Hoa Bắc thật sự do hai nhà bác học khác nhau đă đo trong hai nhóm lớn của dân ở hai vùng tại Hoa Bắc.

Nhà bác học Koganei:          78,30

Nhà bác học Quatrefages:   75,97

(Chúng tôi bỏ ra một chỉ số sọ đặc biệt do nhà bác học Zaborovvski đo, chỉ số đó chỉ có 66,66, nhưng đó là một cái sọ độc nhứt của một người ăn xin chết đường tại Bắc Kinh, có lẽ là một kẻ có bệnh tật, không nói lên được cái ǵ).

Nhưng người Hoa Bắc lại có một nhóm nữa cho chỉ số sọ khác.

Nhà bác học Kogagei:          80,20

Nên nhớ là Hoa Bắc đă bị Mông Cổ xâm lăng về sau nầy và nhóm nầy là nhóm Mông Cổ xâm lăng biến thành người Trung Hoa, nên chỉ số sọ của họ mới tăng lên không c̣n là 75 hoặc 78.

Làm một con số trung b́nh, ta sẽ thấy chỉ số sọ của chủng Trung Mông Gô Lích là:

(75,70 + 78,30 + 75,97 + 80,20) / 4 = 77,54

Trong bài toán t́m chỉ số trung b́nh, chúng tôi đă tự ư bỏ chỉ số sọ của dân Sơn Đông ra, cũng như đă tự ư bỏ chỉ số sọ của người hành khất ở Bắc Kinh.

Người Sơn Đông vốn là rợ Đông Di, tức Việt tộc, biến thành Trung Hoa, v́ cổ thư Trung Hoa tả rợ Đông Di xâm ḿnh nhuộm răng đen, và sách Nhỉ nhả cũng lại cho biết rằng họ là rợ Lạc bộ Trăi. Mặt khác giặc Huỳnh Cân đời Hán lại c̣n cho thấy rơ hơn rằng họ là người Việt. Người Tàu thường xưng họ là dân đội mũ để phân biệt họ với các dân tộc quanh họ. Thế mà giặc Huỳnh Cân ở Sơn Đông lại bịt khăn vằn. Nhà Hán, cách nhà Chu không quá lâu đời như ta thường có cảm tưởng sai lầm v́ trào đại trung gian giữa hai nhà đó là đời Tần chỉ thọ được có mấy chục năm. Thế th́ rợ Đông Di xâm ḿnh và nhuộm răng đen đời Chu, đến đời Hán, vẫn chưa bị đồng hóa, v́ họ c̣n bịt khăn.

Tại sao chúng tôi lại bỏ Sơn Đông ra? Nếu có hợp chủng ở toàn quốc th́ rất cần để vào, v́ cuộc hợp chủng đó thay đổi cả chỉ số sọ của một dân tộc và một con số trung b́nh gồm có Sơn Đông mới là một con số đúng.

Nhưng khi nó chỉ bị giới hạn trong tỉnh Sơn Đông không mà thôi th́ nó lại làm sai con số trung b́nh của toàn Hoa Bắc gồm rất nhiều tỉnh: Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Tây, Thiểm Tây, Cam Túc, v.v.

Cũng xin tóm lược nghiên cứu của ông H. Maspéro về giặc Huỳnh Cân. Các ông Tây dầu sao, làm việc cũng cẩn thận hơn Tàu về mặt khảo chứng.

Theo tài liệu mà ông H. Maspéro t́m được th́ bọn Huỳnh Cân không hề nổi loạn, không hề “làm giặc” bao giờ cả. Khi không, người Tàu cất binh đánh họ, cho rằng họ âm mưu nổi loạn, trá h́nh dưới tôn giáo.

Sự thật th́ sự âm mưu nằm phía bên người Trung Hoa. Đó là cái cớ để tận diệt rợ Đông Di c̣n sống sót ở Sơn Đông vào đời Hán.

Và lạ lùng nhứt là rồi bọn Huỳnh Cân không chạy đi đâu mà lại chạy sang Thiểm Tây, rơ ràng là Lạc bộ Trăi chạy đến địa bàn Lạc bộ Chuy.

Lạc bộ Chuy đă bị Tần Mục Công tiêu diệt dưới đời vua Chu Thành Vương rồi, và họ đă di cư để thành người Miến Điện. Nhưng người Trung Hoa ở đó lại bị lây cái tôn giáo của Lạc bộ Chuy, nó cũng giống như tôn giáo của Lạc bộ Trăi.

Cũng nên biết rằng người ta t́m được trống đồng c̣n được dùng trong bộ lạc Keren (một tiểu chi Miến Điện). Thế nghĩa là trống đồng Lạc Việt đă có vào đời Chu Thành Vương. Bằng chứng là Tư Mă Thiên đă chép rằng khi Tần Mục Công tiêu diệt được Khuyển Nhung rồi th́ vua Chu Thành Vương ban thưởng cho Tần Mục Công một cái trống bằng kim khí.

Nếu đó là trống của Tàu th́ rất vô lư v́ món quà đó quá xoàng không xứng với công lao to lớn của Tần Mục Công, nhưng nếu đó là trống của man di Khuyển Nhung hay của man di Kinh Cức th́ đă khác rồi, v́ đó là quà lạ, bởi Tàu không bao giờ có đúc trống bằng kim khí cả.

Thế nên Chavannes mới tự ư dịch ra hai tiếng kim cổ của Tàu ra là “trống đồng”, một là v́ trống đồng bằng sắt đánh không kêu, hai là v́ Chavannes vốn biết rằng dân Lạc bộ Chuy có trống đồng.

Sự tự ư nầy có vẻ Á Đông, tức nói tắt cái biết của ḿnh, nó trái với thói quen của Âu Châu là dịch trung thành nhưng Granet Legge, Chavannes là những người da trắng ch́m ngập tới cổ trong tinh thần Á Đông, nói thật đích xác trong tinh thần Tàu, v́ ba ông đó suốt đời chỉ đọc sách Tàu để nghiên cứu tỉ mỉ nền văn minh Tàu cổ đại, nên các ông bị tiêm nhiễm phần nào cái tinh thần nói ngầm cái biết của ḿnh ra bằng lối đó.

(Giáo sư Kim Định viết Tần = Khuyển Nhung. Nhưng tại sao Tần lại tiêu diệt Khuyển Nhung?).

Chúng tôi đă có dịp chứng kiến những trận đánh giữa người Việt theo Pháp làm Bạt ti đăng và người Cao Miên theo Pháp làm Bạt ti dăng chỉ v́ họ thấy Bạt ti dăng Cao Miên tàn sát dân ta. Đă là Việt gian rồi mà c̣n được như thế th́ ông Việt gian Tần Mục Công không thể tiêu diệt đồng bào của ông. Không, Tần là người Tàu một trăm phần trăm.

 

Nhận xét và phụ chú

Chỉ số sọ cao hay thấp không hề là dấu hiệu của trí thông minh hay sự ngu đần. Chỉ số sọ của Hoa tộc thấp hơn chỉ số sọ của Việt tộc đến 9 đơn vị, như đă nói, nhưng họ lại tài giỏi hơn ta.

Chỉ số sọ của dân tỉnh Sơn Đông là 81,70 rất gần với chỉ số sọ Việt và do nhà bác học Shiro Kogoroff đo.

Chúng tôi đă nói là về chủng, đích thị là Mă Lai chủng, và họ Lê và Lạc, họ bỏ Hoa Bắc mà chạy đi hết, nhưng tại sao lại c̣n thứ người có chỉ số sọ Việt tại Sơn Đông ngày nay?

Đó là v́ tỉnh Sơn Đông khác hẳn các tỉnh khác của Trung Hoa. Nó là một Cao nguyên, c̣n các tỉnh khác là đồng bằng. Rợ Đông Di rút lên Cao nguyên với ảo tưởng thoát được vào thời mà Hoa tộc rất sợ núi non.

Nhưng quanh Cao nguyên Sơn Đông là một ṿng đai đồng bằng mỏng và Hoa tộc bao vây Đông Di tại đồng bằng mỏng ấy cho đến ngày kia Hoa chủng không c̣n sợ núi rừng nữa, tấn công lên th́ rợ Đông Di đă bị vây khốn tứ phía rồi, không mong thoát được nữa, đành phải ở lại chịu đồng hóa.

(Và nên biết rằng, các nhà khảo tiền sử không có đào bới trên Cao nguyên Sơn Đông, nên không có lượm được sọ Lạc và vũ khí của Lạc trên đó).

Tóm lại, sau khi lai giống với Nhục Chi, chỉ số sọ Mông Cổ bị sụt mất sáu đơn vị. Nhưng sau đó Mông Cổ lại xâm lăng Tàu nhiều lượt và bị kẻ bại trận đồng hóa biến thành Tàu nên Hoa Bắc mới có một nhóm chỉ số sọ tăng lên 78 và 80, thay v́ 75,50 như hồi mới lai với Nhục Chi.

Chúng tôi sẽ trở lại bọn Cửu Lê và nhứt là bọn Lạc để thấy rằng họ là Mă Lai.

Nhưng ta c̣n phải xét qua chủng Nam Mông Gô Lích là chủng của người Hoa Nam cái đă, v́ Lê và Lạc nầy, mặc dầu di cư bằng đường biển, cũng có một số vượt sông Hoàng Hà tràn xuống, để tạo ra một chủng mới hoàn toàn là chủng Nam Mông Gô Lích ở Hoa Bắc, v́ nó bị yếu tố Mă Lai Bách Việt, tức Lạc Hoa Nam chi phối đến gần 60 phần trăm.

Nó cũng khác hẳn ta v́ ta không có nhận chịu một sự lai giống lớn lao như Bách Việt ở Hoa Nam.


Tài liệu tham khảo riêng cho chương nầy:

Lê Văn Hảo: Hành tŕnh vào dân tộc học, Sài G̣n

C.J. Ball: Chinese and Sumerien, Oxford 1913

H. Cordier: Origine des Chinois, Tungpao 1915

Von Le coq: Exploration archéologique au Turkestan, J.A. 1909

Pelliot: Rapport sur la mission au Turkestan Chinois, J.A. 1909

Salomon Reinach: Origines des Aryens, Paris 1892

A. Cranoy: Les Indo - Européens, Paris 1921

Nguyễn Phương: Việt Nam thời khai sinh, Huế 1965

Khổng Tử: Kinh Thư, Bản dịch của Le Couvreur, Paris 1950

Khổng Tử: Kinh Thi, Bản dịch Granet, Paris 1925

Specht: Études sur l’Asie centrale, d’après les histoiriens chinois, Paris 1930

Chavannes: Mission archéologiques dans la Chine septentionale, Paris 1915

R. Grousset: La Chine ancienne et médiévale, G. Crès, Paris 1922

R. Grousset: Les empires Mongols, G. Crès, Paris 1922

M. Granet: Fêtes et chansons anciennes de la Chine, Paris 1929

H. Maspéro: La Chine antique, Paris 1918

M. Granet: La civilisation chinoise, Paris 1929

Terrien de Lacoupérie: Western Origin of the Chinese civilization - Early history of the Chinese civilization, Oxford 1913

Drs Huard, E. Saurin Nguyễn X. Nguyên, Nguyễn Văn Đức: Étal actuel de la Crâniologie Indochinoise, Hà Nội 1938

J. Levi: Notes sur les Indo-Schyttes, Paris 1915

E. Blane: Documént relatif à I’expansion de la civilisation greco bactriane au delà des Pamirs et à son contact avec la civilisation chinoise dans l’antiquité, Paris 1995

R. Grousset: Histore de la Chine, Paris 1947

Ngô Th́ Sĩ: Hoàng Lê nhứt thống chí, Khâm Dịch Việt sử thông giám cương mục, bản dịch Langlet, Sài G̣n

Nguyễn Bá Trác: Hoàng Việt Giáp Tư niên biểu, Sài G̣n 1963

Mathias Tchang: Synchronismes chinois, Changhai 1905




II. Chủng Nam Mông Gô Lích thành h́nh

Chủng Trung Mông Gô Lích của người Hoa Bắc thành h́nh xâm nhập Trung Hoa, tiến lên nông nghiệp và tồn tại cho đến đời nhà Hạ th́ một số biến cố lớn xảy ra.

Địa bàn của họ vào đời nhà Hạ đă nói rồi ở chương trước.

Nhưng ta nên rà lại cái địa bàn ấy kỹ lưỡng thêm một tí:

Để xem. Từ đời vua Nghiêm, ta thấy kinh đô của Tàu được di chuyển như sau:

Nghiêu:          B́nh Dương (Sơn Tây)

Thuấn:            Bồ Bản (Sơn Tây)

Hạ:                 An Ấp (Sơn Tây)

Thương:         Hào (Hà Nam)

Ân:                  Triều Ca (Hà Nam)

Tây Chu:        Kiểu Kinh (Thiểm Tây)

Đông Chu:     Lạc Dương (Hà Nam)

Tần:                Hàm Dương (Thiểm Tây)

Hán:               Tràng An (Thiểm Tây)

Hậu Hán:       Lạc Dương (Hà Nam)

Tấn:                Lạc Dương (Hà Nam)

Tùy:                Tràng An (Thiểm Tây)

Đường:          Tràng An (Thiểm Tây)

Những trào đại sau nhà Hạ không dính líu ǵ đến vấn đề của chúng ta cả, nhưng ta cần biết rơ kinh đô của các trào đại ấy để mà biết cái hướng di chuyển qua lịch sử.

Theo luật th́ kinh đô của một nước càng văn minh th́ càng thôi hiểm cứ trong rừng núi, và quả ta thấy kinh đô của Tàu càng năm càng đi theo cuộc sanh tụ đông đảo của dân chúng. Từ B́nh Dương đến An Ấp toàn là đi xuống bờ sông Hoàng Hà (phần nằm ngang). Rồi th́ Hào Kinh và Triều Ca th́ cũng cứ đi xuống, xuống cho đến Lạc Dương th́ tới bờ sông, tức từ núi rừng xuống đồng bằng ph́ nhiêu.

Nhưng trước khi xuống tới Lạc Dương ở bờ sông, họ rẽ vào Thiểm Tây, để đến Kiểu Kinh (Tây Chu).

Ta có thể tưởng tượng sự dời đổi của cuộc sanh tụ của dân chúng Trung Hoa như sau:

Họ xâm nhập bằng ngă Cam Túc, chọc thủng Thiểm Tây nhưng không sinh tụ ở đó được v́ đó là đất của rợ Khuyển Nhung. Họ sinh tụ trước hơn hết ở Sơn Tây và dần dần sang Đông và xuống Nam, và đến đời Chu th́ họ di chuyển sang hướng Tây, v́ họ đă đủ sức mạnh lấn Khuyển Nhung ở vùng đó một cách có hiệu quả. Cuộc lấn đất Khuyển Nhung thật ra khởi sự từ đời vua Thuấn v́ chính vua Thuấn đă sai tổ trào Chu làm cái công việc lấn đất ấy. Ông tổ nầy thành công, nên cho đến đời Thương th́ ông ta xem núi Kỳ là đất chính của ông ta. Núi Kỳ là đầu con đường Trần Thương mà về sau Khổng Minh ở Ba Thục đánh ra.

Những cuộc quật thám cho thấy đồ gốm trước nhứt, là đồ đất nung đơn sơ, trang trí bằng răng lược, được định tuổi là vào đầu đời Hạ, năm 2000 T.K. tại Cam Túc. Tuy nhiên, nhà Hạ th́ định đô ở Sơn Tây vào thời đó.

Kế đó là đồ gốm Ngưỡng Thiều, ở Hà Nam. Đây là đồ đất nung đỏ màu gạch được định tuổi vào năm 1700 T.K. tức trung điệp nhà Hạ.

Cuộc khai quật thứ ba, t́m được đồ gốm Cam Túc mới hơn được định tuổi là 1500 T.K. gọi là đồ gốm Pan Chan, được định tuổi là sơ điệp nhà Thương. Đồ gốm nầy giống đồ gốm ở Lỗ Ma Ni, chứng tỏ dưới đời Thương đă có ảnh hưởng Tây phương, có lẽ qua hành lang Nhục Chi. Nhưng cạnh đồ gốm Lỗ Ma Ni có đồ gốm hoàn toàn không chịu ảnh hưởng Tây phương nào hết, tức Hoa tộc đă bắt đầu có dân tộc tính. Đó là đồ gốm Mă Trương ở Cam Túc.

Cả ba loại đồ gốm ấy đều ở Cam Túc, mà Hạ và Thương đều lại đóng đô nơi khác là Sơn Tây và Hà Nam.

Sơn Tây cũng không có đồ gốm.

Quyển L’Art de la Chine của nhà xuất bản Larousse viết rằng: An Dương nơi đào được Kinh Đô Triều Ca của nhà Ân là ở Sơn Tây. Nhưng sách giáo khoa của Tàu lại vẽ dư đồ ghi rằng An Dương ở Bắc Hà Nam, cách sông Hoàng Hà hai trăm cây số. Có lẽ ông Tây đă lầm, chớ lẽ nào sách giáo khoa của ông Tàu lại lầm được. Ông Tây lầm hai tỉnh đó có biên giới chung, Nam Sơn Tây và Bắc Hà Nam dính lại, mà An Dương th́ nằm gần sát ranh giới.

Tại sao không có đồ gốm ở Sơn Tây ? Nên biết rằng nhà Hạ đóng đô ở Sơn Tây, nhưng người ta chưa t́m được Kinh Đô đó, nhưng văn minh nhà Hạ th́ lan tràn khắp nơi, ở địa bàn đầu tiên là Cam Túc cũng có.

Văn minh nhà Thương cũng thế. Kinh đô sơ điệp của nhà Thương cũng lại t́m thấy ở Cam Túc th́ không có ǵ lạ, v́ người ta chưa t́m được Kinh đô Hào.

Với đồ gốm đen ở Long Sơn (Sơn Đông) th́ kỹ thuật đất nung đă lên tới nghệ thuật, v́ họ làm được thật mỏng, chỉ dày có ba li tây. Nhưng không định tuổi được đồ gốm nầy một cách chắc chắn, chỉ biết rằng nó không chịu ảnh hưởng Tây phương và, có lẽ đó là đồ gốm Mạt Điệp Thương, do bọn Cơ Tử phát minh, bọn nầy là trung thần nhà Thương bị nhà Thương cầm tù, được Chu phóng thích rồi họ di cư sang phương Đông để khai hóa rợ Tam Hán ở Triều Tiên.

Nhưng họ không đi thẳng, mà ghé dọc đường, từng trạm một, và gieo rắc văn minh Thương dọc đường, văn minh nầy tiếp tục tiến lên mặc dầu Thương đă bị diệt.

Tây Chu ở Thiểm Tây không có ǵ đặc sắc v́ đó là một trào đại trọng vơ (nhà Chu bận diệt Khuyển Nhung để bành trướng biên cương ở đó) bằng chứng là đồ đồng của Chu sau Thương, nhưng lại kém hơn Thương nhiều bực.

Hai trào đại Chu, Tần là hai trào đại nhà quê của kẻ xông pha tên đạn ở biên cương, oai hùng th́ có nhưng bất kể nghệ thuật. Trong khi đó th́ mạt điệp nhà Thương là trào đại sa đọa và duy mỹ.

Cái luật bất di bất dịch đó, ở chơn trời nào cũng có, buổi ban đầu của một trào đại rất oai hùng nhưng cũng rất quê mùa, c̣n mạt điệp th́ tế nhị, xa xỉ, lăng mạn và sa đọa.

Nhưng Chu, Tần không có cái mạt điệp, ấy v́ Chu bị chủ hầu lấn quyền vào mạt điệp không có tiền để mà xa xỉ, c̣n Tần th́ trước sau có ba mươi năm, th́ không có mạt điệp kịp.

A-pḥng-cung danh tiếng của Tàu, chỉ bắt chước kiến trúc của các chư hầu nhưng phóng đại ra chớ không có ǵ đặc sắc cả.

Nói Chu không có là không có cái ǵ độc đáo của thời ấy, nhưng họ vẫn có đồ gốm để ăn uống chớ sao không, nhưng không mang đặc thù như đồ gốm Cam Túc và Sơn Đông. Không được xem là tiêu biểu cho cái ǵ hết, nên các nhà đào bới họ có thể đă gặp được đồ của Chu nhưng không có tŕnh làng.

Nhưng rồi th́ Đông Chu sẽ có, tại Hà Nam. Nhưng đồ gốm đen Hà Nam chỉ là bắt chước đồ gốm đen Long Sơn (Sơn Đông) mà thôi.

Tóm lại trào Chu ban đầu bận diệt Khuyển Nhung, nhưng khi thiên đô về hướng Đông rồi th́ suy luôn, trong khi đó th́ ở phương Đông, Tề lại hưng thịnh lên.

Mà Tề hưng thịnh v́ thừa hưởng nỗ lực của dân chúng, tác giả của đồ gốm Long Sơn đời Chu, chớ không phải chỉ nhờ tài của Quảng Di Ngô như sử đă chép.

Nhà Chu nỗ lực kinh hồn nhưng không diệt nổi Khuyển Nhung. Tổ nhà Chu được nhà Thương phong ở đất Kiểu để thực thi cái sứ mạng đó, nhưng v́ nhờ trọng vơ để mà chinh chiến nên Chu mới trở lại diệt Thương, kẻ đă phong ḿnh, nhưng cứ thất bại với Khuyển Nhung (công tŕnh đó về sau, lâu lắm, chư hầu Tần mới làm xong, và Tần là Tàu, kế nghiệp cho Chu để diệt Khuyển Nhung ở đó chớ không phải Tần là Khuyển Nhung, như giáo sư Kim Định đă viết).

Sử Tàu chép rằng khi Chu thiên đô về hướng Đông th́ chư hầu Tần hộ tống, c̣n giáo sư Kim Định th́ viết rằng Khuyển Nhung hộ tống và chính Tần là Khuyển Nhung. Ông viết như vậy sau khi ở hàng trên ông viết rằng vua nhà Tây Chu, thấy Khuyển Nhung mặt mày dữ tợn quá nên hoảng, mới thiên đô sang Đông. Ấy, đă hoảng thế mà sao c̣n mượn họ hộ tống, nghĩa là làm sao? Đă dám nhờ họ hộ tống th́ cứ ở với họ, thiên đô làm ǵ?

Sử Tàu chép hữu lư hơn: Tây Chu đóng đô tại Kiển Kinh. Phía Tây của Chu (cứ ở trong tỉnh Thiểm Tây) là Thân, có con gái gả cho vua Tây Chu, và Tần. Hai chư hầu đó đều là Tàu, và giữ trọng trách làm phên dậu cho Chu để ngăn Khuyển Nhung ở Cực Tây nhà Chu.

Thân hầu nghe tin con gái ḿnh bị vua Chu ngược đăi bèn nổi giận, xúi Khuyển Nhung vào đánh Chu. Nhưng đánh chiếm được Kiểu Kinh th́ Khuyển Nhung không chịu lui quân, cứ chiếm giữ đô ấp. Dĩ nhiên là như vậy.

Thế nên rồi các chư hầu người Tàu phải liên kết với nhau để đánh đuổi th́ Khuyển Nhung mới chịu về nước. Kẻ có công nhiều nhứt trong trận đó là chư hầu Tần, đương giữ tước Tử th́ được nhảy lên tước Bá.

Xem đó th́ Tần không có vẻ ǵ là Khuyển Nhung hết, và ta theo sử Tàu, th́ xóa được sự mâu thuẫn là vua Chu, thấy mặt mày của Khuyển Nhung dữ tợn quá, hoảng sợ nên phải thiên đô, rồi lại nhờ Khuyển Nhung hộ tống để mà thiên đô!!!

Sử Tàu đă chắc đúng kể từ đời Tây Chu nầy th́ không c̣n muốn nói ǵ th́ nói nữa như về các trào Nghiêu Thuấn, ai là dân nào đều được biết chắc ít lắm cũng từ năm 841 T.K. Đó là điều chắc chắn được tất cả mọi người công nhận. Đó là năm mà hai ông đại thần Châu, Triệu giữ quyền nhiếp chính v́ vua nhà Chu bôn đào sau một cuộc nổi loạn của dân chúng.

Sử thành văn từ đời đó c̣n đủ. Mà vào năm đó th́ một người Tàu được phong ở đất Tần, đó là tổ của nhà Tần, thay cho Chu để hoàn thành sứ mạng mà Thương giao cho Chu, là diệt Khuyển Nhung.

Thế th́ c̣n Khuyển Nhung nào mà trá h́nh làm Tần được?

Sử về trước đó rất là buồn cười, như Mạnh Tử bảo rằng vua Thuấn là rợ Đông Di. Giáo sư Kim Định bèn chụp lấy mà khen vua Nghiêu đáo để, v́ ông ta là người Tàu mà dám truyền ngôi cho Việt là làm một cuộc cách mạng to lớn quá sức.

Nhưng Tư Mă Thiên đă đính chánh điều đó. Vua Thuấn là người Tàu bị xem là Đông Di v́ thói quen thời đó là như thế. Hùng Dịch là người Tàu, thế mà được phong ở đất Nam Man Kinh Cức th́ cứ bị người Tàu khác gọi là Nam Man khiến con cháu ông ta cũng mang mặc cảm Nam Man và có lần thốt lên lời than rằng ông ta là man di.

Cái thói quen cổ thời của Tàu cũng có lư do chớ chẳng phải không. Khi mà ta lên lập nghiệp ở Kontum lâu đời quá, ta hóa ra quê đi, và bị thiên hạ đồng hóa ta với người Sơ Đăng. Phương chi tổ vua Thuấn và tổ của Hùng Dịch quả đă có cưới con gái Đông Di và Nam Man làm vợ th́ vua Thuấn và Hùng Địch là người lai, nhưng vẫn cứ là Tàu.

Tra từ điển Từ Hải ta cũng thấy từ điển ấy cho biết rằng tổ tiên và con cháu của vua Thuấn đều được phong ở đất Đông Di, chỉ có thế thôi, chớ ông ta là người Tàu.

Nhưng đến thời Cộng Ḥa Châu, Triệu (841 T.K.) th́ sử đă thành văn, không nói tầm ruồng như trước được nữa, thành thử những ǵ xảy ra từ năm đó đến nay, phải theo sử chớ không thể diễn dịch và quy nạp mà thành sự.

Hậu Nghệ, kẻ đă tạm cướp ngôi vua nhà Hạ, cũng bị gọi là người rợ Đông Di, nhưng có bằng chứng hay không, hay y cũng cứ là rợ theo lối vua Thuấn và Hùng Dịch?

Trong một bức tượng chạm vào đá, đào được và đăng ảnh trong quyển L’Art de la Chine. Hậu Nghệ được chạm h́nh mặc y phục Trung Hoa, nhứt là cây cung mà y cầm để bắn rụng chín cái mặt trời là cung Tàu. Cung Tàu khác hẳn với cung Việt là ở cái nơi mà người cầm cung, cây cung cong vào bên trong.

Hậu Nghệ lại đứng trên nóc nhà, mà đó là nóc nhà ngói mái thẳng theo kiểu Tàu đời xưa, chớ không có cong vớt lên như mái nhà của Mă Lai.

Người ta tự hỏi những Lư Tiến, Lư Cầm mà sử Tàu chép lại là người Giao Chỉ, có quả thật là người Việt hay không? Thói quen của Tàu là như thế đó, họ chỉ nguồn cội của một cá nhân bằng sinh quán. Sinh quán không hề chỉ chủng tộc, theo họ.

Vào năm 200 S.K. có người Việt được làm quan bên Tàu, thế sao, sau đó, người Việt tiến bộ hơn nhiều một trăm lần hơn, lại không được?

*

*      *

 

Địa bàn Hoa Bắc của Tàu là Hoàng Thổ (Loes) loại đất ph́ nhiêu vào bậc nhứt thế giới. Đất ph́ nhiêu là yếu tố giúp dân tiến lên nông nghiệp, lại là nguyên nhơn tăng dân số. Nhưng địa bàn lại không được bành trướng. Thế là có nạn nhân măn.

Cũng nên nhắc đến cuộc kiểm tra dân số dưới trào Tiền Hán, thời vua B́nh Đế năm 2 S.K. Cuộc kiểm tra nầy cho thấy dân Tàu rất thưa thớt, chỉ có lối 30 người trong một diện tích một cây số vuông.

Nhưng xin nhớ rằng lănh thổ nước Tàu đời Hán đă mười lần to hơn lănh thổ đời nhà Hạ nói ở trên kia.

Thêm vào đó loạn Chiến quốc đă giết chết hàng mấy mươi triệu người Trung Hoa (chỉ có một trận đánh mà binh Tần đă tàn sát bốn trăm ngàn tù binh) th́ tới nhà Hán, dân số bị sụt ghê lắm.

Tại sao người Tàu không giải quyết nhân măn đời Hạ bằng cách diệt các thứ man di c̣n lại ở Trung Hoa, chẳng hạn như Khuyển Nhung. Dân nầy cho tới đời Chu, vẫn tồn tại và chỉ bị Tần Mục Công tiêu diệt mà thôi, tức rất trễ.

Nếu diệt được “man di” th́ nạn nhân măn không có xảy ra bởi đất của Man di c̣n nhiều lắm và người Tàu có sanh đẻ đông đến đâu cũng không ở cho hết Hoa Bắc.

Họ không đủ sức diệt. Riêng ở Sơn Đông là một Cao nguyên th́ họ vây Đông Di tứ phía, tại đồng bằng bao quanh Cao nguyên ấy, nhưng không xung phong lên đó được, v́ người Tàu là một dân tộc rất sợ núi, măi cho đến ngày nay, họ thiếu ăn, nhưng núi và Cao nguyên của họ cũng c̣n cứ bị bỏ không, không trồng trọt ǵ hết.

Những tỉnh khác, không là Cao nguyên như Sơn Đông, cũng chẳng được họ cướp hết v́ con người có khuynh hướng t́m giải pháp dễ dăi, tức t́m đất di cư mà chủ đất hiền lành, hoặc quá thưa thớt, không quyết tử chống xâm nhập để giữ đất.

Nên nhớ Chu, Tần đều ở Thiểm Tây mà đánh ra, nhưng họ là người Tàu cướp đất của Khuyển Nhung lần hồi, ở nơi đó, chớ không phải là rợ, là dân thổ trước như giáo sư Kim Định đă nói.

Lúc Hiên Viên diệt Cửu Lê, giáo sư Kim Định chỉ phớt qua về Cửu Lê. Thế mà về sau đó th́ giáo sư tŕnh bày như là Cửu Lê có mặt ở khắp Hoa Bắc, nhà Hạ chia nước ra làm chín châu cũng do chín Lê, v.v.

Giáo sư đă hiểu:

Cửu Lê = Các bộ lạc

Tuy không nói là các bộ lạc của dân tộc nào, nhưng đọc V.L.T.N. ta cứ tưởng đó là các bộ lạc Tàu chưa chịu cho Hiên Viên thống nhứt.

Mà như thế th́ quan niệm rằng nhà Hạ chia nước thành 9 châu là v́ con số 9 của các bộ lạc ấy, ăn khớp với lối hiểu sai lầm trên kia rằng Cửu Lê là “các bộ lạc”.

Nhưng mà không phải thế. Con số 9 nầy chỉ dựa vào t́nh h́nh địa lư mà thôi, nếu t́nh h́nh địa lư mà thuận cho 12 vùng th́ Tàu đă chia nước thành 12 châu, hoàn toàn không liên hệ ǵ đến Cửu Lê cả.

Khi nhà Hạ chia nước thành 9 châu th́ trong đó có 7 châu rưỡi là hoàn toàn do Tàu làm chủ và định cư, chớ không c̣n rợ nào mà sống chung với họ được cả mà bảo rằng là do Cửu Lê mà ra.

Nhưng nếu quan niệm rằng Lê là lê thứ, tức dân chúng Trung Hoa, theo giáo sư đă hiểu th́ ổn.

Chỉ phiền là sau đó, giáo sư suy luận măi thế nào mà Cửu Lê lại hóa ra là Việt. Như vậy th́ đúng đến một ngàn phần trăm, chỉ phiền là nó mâu thuẫn với lối hiểu sai của ban đầu, lối hiểu sai đó lại được dùng để chứng minh điều khác, và chỉ phiền là khi biến hóa Cửu Lê thành Việt th́ Việt đă di cư khỏi nước Tàu nhiều trăm năm rồi, không c̣n đâu để cho Tàu dùng con số 9 mà chia nước thành 9 châu.

Biến cố xảy ra vào đầu đời Hạ mà người Tàu được xem là đă văn minh rồi.

Văn minh Trung Hoa ban đầu đi lên vào đời nhà Hạ đó với kỹ thuật đúc những món đồ to bằng đồng, và với kỹ thuật cất nhà ngói cho vua ở, chớ trước đó th́ vua Nghiêu, vua Thuấn vẫn ở nhà tranh như thường dân, không phải v́ hai ông đó “có đức lớn” như sử Tàu nói mà v́ dân Trung Hoa chưa biết chế tạo ngói gạch, chưa thạo kỹ thuật làm gỗ rắc rối với những lỗ mộng, không thể xây cất lớn và nặng được.

Tuy nhiên, văn minh đó chưa có ǵ đáng kể v́ vua nhà Hạ chỉ có một cái nhà ngói, dùng vào đủ thứ việc, thờ phượng, thiết trào, tiếp khách và ở với gia đ́nh và thê thiếp.

Văn minh lên là hậu quả phần nào của sự gia tăng dân số, và lại là nguyên nhơn của xâm lăng, đành rằng xâm lăng là để giải quyết nạn nhân măn, nhưng cũng v́ ư thức rằng ḿnh văn minh phải đi trị bọn rợ mới được.

Nhưng người Trung Hoa hoàn toàn thất bại ở hướng Bắc và hướng Tây. Rợ Nhung ở hướng Tây, mà họ cũng gọi là Khuyển Nhung (Tây Thiểm Tây), rất dữ tợn, c̣n rợ Hung Nô, và Mông Cổ ở hướng Bắc lại c̣n dữ tợn hơn, Tây Vức ở sau lưng Khuyển Nhung, lại cũng đă văn minh cường thịnh rồi, không chạm tới Tây Vức được.

Họ thành công hơn ở hướng Đông, nhưng cho đến cuối đời Chu, họ vẫn cứ c̣n phải đánh nhau với rợ Đông Di ở đó.

Địa bàn của rợ Đông Di là lưu vực sông Bộc chạy thẳng ra tới biển Đông tức gồm Hà Nam, Hà Bắc và Sơn Đông ngày nay.

Nhưng người Tàu đă sai lầm, mà phân biệt Đông Di và Nam Man v́ cứ theo lời họ tả th́ Đông Di giống hệt Nam Man, cũng xâm ḿnh và nhuộm răng đen, và ta sẽ thấy, ở một chương sau, rằng rợ Đông Di, đích thị là Việt.

Họ thành công ở hướng Đông, nhưng nạn nhân măn vẫn chưa được giải quyết v́ thật ra họ chỉ chiếm được có Tây Bắc Hà Nam c̣n Sơn Đông th́ họ chỉ chiếm được có một vùng nhỏ mà đến đời nhà Chu cứ c̣n là một huyện nhỏ, đó là châu Duyện đời nhà Chu và huyện Bộc đời Hán.

Thành thử họ phải t́m con đường thoát thứ tư là phương Nam.

Thời kỳ dân lai căn xâm nhập đất Trung Hoa gọi là thời kỳ xâm lăng, nhưng từ đây th́ cuộc xâm lăng để giải quyết nạn nhân măn không được xem như là xâm lăng nữa, mà là bành trướng biên cương. Thế th́ cũng cứ là xâm lăng, nhưng chỉ khác ở cái tên mà thôi.

Họ bành trướng ra khắp bốn phương trời quanh vùng đất mà họ chiếm được buổi đầu, và cái buổi đầu ấy dài đến hai ngàn năm chớ không phải là vài trăm năm. Những dân tộc ở bốn phương trời đó đều bị họ gọi là rợ (di) nhưng họ có cả bốn danh từ rợ khác nhau. Rợ phía Bắc tên là Bắc Địch, phía Đông tên là Đông Di, phía Tây tên là Tây Nhung, phía Nam tên là Nam Man. Địch, Di, Nhung và Man đều có nghĩa là rợ.

Tuy nhiên, việc dùng danh từ không cứng rắn lắm, v́ đôi khi rợ Bắc cũng được gọi là Nhung, rợ Nam cũng được gọi là Di.

Nhưng ở phương Nam th́ không có sử liệu nói đến một cuộc chiến tranh, trừ chiến tranh với nước Quỹ Phương dưới đời nhà Ân (tức nhà Thương) tức sau chiến dịch bành trướng biên cương của nhà Hạ lâu lắm.

Nước Quỹ Phương nầy, các sách Tàu khẳng định là tỉnh Quư Châu, nhưng không được chứng minh, nên ta để đó cái đă, chỉ biết rằng vào đời Hạ th́ người Trung Hoa tiến xuống phương Nam ở trên nước Quỹ Phương rất xa.

Biến cố nói đến khi năy, ở cái phương Nam nầy, mới đích thực là biến cố, một biến cố lớn lao nó biến hẳn chỉ số sọ và tính t́nh, tâm hồn của toàn thể chủng Trung Mông Gô Lích, biến cả dân tộc tính của họ nữa, chớ không riêng ǵ cái sọ.

Biến cố nầy là cuộc xâm lăng địa bàn thứ nh́ của chủng Việt tại núi Kinh, thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay, nơi mà về sau, nước Sở được dựng lên.

Sử Tàu, về những sự kiện xảy ra trước đời Chu th́ lung tung và sai lạc rất nhiều.

Có hai câu sử quan trọng mà ta cần mượn khoa khảo cổ Âu châu để kiểm soát lại, không thôi, bao nhiêu sự kiện sau đó đều bị xáo trộn hết.

Câu thứ nhứt: “Năm Quư Tỵ (2198 T.K.) vua Đại Vũ nhà Hạ hội chư hầu ở Cối Kê”.

Câu thứ nh́: “Năm Quư Măo (2085 T.K. vua Thiếu Khang nhà Hạ phong cho con thứ là Vơ Dư ở đất Việt”.

Theo khoa khảo cổ Âu châu th́ vào hai năm đó, Hoa chủng chưa hề để chơn xuống vùng hữu ngạn sông Hoàng Hà th́ vua Đại Vũ làm thế nào để hội chư hầu ở Cối Kê, về phía Nam sông Dương Tử, và vua Thiếu Khang làm ǵ có quyền phong cho con của ông ta một vùng đất do dân khác đang làm chủ mà ông ta chưa bao giờ chinh phục?

Có lẽ một vị trí cổ thời nào đó ở Hoa Bắc tên là Cối Kê mà nay mất dấu, rồi các sử gia đời sau gán ghép như vậy, như các sử gia đời Tống đă sửa văn của thiên Nghiêu Điển thay địa danh Giao Chỉ vào chỗ Nam Giao, khiến ai cũng ngỡ ta và Tàu đă có liên lạc với nhau rồi vào thời Nghiêu Thuấn?

Có bằng chứng là ở bên Tàu có nhiều nơi trùng tên nhau. Thí dụ ở phía Bắc nước Ngô có nước Đào, nơi mà Phạm Lăo nuôi c̣ và nổi danh là Đào Công. Trong nước Tần lại có một nước Đào. Ở nước Sở có đến ba nơi tên là Sinh đô (hay Dỉnh đô?).

Ở Hà Nam có một nơi tên là Kinh Ấp.

Ở Bắc Hồ Bắc có một nơi tên là Kinh Ấp và nơi đó, tức Kinh Ấp ở Bắc Hồ Bắc, chính là nơi mà dân Trung Hoa di cư tới vào đời Hạ, như đă nói trên kia.

Có hai nước Ba, một nước ở sát nước Thục, và một nước ở trong nước Sở.

Ở Thiểm Tây có đất Mân, đất tổ của nhà Chu, nhưng Phúc Kiến cũng mang tên là đất Mân.

Thế th́ Cối Kê mà sử Tàu nói đến, không thế nào mà là Cối Kê của Câu Tiễn được. Nhưng Tàu cũng chỉ lầm lẫn địa danh chớ không phải là bịa càn đâu.

Chính độc giả lầm lẫn chớ không phải người viết sử. Người ta nói đến Cối Kê ở Hoa Bắc, tại ḿnh hiểu đó là Cối kê ở Triết Giang v́ cái Cối Kê thứ nh́ đó vang danh nó ám ảnh ḿnh.

Bằng chứng không thể có việc hội chư hầu tại Triết Giang lộ rơ ra trong những ngày chuẩn bị dời đô từ Tây sang Đông của nhà Chu.

Vua nhà Chu hỏi các lăo thần: “Tại sao vua đóng đô ở Kiểu Kinh mà các Tiên đế c̣n xây cất thành Lạc Dương làm ǵ?”

Một lăo thần đáp: “Kiểu Kinh xưa kia là cái rún nước. Nhưng dân càng năm càng đi sanh cơ lập nghiệp xa về phương Đông mà dân th́ có chư hầu trông coi. Hóa ra chư hầu xa, về chầu vua khó nhọc lắm. V́ thế mà các Tiên đế mới xây cất thành Lạc Dương, để vua tiếp chư hầu tại đó, v́ ngày nay khác ngày xưa, Lạc Dương mới đích thực là ở giữa nước”.

Đó là chuyện đời Đông Chu, tức sau chuyện nhà Hạ đến 1400 năm, thế mà họ c̣n cho là Kiểu Kinh. Thiểm Tây quá xa chư hầu th́ không làm sao mà dưới đời Hạ, vua lại hội chư hầu ở Cối Kê (Triết Giang) được, làm như thế th́ chính nhà vua lại phải nhọc, bằng như nhà vua đó bảnh, không sợ nhọc, th́ các chư hầu phương Tây và phương Bắc lại không thể tới nơi.

Giữa đời Chu, Lạc Dương là rún nước trên thực tế, c̣n dưới đời nhà Hạ, nơi nào là rún nước? Dĩ nhiên là An Ấp ở Sơn Tây, nơi nhà Hạ đóng đô th́ Cối Kê ấy phải nằm đâu lối đó.

*

*     *

Điểm xuất phát di cư là ngă ba sông Hoàng Hà và sông Vị theo sử gia René Grousset. Nhưng R.G. không có dẫn chứng. Mà chính v́ không dẫn chứng nên ta mới tin được.

Người Âu Châu viết sử xem sự dẫn chứng là quan trọng vào bậc nhứt. Nhưng họ có lề lối. Nếu câu sử nào cũng dẫn chứng th́ 10 trang hóa ra 100 trang, 400 trang thành 4000 trang. Thế nên họ chỉ dẫn chứng về những điều mới lạ mà họ nói ra lần đầu thôi, c̣n những ǵ được nhiều tài liệu củng cố từ lâu và được tất cả mọi người đều công nhận th́ họ xem là sự hiển nhiên không cần dẫn chứng nữa.

Sự dẫn chứng đó có ba lối. Dẫn chứng ngay trong câu sử đó, dẫn chứng sau một chương và dẫn chứng sau sách, tùy câu sử mới lạ nhiều hay ít.

Thí dụ ở chương Mă Lai chủng, chúng tôi nói ngay trong câu sử đầu, tài liệu nào cho ta biết dân Việt thuộc chủng Mă Lai và họ từ đâu đến vào thời nào v́ đó là một khám phá làm kinh ngạc cả những nhà bác học nữa th́ phải nói ngay ra tức th́ c̣n th́ các sách tham khảo về những cái khác chỉ được ghi ở sau một chương sách mà thôi.

Vậy câu sử đó của R.G phải được xem là sự thật hiển nhiên chính v́ không có dẫn chứng, nghĩa là R.G. đă có tài liệu, tài liệu đó đều được mọi người biết và công nhận.

An Ấp, kinh đô của nhà Hạ, chỉ nằm cách đó có hơn một trăm cây số. Bằng vào cái luật nầy là kinh đô của dân văn minh nằm giữa nơi sinh tụ đông đảo, chớ không phải hiềm cứ ở núi rừng, th́ nạn nhân măn phải xảy ra ở vùng đó.

Lẽ thứ nh́ là Hoa tộc c̣n kém thủy vận mà con sông Hoàng Hà th́ quá to, quá dữ, họ không vượt Hoàng Hà được ngoài hướng đông. Ở đây sông tương đối hẹp hơn ở ngoài bờ biển.

Đó là ba biên giới của ba tỉnh Sơn Tây, Thiểm Tây và Hà Nam ngày nay.

Thế nghĩa là cái phần Bắc Hà Nam ở trên sông Hoàng Hà, nơi Hiên Viên đánh Xy Vưu đă được Hoa tộc làm chủ, c̣n phần hữu ngạn, ở dưới, Hoa tộc chưa xuống tới trước ngày di cư.

Và đó là một bằng chứng nữa là vua nhà Hạ không thể hội chư hầu ở Cối Kê (Cối Kê của Câu Tiễn). Nếu có việc hội chư hầu ở Cối Kê th́ cái Cối Kê đó chỉ có thể là địa danh ở Hoa Bắc, nhưng nay đă mất dấu rồi.

Nhưng vượt Hoàng Hà rồi th́ chưa vào Kinh Cức ngay đâu, v́ c̣n phải đi qua lối 50 cây số nữa mà nay thuộc đất của tỉnh Thiểm Tây. Đă bảo tỉnh Thiểm Tây nay, xưa là nước của rợ Khuyển Nhung. Nhưng rợ đó không phải có mặt ở khắp nơi và chỗ ấy, chỗ 50 cây số phải đi qua, có thể là đất bỏ không, nên sử Tàu không hề nói đến việc đánh nhau với cái dân dữ tợn là dân Khuyển Nhung.

Vậy vùng đất 50 cây số ấy có lẽ quá xấu nên Khuyển Nhung không định cư, bằng chứng là Tàu cũng không thèm dừng chơn lại, mà đi xa hơn, về hướng Đông Nam, về cái nơi mà ngày nay là tỉnh Hồ Bắc, mà họ đặt tên là Kinh Cức.

Kinh là tên một quả núi ở đó, c̣n Cức là một thứ cây hoang dại có nhiều gai. Nhưng Kinh Cức lại có nghĩa bóng là nơi khốn đốn.

Đó là một thứ Đắc Tô, Đắc Suốt, Tu Ma Rong ở Cao nguyên mà công chức Việt bị thuyên chuyển lên đó th́ kêu trời như bọng, v́ là đất khốn đốn, quanh họ chỉ có núi rừng và người Thượng, c̣n sa mù th́ tới 12 giờ trưa mới tan, gió và khí trời lạnh như cắt da.

Nhưng đối với người Tàu th́ ngược lại, gió và khí trời ở Kinh Cức lại nóng như thiêu đốt v́ họ đă qua vĩ tuyến khác rồi, họ từ vĩ tuyến 35 xuống vĩ tuyến 30.

Núi Kinh không phải là núi lớn nhứt của Hồ Bắc, cũng không nằm giữa tỉnh Hồ Bắc. Tóm lại không có ǵ đặc sắc hay tiện lợi hay khốn đốn hơn nơi khác, nhưng không hiểu sao bọn di cư lại đi tới đó, lấy nơi đó làm chủ lực và đặt tên cho cả một kinh, châu Kinh. Đó là một bí mật tưởng không bao giờ ai khám phá ra được.

Lần đầu tiên trong lịch sử của họ mà người Tàu sang từ tả ngạn Hoàng Hà sang hữu ngạn Hoàng Hà, tức từ phía trên Hoàng Hà xuống phía dưới Hoàng Hà.

Sự kiện nầy không mâu thuẫn với cuộc phát kiến đồ gốm đen loại Long Sơn (Sơn Đông) ở thành Tư Nhai, tại cái hữu ngạn đó v́ như đă nói, không ai định tuổi chính xác được loại đồ gốm ấy và có thể đó là đồ gốm nhà Thương mà Hoa tộc đă vượt Hoàng Hà đông đảo rồi. Bọn di cư nhà Hạ từ điểm xuất phát di cư đến đời Thương, đưa đồ gốm đen từ hướng Đông, ở dưới sông Hoàng Hà, đến thành Tư Nhai.

Điều chắc chắn là đến đầu đời Hạ nầy, Hoa tộc mới xuống phía dưới sông Hoàng Hà và các nhà khảo cổ nên dựa vào điểm chắc chắn ấy để định tuổi đồ gốm đen thành Tư Nhai, đồng loại với đồ gốm đen Long Sơn (Sơn Đông).

H́nh như họ đă biết sự thật rồi v́ họ cứ gọi đó là đồ gốm Long Sơn, tức Long Sơn là trung tâm quan trọng, c̣n hữu ngạn Hoàng Hà có quá ít đồ vật loại đó, bởi dân di cư lưa thưa, nên họ chỉ nói qua vậy thôi về đồ gốm đen Thành Tư Nhai ở dưới sông Hoàng Hà.

*

*       *

Xin trở lại câu sử thứ nhứt: “Năm Quư Tỵ (2158 T.K.) vua Đại Vũ nhà Hạ hội chư hầu ở Cối Kê”.

Tả Truyện cho biết rằng dưới đời Chiến quốc bọn di cư Trung Hoa lập ra nước Sở ở bờ Tây sông Hán, c̣n bờ Đông sông Hán th́ rợ Việt c̣n hoàn toàn làm chủ. Cối Kê ở ngoài biển, cách bờ Tây sông Hán đến hơn ba ngàn cây số, người Trung Hoa chưa hề biết nơi đó.

Mà cũng đừng tưởng rằng có một nhóm di cư thứ nh́ xuất phát từ đất của rợ Đông Di, tức tỉnh Sơn Đông, từ đó họ vượt Hoàng Hà rồi vượt Dương Tử. Không, họ chưa giỏi thủy vận và sông Hoàng Hà và Dương Tử c̣n quá dữ tợn đối với ghe xuồng nhỏ, họ chưa đủ phương tiện vượt hai con sông lớn ấy ở gần cửa biển. Điểm được lựa chọn ở ngă ba sông Vị là nơi đó sông Hoàng Hà tương đối nhỏ hẹp, dễ vượt qua.

Mặc dầu dưới đời Chiến quốc, ở Cối Kê quả có đền thờ vua Đại Vũ, như sử Tàu đă ghi chép, và ta có thể tin họ về ngôi đền thờ nầy, nhưng ngôi đền ấy không chứng minh được rằng dưới đời Hạ họ đă có mặt nơi đó, v́ đời Hạ cách đời Chiến quốc đến 1061 năm chớ không phải là gần nhau đâu, và dân địa phương thờ vua nhà Hạ chỉ v́ vua nước Việt đă khoe láo rằng ông ấy là hậu duệ của vua nhà Hạ. Sự khoe láo nầy, rồi ta sẽ thấy là láo. Có lẽ chính Câu Tiễn đă cho xây cất đền thờ để củng cố lời khoe láo của y.

Nhiều sử gia Tàu cứ dựa vào ngôi đền đó để mà quả quyết rằng vào đời Hạ họ đă tới Cối Kê rồi. Nhưng Tả Truyện vốn biết rằng đó là láo nên ghi chép sự thật là bờ Đông sông Hán c̣n do rợ Việt làm chủ hoàn toàn. Sông Hán là phụ lưu của sông Dương Tử, chảy từ Bắc xuống Nam và cùng với sông Hoàng Hà, sông Dương Tử và ranh giới Thiểm Tây và Tứ Xuyên tạo thành một khu tứ giác mà người Tàu di cư tới lần đầu tiên vào thuở ấy.

Nhưng khu tứ giác đó, tức bờ Tây sông Hán là đất của ai? Chủ đất ở đó thuộc một chủng mà họ gọi là Việt, lần đầu tiên trong sử của họ. Ở đó có một cái núi mà dân di cư đặt tên là núi Kinh, đất đó họ gọi là đất Kinh Man, tức đất Kinh của Man Mọi, hoặc Kinh Cức là đất Kinh có cây gai về sau họ cũng gọi là đất Kinh Việt, tức đất Kinh của rợ Việt.

Tỉnh Hồ Bắc, nằm trong khu tứ giác đó, là đất của chủng Việt.

Danh xưng Việt chỉ mới xuất hiện vào thời nầy mà thôi, chớ trước đó, tuyệt nhiên chưa có danh xưng đó.

Khoa khảo tiền sử chưa t́m được dấu vết chắc chắn của đời Hạ để biết họ đă có văn tự hay chưa, nhưng măi cho tới cuối đời Thương mới thấy dấu vết của chữ Việt, mà chúng tôi gọi là tự dạng nguyên thỉ.

Chữ Việt nầy rất là kỳ dị. Nó chỉ là cái đuôi của chữ Việt trong thư tịch Trung Hoa, mà dân ta gọi là Việt bộ Mễ (nhưng Tàu gọi là chữ Việt thứ nh́ đó là Việt bộ Nguyệt). Chúng tôi sẽ nói đến tự dạng nầy nhiều hơn.

Chúng tôi đă nói quá sớm rằng Việt từ Hoa Bắc di cư đi Nam Dương qua Triều Tiên, Nhựt Bổn và Việt Nam. Đó chỉ là lỡ lời phải tiết lộ quá sớm, chớ trước đó Tàu Hoa Bắc không có nói đến Việt.

Nhưng chúng tôi đă trót lỡ lời th́ người ta phải tự hỏi Việt ở Kinh Việt, có phải là Việt trên kia hay không?

Đúng, họ là Việt trên kia, nhưng không phải là từ trên kia tràn xuống, mà họ đă nằm sẵn ở đó, không ai biết từ bao lâu. Họ đồng ngôn ngữ với nhau một phần, nghĩa là có hai phương ngữ Việt. Hai phương ngữ đó, hiện nay đều có mặt tại Việt Nam, v́ rồi Việt Hoa Nam cũng bỏ hết đất mà di cư đến các địa bàn định cư của Việt Hoa Bắc, chỉ có khác là hai cuộc di cư cách nhau đến 2.500 năm.

Thế nghĩa là Việt chủng làm chủ trọn vẹn nước Tàu, trước khi Hoa chủng xâm nhập, chỉ có điều là không biết từ bao lâu, bọn Việt Hoa Bắc được chúng tôi suy luận là không lâu v́ họ không có để dấu vết lại, c̣n bọn ở dưới th́ có cho thấy dấu vết, nhưng không định tuổi được một cách chắc chắn, sai đến 1.000 năm từ 6.000 năm, đến 5.000 năm.

Theo khoa học th́ hai thứ Việt đó thuộc chủng nào và khác nhau ra sao th́ ta sẽ biết ở chương Mă Lai chủng. Ở đây, chỉ nói đến những ǵ mà người Tàu đă thấy mà thôi. Dĩ nhiên là trước đó, họ cũng đă thấy Việt phía trên, nhưng họ không có gọi đó là Việt, mà cũng không có tả v́ thời Hiên Viên chắc chắn là chưa có chữ, mặc dầu ai nói sao đi nữa, cũng chắc chắn là họ chưa có chữ.

C̣n truyền thuyết th́ quá đơn sơ, hoặc bị thất truyền nên không ai biết Việt trên ra sao, c̣n truyền thuyết Tàu th́ chỉ biết rằng rợ Đông Di xâm ḿnh và nhuộm răng đen.

Và chúng tôi xin trở lại câu sử thứ nh́ của Tàu: “Năm Quư Măo (2085 T.K.) vua Thiếu Khang nhà Hạ phong cho con thứ nh́ là Vô Dư ở đất Việt”.

Thiên hạ cứ nói rằng đất Việt đó là nước U Việt của Câu Tiễn nhưng đất không phải là nước, và vào đầu đời Hạ họ cũng chỉ mới để chơn sang sông Hoàng Hà, đến Kinh Cức, th́ làm sao đến đời Thiếu Khang, tức 49 năm sau đó, họ lại chinh phục được một nơi cách đó hơn 3.000 cây số theo đường chim bay, ở dưới sông Dương Tử là đất mà dân Việt c̣n hoàn toàn làm chủ để mà phong cho Vô Dư.

Ta sẽ thấy rằng rợ Việt ở đó, chống trả mănh liệt cho tới cuối đời Chu, th́ không làm sao mà chỉ sau có 49 năm, Tàu lại làm chủ được nhiều đất đến thế, làm chủ tới Cối Kê của Câu Tiễn.

Nhưng hai câu sử trên rất được những người chỉ đọc sử Tàu tin mạnh.

Sự thật th́ sử Tàu chỉ chép theo lời khoe của các vua nước Việt chớ họ không có dựa vào sử liệu nào cả về sự kiện Vô Dư là tổ tiên của các vua Việt Cối Kê. Đất Việt không hề có nghĩa là nước Việt của Câu Tiễn.

Lối khoe đó giống hệt như là lối khoe của Hồ Quư Ly, ông ấy khoe rằng ông ấy là hậu duệ của vua Thuấn và v́ vậy mà ông ấy đặt tên nước ta là Đại Ngu, thấy sang bắt quàng làm họ, chớ xét ra th́ Hồ Quư Ly cũng láo khoét. Thật vậy, một họ không thế nào kéo dài từ vua Thuấn cho tới Hồ Quư Ly mà chưa tuyệt tự (Xin xem chương Họ của Trung Hoa và Việt Nam).

Các vua nước Việt Cối Kê không đủ tinh thần tự trọng, không đủ hănh diện quốc gia, thấy Trung Hoa văn minh cao, nước của các ông hùng cường mà cứ bị họ coi rẻ, nên các ông t́nh nguyện làm Tàu.

Như vậy câu sử thứ nhứt hoàn toàn sai sự thật, câu sử thứ nh́ cũng sai, v́ lời khoe láo của Câu Tiễn ám ảnh người Tàu.

Cái đất Việt nói trong câu sử thứ nh́ là tỉnh Hồ Bắc ngày nay, tức đất Kinh Việt, chớ không phải là nước Việt của Câu Tiễn ở Cối Kê (Triết Giang).

Về nước Sở, sử Tàu (Sử Kư) cũng lại chép lời khoe của các vua Sở. Các vua Sở cho rằng ḿnh là hậu duệ của Hiên Viên. V́ Sử Kư đă chính thức hóa lời khoe của vua Sở, nên dĩ nhiên thiên hạ phải tin lời khoe của các vua Việt, bởi Sở không phải là hậu duệ của Vô Dư th́ U Việt phải là kẻ hậu duệ đó, chớ c̣n ai nữa bây giờ, bởi Sở và Việt cũng đều là Việt, Vô Dư không vào nước Sở th́ vào nước Việt vậy.

Nhưng Sở mới đích thực là hậu duệ của Vô Dư c̣n Việt Cối Kê là Việt thuần chủng, không có lai giọt máu Tàu nào hết.

Tả Truyện chép rằng khi ấu vương Chu Thành Vương lên ngôi th́ người nhiếp chính là ông Chu Công Đán xuống chiếu phủ dụ Sở Tử: “Khanh hăy chế phục và b́nh định cho an bọn man di Việt, ngăn chúng nó làm loạn và xâm phạm thiên trào”.

Viết phụ đề Hoa ngữ cho Xuân Thu, Tả Khâu Minh c̣n cho ta biết rơ hơn về cái bọn man di Việt đó.

Tuy nhiên, Tư Mă Thiên cũng có góp phần, Sử Kư cho biết rằng dân nước Sở họ Mị, dân nước Việt họ Tự, cũng đều là dân Việt.

Hành động “phong” mà sử Tàu nói đến, cũng là láo khoét. Phong là phong đất mà vua Tàu đă làm chủ, đằng nầy đất Kinh Việt chưa hề bị chinh phục th́ phong sao được.

Đó chỉ là một cuộc di cư có tổ chức, có người lănh đạo là Vô Dư, di cư đến một nơi hoàn toàn xa lạ, và Vô Dư phải tháo vát xoay xở, thành công th́ nhờ, bị thổ dân đề kháng th́ chết.

Vua Thiếu Khang đă đem con bỏ chợ, v́ theo tục Trung Hoa để con thứ ở lại trào, có thể xảy ra tranh giành ngôi báu với con trưởng th́ càng rắc rối không biết bao nhiêu.

Vua nhà Hạ là vua đầu tiên lập ra chế độ thế tập. Như thế tống cổ đứa con thứ là Vô Dư đi xa, là rất phù hợp với dự trù về chế độ. Khi ông vua đầu đời Hạ nghĩ ra chế độ thế tập th́ ông ta phải nghĩ ra cách ngăn ngừa việc tranh giành ngôi báu, có thể làm mất luôn địa vị của ḍng họ ông ta.

Tuy nhiên, vua Thiếu Khang có ẩn ư cho con thứ của ông một may mắn lập nên sự nghiệp v́ nếu Vô Dư thành công, y sẽ làm chúa một phương trời, cũng là sướng cái thân vậy.

Tám trăm năm sau, Hùng Dịch mới là được phong thật sự ở đó, mà cũng chỉ được có 50 dặm vuông (Tư Mă Thiên), tức lối 25 cây số vuông, tức quá ít, th́ Vô Dư hẳn là không chiếm được bao nhiêu đất trong buổi đầu, v́ không có chiến tranh mà chỉ là đi xin ở trọ th́ không thể tới đông.

Hễ phong th́ người được phong có mang chức tước, đằng nầy Vô Dư không được lấy cái tước hạng bét thời bấy giờ là tước “Nam” (Công, Hầu, Bá, Tử, Nam) mặc dầu y là con vua.

Ta có thể hiểu rằng Vô Dư chỉ lănh đạo một đoàn người di cư vào đất lạ, không hơn không kém, và tương lai của y, vua Tàu thấy là mờ mịt, bởi cả bọn có thể chết v́ ma thiêng nước độc hay v́ cuộc kháng cự của thổ dân.

Rồi tên Vô Dư chết mất xác, nhưng dân di cư th́ c̣n. Họ âm thầm sống, hợp chủng và hợp văn hóa với dân Việt tại Kinh Việt.

Người Tàu lần lượt đến thêm, càng năm càng đông, và người Việt ở đó lớp bị lai giống, lớp bị đồng hóa một cách có thuận t́nh, cho đến một khi kia th́ vua nhà Chu hay tin ở đó đă đông dân Tàu rồi, nên mới phong cho Hùng Dịch, mà lần nầy th́ có chức tước hẳn hoi. Hùng Dịch mang tước Tử ở đất Kinh Man.

Tên Hùng Dịch nầy cũng khoe láo tuốt. Y chỉ là con của một ḍng họ biết chữ, có làm thầy dạy con vua học, nhưng y lại khoe láo rằng y là cháu của vua Xuyên Húc là tổ nhà Hạ. Y nổi danh quá, lại giành mất đất Kinh Cức rồi nên các sử Tàu không c̣n biết đặt tên Vô Dư ngồi ở đâu, đành để cho vua của nước U Việt giành lấy vậy.

Tại sao người Việt ở Hoa Bắc, hễ thua là bỏ đất chạy đi hết, c̣n ở đây th́ lại chịu hợp tác và hợp chủng? V́ tên Vô Dư không có xâm lăng quân sự, không có đánh đuổi họ, mà chỉ xin ở trọ thôi.

Lại có bằng chứng rằng từ thời Hiên Viên đến đầu đời Hạ hai dân tộc đă có quen biết nhau rồi, chớ không phải là mới chạm trán nhau lần đầu như vào thời Xy Vưu.

Sử Tàu đă chép về các cuộc tuần vu vào đất Việt của đế Nầy, đế Nọ mà chúng tôi truy ra th́ đó là những cuộc xuất ngoại chớ không có tuần thú ǵ hết trên một vùng đất mà họ chưa chinh phục được.

Ở đây chẳng những có cuộc hợp chủng trong dân chúng, mà c̣n hợp chủng cả trong giới quư tộc v́ chính về sau đó, một vài ông vua của nước Sở (vốn là người Tàu) cũng cưới vợ “man di”, theo như sử Tàu cho biết.

Bấy giờ vua nhà Hạ cũng đă tổ chức việc nước có quy củ, là chia nước ra làm 9 châu, trong đó đất Kinh Việt được xem là một châu, châu Kinh.

Đă bảo văn minh của họ đă thành h́nh với khoa kiến trúc, với chế độ vua thế tập và với kỹ nghệ đúc đồ đồng lớn món th́ việc chia nước thành 9 châu cũng là một điểm của nền văn minh ư thức đó.

Các nhà học giả Pháp thường dịch chữ Châu ra là Province, nhưng sai. Châu không có trưởng châu, không phải là một đơn vị hành chánh, bằng chứng là nhà vua có quyền phong đất cho con cháu và công thần trong các châu, và các thái ấp phong sau ấy, hoàn toàn độc lập, chỉ nghe mệnh lệnh của vua mà thôi, trên đầu họ không có ai khác, và chắc chắn là không có trưởng châu, tri châu nào hết.

Như vậy châu chỉ là một vùng đất mà thôi chớ không phải là một đơn vị hành chánh như người Âu Châu đă ngộ nhận.

Danh từ Châu vào thời đó, nếu dịch ra tiếng Pháp th́ phải dịch là Régions naturelles mới đúng nghĩa.

Và quả đúng rằng đó là régions naturelles v́ giọng nói của người Tàu ngày nay, ăn khớp với 9 châu đó, mỗi vùng nói khác nhau chút ít, tuy cũng chỉ là tiếng Tàu với nhau, mà sở dĩ khác nhau v́ họ bị phân chia bởi địa h́nh, địa thế.

Cho đến ngày nay, sách giáo khoa của Tàu c̣n ghi là có 9 ngữ ở Trung Hoa. Họ dùng danh từ sai. Đó là 9 giọng, chớ không là 9 ngôn ngữ. Thí dụ Tần ngữ, Yên Tề ngữ, v.v.

Đất Kinh Việt được đặt tên là Châu Kinh. Ở phía Đông Châu Kinh, đất cũng là do dân Việt làm chủ, và họ đặt tên là Dương Việt, và cho thuộc vào Châu Dương.

Riêng hai Châu Kinh và Dương th́ ranh giới thật là mơ hồ, nhà vua cũng không biết nó đi tới đâu, chưa biết địa lư của vùng ấy.

Nhưng tại sao bây giờ họ dám nhận hai vùng đó là châu của họ? V́ hai lẽ. Họ đă gặp đất tốt không thể tưởng tượng được mà họ quyết chiếm. Lẽ thứ nh́ là dân Việt đó tương đối hiền lành, chớ không quá dữ như Việt Khuyển Nhung, nên họ xem quyết tâm của họ là chuyện chắc chắn thực hiện được, không như trước kia mà họ chưa biết ǵ hết về hai nơi đó. Cũng như Mao Trạch Đông đă cho vẽ dư đồ nước Tàu, trong đó có nước Việt của ta ngày nay vậy.

Đó là sự quyết tâm của một đế quốc, c̣n thực hiện được hay không là chuyện về sau. Họ chính thức hóa một việc chưa xảy ra để tự giúp họ tự tin, để nhắc nhở họ công việc mà họ phải làm.

Chúng tôi nói rằng có 7 châu rưỡi hoàn toàn do người Tàu định cư là 7 châu ở Hoa Bắc và nửa châu Kinh, c̣n châu Dương th́ chỉ là việc ghi hướng vào dư đồ, chớ ở đó, cả dân lẫn vua đều là Việt thuần chủng, mà cũng chẳng hề là đất bảo hộ lỏng lẻo của Tàu.

Cứ theo luận cứ của giáo sư Kim Định th́ 9 châu lẽ ra phải ở trên sông Hoàng Hà v́ giáo sư chỉ nói đến địa bàn của vua Vũ. Nhưng sự thật th́ trong đó có hai châu ở dưới sông Dương Tử là châu Kinh và châu Dương.

Ở đây giáo sư Kim Định lại cũng mâu thuẫn là bài th́ nói như thế nhưng ông lại cho vẽ (hay vẽ theo sách Tàu th́ không rơ) hai châu ở lưu vực Dương Tử, và hơn thế vị trí của 9 châu của ông rất là kỹ hà học y như h́nh vẽ về chế độ Tĩnh Điền.

Có đâu mà đều đặn như thế. Và nhứt là châu Từ lại không nằm ở chỗ mà ông vẽ.

Trong bài giáo sư viết: Châu Dương gồm cả Thái Hồ.

Viết như vậy là đúng. Chỉ phiền là Thái Hồ nằm ở gần biển Đông. Trong bức dư đồ có vẻ Tĩnh Điền của giáo sư th́ vị trí của Thái Hồ ở tỉnh Giang Tô, lại bị châu Từ chiếm mất, trái hẳn với lời ghi chép của thiên Vũ Cống của Kinh Thi mà giáo sư cũng nghe theo, là châu Dương ăn tới tận biển Đông.

Sự thật th́ châu Từ ở trên châu Dương, châu Dương là châu cực Đông Nam của Tàu, ở Đông của châu Dương là biển cả, không c̣n châu nào khác được nữa hết.

Đó là một bức dư đồ cố ư vẽ sai, không rơ sự cố ư ấy là của chính giáo sư hay của Tàu mà giáo sư vẽ theo nhưng thiếu kiểm soát, vẽ sai để cho ăn khớp với những chủ trương khác.

Trong dư đồ sai đó, cái châu cực Đông Nam lại mang tên là châu Từ. Nếu không vẽ sai như thế, dư đồ sẽ không ăn khớp với chế độ Tĩnh Điền.

*

*      *

Như vậy hành động phong ở đây, có khác ở Hoa Bắc, mà nhà vua chỉ phong khi nào chiếm xong một vùng đất, c̣n ở đây th́ phong là giao cho sứ mạng chiếm lấy vùng đất đó.

V́ thế mà rồi mới không nghe tin tức ǵ hết về bọn được phong, lũ ấy không có dựng sớ báo cáo t́nh h́nh, không có nộp cống cho đến đời nhà Chu, bởi lũ ấy bận khẩn hoang, đă ra cái thể thống ǵ đâu. Đó là những đoàn di cư khẩn hoang hơn là đi làm quan để hưởng thụ và đó là một cuộc đem con bỏ chợ của vua nhà Hạ vậy thôi.

Châu Kinh có diện tích rất nhỏ.Theo thiên Vũ Cống th́ ở hướng Đông, châu ấy chỉ tới ngọn sông Hoài. Sông Hoài là con sông nằm giữa sông Hoàng Hà và sông Dương Tử. Như vậy là đất rất hẹp.

C̣n châu Dương th́ lại mênh mông không có bờ bến nào cả, từ ngọn sông Hoài ra tới biển Đông rồi từ đó, tha hồ mà xuống phương Nam.

Sở dĩ có sự chênh lệch về diện tích như vậy là v́ châu Kinh đă được người Tàu tràn tới đông đảo, và đó là phạm vi của dân di cư Trung Hoa họ bắt đầu biết khá rơ về một vùng đất mà dân họ đă định cư, c̣n châu Dương là địa bàn của Việt tộc thuần chủng mà họ chưa biết địa lư.

Những vua nước Ngô, nước Việt sau đó, khoe rằng họ là con cháu Hoàng Đế, Đại Vũ, v.v, nhưng sử Tàu lại đính chánh sự t́nh đó mà ít ai chú ư đến. Quả thật thế, chép truyện nước Ngô, Khổng Tử cho biết rằng một phản tướng nước Sở là Vu Thần, lánh thân ở nước Tấn, đă dạy cho nước Ngô man di biết chiến lược, chiến thuật và cách chế tạo vũ khí Trung Hoa để mượn tay nước Ngô đánh phá nước Sở mà Vu Thần căm thù. Nước Sở cũng bị xem là nước Man di, nhưng năm ấy (595 T.K.) th́ nước Sở đă hoàn toàn bị Hoa hóa rồi, c̣n nước Ngô th́ chưa.

Dĩ nhiên là nước Việt ở dưới nước Ngô, lại c̣n không biết ǵ hết về nền văn minh của Trung Hoa.

Nếu chúa nước Ngô quả là con cháu vua Trung Hoa được phong ở đó như y khoe và sử Tàu cóp theo th́ hẳn khi đi nhậm chức, ông ấy có mang theo rất đông cán bộ và chuyên viên Trung Hoa th́ không thế nào nước Ngô lại dốt văn minh Tàu đến thế, cho dẫu về sau họ biệt lập th́ tuy không giao hiếu với Trung Hoa chớ dân chúng vẫn có qua lại, Trung Hoa tiến đến đâu, họ tiến theo đến đó, có kém hơn đôi phần, th́ có, chớ có lư nào mà hơn một ngàn năm sau họ vẫn c̣n dốt Trung Hoa mà phải học với Vu Thần?

Nước Việt ở xa hơn nước Ngô th́ lại càng tuyệt đối không biết văn minh Trung Hoa, và tên Vô Dư, không bao giờ là tiên tổ của Câu Tiễn cả.

Vậy những nước ở Kinh Việt và Dương Việt, không phải nước nào cũng do người Tàu dựng lên, mà có những nước hoàn toàn Việt, từ cấp lănh đạo cho đến dân chúng.

Mà đừng tưởng là Khổng Tử chép láo. Khổng Tử rất khinh man di, mà sau đó, man di Việt ở Cối Kê lại làm Bá, tức làm sếp các chư hầu, kể cả chư hầu Lỗ của ông nữa, th́ hẳn Khổng Tử bị chạm tự ái lắm. Nhưng ông cho biết Ngô và Việt là hoàn toàn man di, th́ là ông chỉ v́ sự thật mà thôi.

Nếu v́ tự ái quốc gia, họ Khổng đă chép láo là hai nước đó đă được người Tàu khai hóa rồi.

Tên và biên giới của những thái ấp tự xưng là nước Nầy nước Nọ dưới đời nhà Chu, có thể biết rơ nhờ những tác phẩm như Tả Truyện, Phương dư kỷ yếu giản lăm, Độc sử phương dư kỷ yếu, Thông Giám cương mục, v.v. chẳng những biết về cấp lănh đạo, mà c̣n về dân của những nước ấy, họ là dân Trung Hoa hay dân nào khác, đều biết được khá chắc chắn.

Tả Truyện, khi th́ nói đến Tùy Hầu khi th́ nói đến chúa nước Giang, th́ nước nào có Hầu th́ nước đó tuy cũng là nước của dân Việt mà bị cán bộ Trung Hoa lănh đạo nên có sự kiện phong Hầu, c̣n nước nào mà sách đó chỉ nói đến chúa th́ chắc chắn là hoàn toàn Việt, kể cả ông chúa của nước cũng là Việt, chớ không riêng ǵ dân, v́ y không mang tước của Tàu.

Vua nhà Hạ không phải chỉ phong cho một ḿnh tên Vô Dư ở đất Việt mà c̣n phong cho nhiều người khác nữa. Sở dĩ tên Vô Dư được lưu danh hậu thế là v́ các vua của nước Việt Cối Kê về sau khoe họ là con cháu Vô Dư, mà v́ nước Việt th́ đă làm Bá một thời, rất nên cường thịnh, rất nổi danh thành ra Vô Dư cũng được thơm lây c̣n những người được phong khác th́ về sau đă mất hết đất trong tay nước Sở, không ai buồn viết sử cho họ hết.

Thí dụ ở Bắc Sở có nước Trần, ở Đông Sở có nước Tùy, ở Nam Sở có nước Huyền đều là những nước do bọn di cư nhà Hạ lập ra với chủ lực dân chúng là Việt tộc mà Tàu gọi là Nam man hoặc Việt di.

Nước Trần nầy, giữ ngôi được hàng ngàn năm cho tới năm 478 T.K. th́ bị Sở diệt. V́ cấp lănh đạo là người Tàu, nên khi bị diệt, họ bỏ dân, chạy trở về Hoa Bắc và cướp ngôi của nước Tề.

Về Châu Dương th́ Vũ Cống chép sai. Chương ấy cho rằng châu Dương nằm giữa sông Hoài và biển. Sông Hoài thẳng góc với biển th́ làm sao có được một vùng đất ở giữa sông Hoài và biển? Ở giữa sông Hoài và biển là chính sông Hoài ấy chớ. Thật ra th́ châu Dương ở dưới sông Hoài, Bắc giáp sông Hoài, Tây là châu Kinh, Đông là biển, c̣n Nam vẫn tự do y như châu Kinh, người Tàu tiến đến đâu là châu Kinh châu Dương tiến đến đó.

Nhưng cái sai của Vũ Cống dầu sao cũng làm cho bức dư đồ của giáo sư Kim Định về 9 châu kỹ-hà-học không đứng vững được nữa. Vũ Cống chỉ sai có chữ Giữa, nhưng biết đúng là nó ra tới biển Đông, c̣n bức dư đồ nói trên th́ lại để dành biển Đông cho châu Từ.

Nhưng không hẳn là Vũ Cống đă sai. Người Tàu thời xưa khá dễ dăi về tứ phương, và họ nói như vậy là nói theo quan điểm của người Hoa Bắc, đứng trên sông Hoài nh́n xuống măi th́ quả thật tới biển Đông.

Đó là hai châu có tánh cách đặc biệt hơn bảy châu khác nhiều lắm. Tuy nhiên, có châu Duyện ở tỉnh Sơn Đông cũng giống hệt như vậy, tức co, giăn không chừng.

Cho tới đời nhà Chu mà ở phương Đông, người Trung Hoa cứ c̣n phải đánh nhau măi với rợ Đông Di và sứ mạng diệt Đông Di do nước Tề đảm nhận.

Dân di cư cứ đông lần lên cho đến đời vua thứ ba của nhà Chu th́ Trung Hoa mới phong thật sự cho một nhà quư tộc Trung Hoa là Hùng Dịch, với tước Tử, là tước kế chót. V́ đó là đất man mọi, mà theo quan niệm Trung Hoa họ Hùng không phải là Hoàng thân quốc thích mà chỉ là con cháu của một gia đ́nh làm thầy dạy con vua học, nên không được phong ở một vùng đất lớn, như là bọn bà con của vua.

Nhưng dầu sao Kinh Việt cũng bảnh v́ bao nhiêu nước khác dọc bờ Đông sông Hán đều bị Hùng Dịch gọi là “rợ Hán Đông” hết thảy, th́ tức y là sếp của một cộng đồng Trung Hoa độc nhứt ở đó, trừ nước Trần ở phía Bắc của y th́ không kể.

Hùng Dịch làm tṛn sứ mạng cho đến năm con cháu y ly khai với chính quốc. Nhưng đó là chuyện của một chương sau.

Nhưng dân Việt ở Kinh Man ra sao? Đă bảo tên Vô Dư bị bỏ chợ, chính quốc không biết tới y nữa, thành thử chính quốc cũng không có tả dân Việt đó. Nhưng về sau, th́ nhóm Trung Hoa di cư và chính quốc có liên lạc với nhau, và nhờ thế mà Tàu Hoa Bắc mới biết Việt đó.

Thật ra th́ họ đă biết Việt tại sông Bộc ở Hoa Bắc trước đời Hạ, nhưng trước đời Hạ không có sử thành văn, c̣n truyền thuyết th́ v́ quá lâu đời nên thất truyền, v́ thế mà cho tới đời Chu Thành Vương, khi Hùng Dịch được phong, th́ dân Việt mới được Trung Hoa biết rơ.

Hơn thế, Việt Hoa Bắc không được gọi là Việt th́ nếu họ có tả, ta cũng không dè rằng họ tả dân Việt. Họ chỉ tả rơ Đông Di mà thôi, rợ nầy nhuộm răng đen, nhưng nhờ các tài liệu cổ khác mà ta ráp nối lại với nhau, ta mới biết rợ Đông Di là Lạc bộ Trăi và là cái ǵ nữa ta sẽ biết ở một chương sau, rất quan trọng.

Xin nhắc lại rằng Việt ở dưới sông Hoàng Hà là dân không phải Tàu, đă có mặt ở Hoa Bắc, nhưng bị đổi tên mà thôi, chớ không phải là chỉ ở Hoa Nam mới là có dân Việt. Dân ở trên kia cũng là Việt, nhưng bị Tàu gọi là ǵ và xưng là ǵ ta sẽ rơ.

Dân Việt ở Kinh Man ra sao?

Măi cho đến đời Xuân Thu, tức một ngàn năm đă qua rồi, mà Tả Khẩu Minh c̣n ám chỉ một “ngôn ngữ Việt”. Quả thật thế, Tả Truyện kể chuyện quan lịnh doăn nước Sở là Tử Ngươn đi đánh nước Trịnh, đến bên thành Trịnh th́ thấy dân chúng b́nh tĩnh như không có ǵ, lại c̣n lên đầu thành mà nói chuyện với xuống bằng tiếng nước Sở tức tiếng Việt.

Câu chuyện nầy xảy ra dưới đời Đông Chu mà nước Trịnh nằm vắt ngang sông Hoàng Hà, “nửa Nam, nửa Bắc”, nói theo sử Tàu. Dân Việt ở nước Trịnh đă bị Hoa hóa hết cả rồi và họ nói tiếng Tàu, nhưng nhờ ở giáp ranh với nước Sở, nên họ biết ngôn ngữ của Việt đất Sở chưa hoàn toàn bị Hoa hóa, chớ không phải họ là dân Việt đâu.

Xin đừng lầm lẫn danh từ Sở ngữ nầy của Tả Truyện với danh từ Sở ngữ của sách giáo khoa Tàu ngày nay. Sở ngữ của Tả Truyện là tiếng Việt, c̣n Sở ngữ của sách giáo khoa Tàu ngày nay là tiếng Tàu nhưng giọng Hồ Quảng.

Ta thử t́m xem chơi cái ngôn ngữ của nước Sở ấy ra sao, chỉ thử chơi chớ chữ Hán phiên âm tiếng Sở, đă sai rồi, rồi bị các nhà nho ta đọc sai một lần nữa th́ chẳng c̣n ǵ cả.

Đời nhà Hán, nước Ấn Độ tự xưng là Hanh Đu. Ông Tàu phiên âm và đọc là Tsin Tu cũng tạm được, nhưng vẫn sai, thế mà các cụ nhà Nho ta đọc ra là Thân độc th́ chỉ c̣n có trời mà biết Thân độc là cái ǵ.

Chỉ có các biểu địa cầu đưa ra những danh từ đọc đúng theo những kẻ nói ngôn ngữ ấy, ngày nay, mới là có nghĩa ǵ.

Nhưng ta cứ thử.

Đọc sử nước Sở, thấy họ có một viên tướng, họ là Đấu tên là Nậu ô Đồ. Tương truyền viên tướng ấy thuở c̣n là hài nhi được cọp nuôi, nên mới có tên như vậy, và đó là đặt theo ngôn ngữ của nước Sở (theo sử của nước Sở đă chép). Trong ngôn ngữ đó Cọp, gọi là Nậu, gọi là Ô Đồ.

Ngày nay th́ ở Nam Dương, họ nói là Sú Sú. Có ăn với Ô Đồ hay không, qua hai ba lần phiên âm?

C̣n cọp th́ họ gọi là Hari Mâu, có ăn với Nậu hay không, qua bao nhiêu lần phiên âm? (chữ Hari chỉ là trợ ngữ có nghĩa là trời, Trời cọp, như ta nói là ông cọp).

Nhưng ở chương ngôn ngữ tỷ hiệu, ta mới thấy sự thật hiển nhiên, đây chỉ là sẵn đà mà viết vậy thôi, và xin tạm biệt ông tướng Mâu Sú Sú (Nậu ô Đồ). Ta đă thoáng thấy rằng Việt là Mă Lai chánh hiệu rồi đó, ít ra cũng là Việt ở nước Sở, chớ tổ tiên ta th́ lại c̣n là một thứ Mă Lai khác nữa.

Tàu đă biết ǵ về Việt ở phía dưới sông Hoàng Hà?

Thứ nhứt, chữ Việt nguyên thỉ viết rất kỳ lạ: một nét ngang dài và một cái móc ở dưới. Đó là chữ Việt cuối đời nhà Thương, đầu đời nhà Chu, chớ đời Hạ, không ai biết nó ra sao cả, v́ không t́m được cổ tự đời Hạ bao giờ, nếu đời Hạ đă có chữ.

Chữ Việt giản dị đó, đích thị là cái đuôi của chữ Việt thứ nh́ trong thư tịch Trung Hoa, chữ Việt mà các nhà Nho ta gọi là Việt bộ Mễ, nhưng người Trung Hoa gọi đó là chữ Việt bộ Nguyệt và cái bộ Nguyệt là chính khúc đuôi ấy, chớ không phải là chữ Mễ bên trong khung vuông.

Cho tới khi Khổng Tử san định Kinh Thư th́ chữ Việt bộ Mễ mới thấy xuất hiện, chớ trước đó th́ chỉ có chữ Việt nguyên thỉ là cái đuôi của chữ Việt bộ Mễ.

Tại sao họ lại viết như vậy? Không thấy sách nào cắt nghĩa cả, chúng tôi nghiên cứu riêng th́ thấy rằng chữ Việt nguyên thỉ và đơn giản đó, có thể có nghĩa là cái ŕu, mà sau nầy, đến đời Chu người Tàu mới viết lại với KimThích.

Bằng chứng mà chúng tôi tŕnh ra đây chỉ do nhiều năm nghiền ngẫm, như đă nói, không thấy sách nào giải thích cả. Cái chữ Việt đó là chữ tượng h́nh, h́nh một loại vũ khí độc đáo mà dân Việt có, lưỡi bằng đồng pha, cán ngắn, dùng để ném đi, chớ không phải để cầm tay mà chém trực tiếp.

Một lưỡi ŕu như vậy đă đào được ở Quốc Oai, giữa Hà Đông và Sơn Tây, mà người Pháp cho rằng giống chiếc giày hay một bàn chơn. Cán ŕu bằng nhánh cây chớ không phải bằng gỗ đẽo, bằng vào công tŕnh hồi phục lối tra cán cho loại ŕu ấy của các nhà bác học Viện Viễn Đông bác cổ.

Chúng tôi xin tŕnh bày ra đây hai bức họa, chữ Việt nguyên thỉ đó, và h́nh của lưỡi ŕu Quốc Oai với cán bằng nhánh cây, theo như đă hồi phục (xem h́nh trang sau).

Thật ra th́ theo sách vở, chữ Việt chỉ có nghĩa là cái búa (le marteau) mà thôi, chữ Phủ mới là cái ŕu (la hâche).

Nhưng người Trung Hoa, trong ngôn ngữ thường, đều gọi cả hai thứ là Phủ hoặc là Việt, hoặc là Phủ Việt. Tiếng Quan Thoại, Phủ họ đọc là Fúa, và dân ta đă vay mượn và nói sai chỉ có một chút xíu, từ âm B, thay cho âm F mà thôi. Phủŕu trong sách vở, mà là búa ở trong dân gian (ở Trung Hoa).

Tại sao có sự dùng danh từ hỗn loạn như vậy?

Là tại có một loại ŕu, một bên là ŕu, c̣n một bên là búa.

Tiếng Việt Nam cũng không phân biệt, y như tiếng Tàu. Tự điển Khai trí Tiến đức (Hà Nội) định nghĩa búa là búa mà cũng là ŕu dùng để bổ cây. Quanh chúng tôi, chúng tôi cũng không nghe ai phân biệt búa ŕu một cách quá khắt khe. Người ta nói “Vơ khí của Tŕnh giảo Kim đời Đường là cái búa”. Mà thật ra, đó là cái ŕu.

Những ǵ xảy ra cho Phủ cũng xảy ra cho Việt, nghĩa là khi xưa bên Tàu, cái việt, tuy trong sách có nghĩa là búa, nhưng vẫn được dân chúng hiểu là ŕu. Mà cái việt là tiếng phiên âm, nó là danh từ chớ không phải danh xưng, mà là danh từ của dân Việt.

 

Chữ Việt nguyên thỉ đời nhà Thương.

Lưỡi ŕu bằng đồng đào được ở Quốc Oai và sự hồi phục cán bằng nhánh cây của Viện Viễn Đông bác cổ. Chữ việt và ŕu giống hệt nhau và trong Hoa ngữ th́ việt là cái ŕu, ngày nay viết khác, một bản Kim, một Thích, nhưng xưa th́ như trên.

Dân ấy dùng danh từ đó để chỉ món vũ khí độc nhứt của họ mà Tàu bắt chước cả danh từ lẫn món đồ, chớ Tàu đă có danh từ Phủ và Thích rồi, không cần thêm danh từ Việt nữa mà phải sáng tạo lần thứ ba. Họ phải mượn danh từ v́ đă mượn món vũ khí.

Gọi một thứ dân bằng danh từ chỉ một món đồ độc đáo của dân đó, là chuyện đă có xảy ra trong lịch sử, th́ giả thuyết rằng họ gọi tên dân Việt bằng danh từ việt chỉ cái ŕu của Việt, không phải là vô lư.

Về sau, tự nhiên họ phải viết tên cái ŕu (tức cái việt) rắc rối hơn, với bộ Kim, cho phân biệt với chữ Việt tượng h́nh cái ŕu dùng để chỉ tên dân.

Tên dân lạ, thường được Tàu đặt bằng biệt sắc của dân ấy mà lưỡi ŕu đó là một biệt sắc rất độc đáo. (Mà nếu quả như vậy th́ danh xưng Việt là do Tàu đặt cho ta, chớ không phải do ta tự xưng. Ta chỉ gọi cái ŕu của ta là cái việt, chỉ có thế thôi).

Cũng nên nhớ rằng loại lưỡi ŕu Quốc Oai nói trên được cả người Việt Nam hiện nay gọi là Búa mặt nguyệt, v́ nó hơi giống mặt trăng lưỡi liềm. Đó là nói theo ngày nay mà ta đă vay mượn Phủ rồi, chớ xưa, chắc là nói Việt mặt nguyệt. Nhận xét nầy cắt nghĩa được tại sao chữ Việt mà ta gọi là bộ Mễ, người Tàu lại gọi là bộ Nguyệt, v́ chính họ cũng thấy là cái đuôi quan trọng đó giống trăng lưỡi liềm, bằng không phải vậy th́ không sao cắt nghĩa được tại sao bộ Mễ lại bị họ gọi là bộ Nguyệt.

Đây chỉ là ức thuyết. Nhưng rồi chúng ta sẽ thấy ức thuyết nầy đúng sự thật khi nghiên cứu về tự dạng thứ tư của chữ Việt.

Một người bạn có theo dơi công việc của chúng tôi, đặt ra câu hỏi sau đây: “Dưới đời nhà Thương dân Việt Kinh Man đă biết chất đồng pha hay chưa và đă chế tạo được cái ŕu Quốc Oai chưa mà liên kết tự dạng Việt nguyên thỉ và lưỡi ŕu đó?”.

Đó là một câu hỏi rất thông minh.

Chúng tôi không trả lời được, v́ chúng tôi không có tài liệu nào cả, và trên đây chỉ là ức thuyết.

Dầu sao, dân Việt cũng đă biết đồng pha vào thời Tây Chu. Vào thời ấy họ đă chế tạo trống đồng rồi th́ rất có thể dưới đời Thương họ đă biết chế tạo ŕu bằng đồng pha, v́ đời Tây Chu kế tiếp cho đời Thương, hai trào đại nầy không xa nhau lắm.

*

*      *

Thứ nh́, cái chủng Việt đó ăn cơm. Đó là một điều kỳ lạ đối với người Trung Hoa là thứ dân chưa thấy cây lúa lần nào. Ở địa bàn cũ của họ, v́ phong thổ, khí hậu, người Tàu chỉ trồng được kê và lúa ḿ mà thôi. Nhưng họ không biết làm bánh ḿ như người Tây phương nên từ mấy ngàn năm rồi, họ ăn bánh bao.

Măi cho tới ngày nay, người Hoa Bắc cũng tiếp tục ăn bánh bao thay cơm. Đọc truyện Tàu, ta rất ngạc nhiên mà thấy các tay kiếm khách vào tửu quán ăn một hơi ba chục chiếc bánh bao, trong khi đó th́ dân Sài G̣n chỉ ăn được một chiếc là no nóc và ngán ngẩm.

Đó là tiểu thuyết nói đến những câu chuyện xảy ra ở Hoa Bắc, và bánh bao bán cho dân ăn rất nhỏ và không có nhân thịt như bánh bao đờ luưt ở Sài G̣n.

Đó đây, trong sách vở, nghe nói ở Hoa Bắc trồng được một thứ lúa như nếp, tức trung gian giữa lúa ḿ và lúa gạo, chớ không trồng được lúa gạo. Ngày nay th́ họ đă biết ăn cơm, nhưng họ ăn chơi như dân Sài G̣n ăn bánh ḿ, chớ không ăn để mà sống, v́ cơ thể của họ không quen. Vả lại muốn ăn cơm phải mua gạo Hoa Nam, tốn tiền chuyên chở, hóa ra cơm là món xa xỉ phẩm đối với Hoa Bắc.

Nhưng cho tới đời Hán, món xa xỉ phẩm ấy cũng chưa được dùng ở Hoa Bắc, v́ thời ấy phương tiện vận tải c̣n kém lắm. Ngay những năm Hoa Bắc bị hạn hán, lúa ḿ chết hết mà dân Hoa Bắc cũng đành chịu chết đói chớ cũng chẳng có cơm mà ăn.

Trung Hoa nguyên thỉ đă có chữ Điền từ lâu, nhưng điền không phải chỉ có nghĩa là ruộng lúa gạo, mà ruộng lúa nếp, ruộng lúa ḿ, ruộng kê cũng đều được gọi là điền.

Mễ nầy th́ Tàu chỉ mới biết một ngàn năm sau khi tiên tổ của Hùng Dịch lấy họ Mị. MễMị chẳng liên hệ ǵ với nhau hết, v́ lẽ đó, và người Tàu Hoa Bắc đọc hai chữ đó cũng khác nhau, không hề có vấn đề lầm âm như giáo sư Kim Định đă nói về Mị và Mễ.

Chữ Mị viết khá giống chữ Tân và chữ Thiên, cho nên cụ nghè Ngô Mạnh Nghinh, dịch Phương Đ́nh Dư địa chí, cứ dịch là Tân, hoặc là Thiên, và nó khác xa chữ Mễ, không thể lầm âm, cũng không thể lầm tự dạng được.

Hơn thế, tổ của Hùng Dịch lấy họ Mị một ngàn năm trước khi Hoa tộc biết cây Mễ th́ làm thế nào mà có sự lầm âm?

Tới đây rất nhiều người tự hỏi đôi đũa ăn cơm là phát minh của dân ăn bánh bao hay của dân ăn gạo cơm. Nh́n vào Âu châu, người ta đâm tin rằng không phải dân ăn lúa ḿ đă phát minh đũa đâu. Các thứ dân ăn lúa ḿ ở Tây phương, ăn bằng tay măi cho tới ngày nay giới khá giả, không xé bánh ḿ, mà xắt bánh bằng dao, nhưng rồi khi đưa nó lên miệng, cũng cứ phải dùng tay. C̣n dân ăn bánh bao ở phương Đông phát minh ra đôi đũa để làm ǵ?

Muốn vệ sinh, có thể chỉ dùng một chiếc que nhọn và nhỏ như cây tăm xỉa răng là đủ đưa loại bánh bao nhỏ vào miệng rồi.

Về nghi vấn nầy, chúng tôi có một bằng chứng rất là quan trọng. Danh từ Đũa đích thị là danh từ Mă Lai, nó có nghĩa là Hai, là Cặp.

Trong khi đó th́ Tàu gọi đũa là Trợ, hoặc Khoái tử.

Danh từ Đôi của Việt Nam cũng là biến thể của danh từ Mă Lai Đua, v́ ta nói Đôi Đũa th́ Mă Lai nói Đua Đua.

Nói thế không phải là để tranh hơn với Trung Hoa, một dân tộc đă có một nền văn minh lớn, mà để cho thấy dân Việt cũng đă khá văn minh rồi chớ không c̣n là rợ như sử Tàu cứ nói măi.

Thứ ba, dân Việt ở nơi đó kém văn minh hơn dân Hoa không bao nhiêu, bằng vào những câu sử Tàu tả họ cài nút áo phía bên tả. Họ đă biết mặc áo, chớ không phải là dân c̣n ở lỗ.

Sử Tàu chép rằng dân Việt ở nước Sở lấy bên tả làm bên thuận. Nhận xét đó ăn khớp với h́nh khắc ở trống đồng Đông Sơn Lạc Việt, mà bao nhiêu cầm thú đều đi và bay ngược chiều kim đồng hồ, tức bay từ phải sang trái.

Điều thứ tư, họ đă tiến đến văn minh đồng pha, không biết từ bao lâu rồi, chỉ biết đến đời Tây Chu họ đă có trống đồng pha, mà văn minh đồng pha do họ tự tạo chớ không phải học với Trung Hoa. Trống đồng pha là một nhạc khí tôn giáo đặc thù của họ mà thư tịch Trung Hoa đời Chu có nói đến, c̣n Tàu th́ không có trống đồng bao giờ.

Thư tịch Trung Hoa các đời sau cũng có nói đến trống đồng pha của Việt, nhưng đó là Việt ở dưới nữa, ở đây chúng tôi chỉ kể đến Việt trên là Việt đất Kinh Cức mà thôi.

Điều thứ năm, mà họ nhận thấy là dân Việt, v́ ăn cơm, ăn cá nên có ḿnh dây (Sveltesse) chớ không bao giờ phát ph́ (Obésité). C̣n người Trung Hoa th́ ăn thịt và ăn lúa ḿ, nhiều chất bổ, nên thường phát ph́. Họ lại lai giống với người Tây phương mà bịnh phát ph́ là bịnh chung của dân Tây phương.

Nhận xét nầy đă biến thành tục ngữ của họ vào đời Tây chu. “Tần ph́ Việt xấu”. Họ không so sánh Trung Hoa ở các vùng khác, mà chỉ trỏ người Tần, tỉnh Thiểm Tây, v́ Hoa và Việt có biên giới chung với nhau trước tiên tại Nam Tần.

Thế th́ Tần chắc một ngàn phần trăm không phải là Việt như giáo sư Kim Định đă nói trong V.L.T.N. Họ là Tần, ăn lúa ḿ và ăn thịt nên họ mới ph́.

Tàu lại có một câu tục ngữ nữa mà Tản Đà rất ưa dùng: “Gỏi Sở, nem Tần”. Đích thị Tần ưa ăn thịt (nem) nên giỏi làm món nem, c̣n Sở chuyên môn ăn cá nên có tài làm gỏi cá, v́ đất Sở có nhiều sông, hồ và đầm lớn. Ăn cá nhiều hơn ăn thịt là thói quen của chủng Mă Lai.

Từ đời nhà Hạ nầy cho đến đầu Tây lịch, Trung Hoa càng năm càng biết rơ thêm về chủng Việt qua những cuộc lấn vào đất Việt của họ, và càng học được thêm rất nhiều việc của dân Việt.

Họ học thủy vận của dân Việt, học nghề đánh cá của dân Việt, v.v, đó là không kể họ lấy những cái biết của dân Việt làm của riêng của họ mà không hay biết, v́ lấy qua trung gian người Việt bị đồng hóa, chẳng hạn đôi đũa ăn cơm nói trên.

Ông H. Maspéro cho biết rằng vài cổ thư thường Trung Hoa nh́n nhận rằng họ học cách lợi dụng nước thủy triều để làm ruộng của dân Việt nhưng không chỉ rơ xuất xứ, dầu sao cũng tin được v́ giữa Việt và Hoa, nhà học giả Pháp ấy cảm t́nh và khâm phục Trung Hoa nhiều hơn th́ không thể bảo rằng ông ấy xuyên tạc (B.E.F.E.O. 1918).

Ngôn ngữ Hoa Nam cũng đầy dẫy tiếng Việt, Nhiều chữ trong Nam Hoa Kinh nếu không có thiết âm th́ người Tàu xưa không biết đọc mà người Hoa Bắc nay cũng không đọc được v́ nó chỉ những ǵ chỉ có ở đất Việt mà thôi.

Danh từ Trà chẳng hạn là danh từ Việt mà họ học được ở nước Đông Âu (Bắc Phúc Kiến) tại núi Vũ Di sơn là nơi có danh trà, chớ trước đó, họ cũng biết trà, v́ Hoa Bắc cũng có trà, tuy là trà dở, nhưng vẫn có, nhưng họ gọi khác, bằng ngôn ngữ của họ, hay của rợ nào th́ không biết. Họ gọi nó là Minh (Bắc Việt đọc là Dánh) hoặc Đồ, hoặc ǵ ǵ nữa đó.

Trong Nam Hoa Kinh, những động từ Híp mắt, Cá đớp bóng, đều được thiết âm, v́ ở Hoa Bắc quá lạnh, ít nắng, dân không bao giờ có dịp híp mắt lại, ở Hoa Bắc cũng không có sông ng̣i đáng kể, nên dân Hoa Bắc cũng không nghe thấy cá đớp bóng bao giờ hết.

Ở đây th́ giữa Hoa và Việt mới có hợp chủng và hợp văn.

Ở chương Sông Bộc, ta sẽ biết rằng bọn Việt nầy, mặc dầu đồng chủng và đồng ngôn với bọn Việt Hoa Bắc, nhưng họ sống riêng biệt, chớ không phải là Việt Hoa Bắc chạy xuống đó bằng đường bộ.

Quả thật có một nhóm nhỏ vượt sông Hoàng Hà, và vượt sông Dương Tử sau khi lănh tụ Xy Vưu bị diệt, nhưng đa số chạy đi bằng đường biển để tới những nơi khác chớ không có xuống Hoa Nam. Các cuộc thám quật đă cho thấy như vậy v́ hai thứ Mă Lai đó có vũ khí và dụng cụ khác nhau, mặc dầu có sọ giống hệt nhau.

Tóm lại, chủng Việt ở đó đă văn minh rồi, và văn minh khá cao, cả khi chưa tiếp xúc với Trung Hoa, trước cuộc di cư đời nhà Hạ. Văn minh đó là của họ sáng tạo ra chớ không phải bắt chước của Tàu.

Dân Việt ở đó c̣n mang năm biệt sắc chung cho toàn khối là tả nhậm xâm ḿnh và xén tóc ngắn, và một vài nhóm Việt hiếm hoi cài nút áo bên trái và nhuộm răng đen. Năm biệt sắc ấy vô cùng quan trọng v́ nó giúp ta theo dấu họ, trong không gian và thời gian.

Chúng tôi cố t́nh tạm giấu biệt sắc thứ sáu mà chỉ tiết lộ ở một chương khác thôi, đó là biệt sắc quư báu và độc nhứt giúp ta biết đích xác ta thuộc nhóm nào trong cái đám Bách Việt đông vô số kể ấy, v́ chỉ có nhóm ấy và ta là có mang biệt sắc thứ sáu ấy mà thôi, ngoài ra không có nhóm nào khác mà giống nhóm đó và ta cả.

Chúng tôi có nói là bọn Việt Mă Lai ở Kinh Man hợp chủng và hợp văn với Hoa tộc có thuần tính, v́ bọn Tàu di cư chỉ xin ở trọ mà thôi. Nhưng khi họ đến quá đông, lập ra nước Sở th́ Việt liên kết với nhau để đánh họ trong một cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài nhiều trăm năm, v́ Việt Mă Lai chợt thấy nguy cơ bị mất nước.

Sự kiện nầy được chép trong Tả Truyện và sẽ được nói đến ở một chương sau, trong đó ta thấy lộ ra các sự kiện sau đây:

Việt ở đó đă lập quốc rồi, và tất cả các quốc gia Việt đều liên kết nhau quyết diệt nước Sở và Sở đă có lần lâm nguy, suưt bị Việt diệt quốc.

Lănh đạo cuộc chống xâm lăng đó là một nhóm Việt từ Hoa Bắc tái lập quốc ở đó.

Nhưng họ Hùng tài giỏi nên giữ vững được địa vị và cơ sở của nước Sở, thành thử rồi Sở thắng và nuốt lần toàn thể Việt ở đó.

Thế nên mặc dầu vài nhóm Việt ở đó đă lập quốc và đă làm rung động cả Trung Hoa chánh quốc, thí dụ dưới trào Câu Tiễn, nhưng rốt cuộc rồi dân Việt cũng thua cuộc v́ rồi Trung Hoa xâm lăng và trực trị tất cả mọi nước Việt tên là Sở, Ngô, Việt, Mân, Đông Âu, Tây Âu, v.v.

Dân của những nước ấy bị đồng hóa, bị lai giống với Tàu và chủng Nam Mông Gô Lích thành h́nh.

Chủng Nam Mông Gô Lích thành h́nh trong suốt thời gian trên ba ngàn năm, từ đời Hạ đến đời Nguyên. Vào đời Nguyên nầy, du khách Marco Polo có chép rằng Hoa Bắc gọi Hoa Nam là Man di, tức cuộc hợp chủng và đồng hóa chưa hoàn thành, yếu tố Việt c̣n mạnh lắm tại Hoa Nam vào thời nhà Nguyên, tức tương đối mới đây thôi. Người Hoa Nam không c̣n mang cái sọ của người Hoa Bắc nữa, mà dân Việt ở đó cũng không c̣n mang sọ Mă Lai nữa.

Văn hóa, phong tục, ngôn ngữ Trung Hoa đă tràn ngập đất Việt, nhưng đó là một thứ người Tàu loại khác mà chỉ số sọ khác với chỉ số sọ Hoa Bắc đến 3 đơn vị. V́ thế nên khoa chủng tộc học mới phân biệt ra hai chủng Trung Mông Gô LíchNam Mông Gô Lích. Khi sự khác biệt chỉ số sọ vượt qua một số đơn vị nhứt định nào đó, th́ hai chủng không c̣n được xem là một nữa, mặc dầu họ cũng đồng chủng.

Ở đây chủ trương của chúng tôi ngược hẳn với chủ trương của giáo sư Kim Định. Theo giáo sư th́ chính văn hóa Việt tràn ngập Trung Hoa, ngay ở Hoa Bắc và hồi thời xưa hơn (nhưng giáo sư Kim Định nói không có bằng chứng, hoặc với những bằng chứng không đứng vững được).

Nhưng như chúng tôi đă chứng minh rằng không có dấu vết Việt trong văn hóa Trung Hoa ở Hoa Bắc mà chỉ có dấu vết Nhục Chi và Mông Cổ mà thôi. Mà đừng tưởng là v́ lâu đời nên dấu vết Việt bị xóa, bằng chứng là dân Mă Lai Dravidiens vẫn c̣n đông đến 100 triệu, hiện tại Ấn Độ ngày nay, mặc dầu họ đă bị chủng Aryens đồng hóa từ 4500 năm rồi, mà cứ c̣n quá nhiều dấu vết Mă Lai trong xă hội Dravidiens ngày nay. Và cái sọ th́ là chuyện không thể chối căi.

Dưới đây là những khác biệt giữa hai chủng Trung Mông Gô Lích và Nam Mông Gô Lích, không kể cái sọ.

  1. Chủng Nam Mông Gô Lích bé nhỏ hơn chủng Trung Mông Gô Lích nhiều lắm. Người Quảng Đông mà đứng gần người Thiểm Tây, trông như ta đứng gần người Pháp. Đó là v́ dân Việt bé nhỏ, họ thành Tàu th́ Tàu ấy phải nhỏ, họ lai Tàu, họ làm cho Tàu nhỏ lại.
  2. Chủng Trung Mông Gô Lích màu da ngâm ngâm đen, c̣n chủng Nam Mông Gô Lích rất trắng bởi trong chủng Việt có chi Thái mà nhiều tiểu chi như Thể, Lô Lô rất trắng. Các vua chúa Trung Hoa từ đời Lục triều, đều tuyển cung phi mỹ nữ ở Hoa Nam mà Dương Quư Phi là một.
  3. Trung Mông Gô Lích thực tế, khô khan, lư trí, c̣n Nam Mông Gô Lích th́ lăng mạn, bồng bột, ưa văn nghệ. Nước Sở thành lập rồi, mới có thuyết siêu h́nh ở đó, và chính vua Sở bắt đầu xây cung điện đẹp trước Hoa Bắc, và cái cung điện nổi danh trước nhứt của dân tộc Trung Hoa là cung Sở Yêu, ở nước Sở.

Sở từ cũng lăng mạn hơn Kinh Thi nhiều lắm, c̣n các chuyện thần tiên quái đản của Tàu cũng đều có nguồn gốc tại nước Sở, từ đó về sau.

4.      Theo bác sĩ Huard, giáo sư y khoa ở Hà Nội hồi tiền chiến th́ dưới đời nhà Đường đă có những cuộc tranh luận giữa các y sĩ Tàu, họ cho rằng những cân lượng thuốc men của họ chỉ đúng cho người Hoa Bắc mà có thể hại đến tánh mạng của người Hoa Nam, quá bé nhỏ, quá yếu đuối.

Thế th́ chủng Nam Mông Gô Lích khác chủng Trung Mông Gô Lích hơi nhiều, chớ không phải là khác chút đỉnh đâu, khi có một cuộc tranh luận như vậy. Thế nên khoa học mới có phân biệt như trên.

Nhưng yếu tố quyết định vẫn cứ là cái sọ.

Ta đă thấy rằng sọ Hoa Bắc khác sọ Hoa Nam về chỉ số. Nhưng không phải chỉ có thế. Sọ Hoa Bắc có tánh cách Mésocéphale (tức sọ dài), c̣n sọ Hoa Nam th́ có tánh cách Brachycéphale đến 40 phần trăm, tức hơi tṛn, v́ từ Quảng Đông mà Bắc tiến th́ tánh cách Brachycéphale ấy càng lúc càng mất đi cho tới bờ sông Hoàng Hà th́ nó biến mất, chỉ c̣n lại độc một tánh cách Mésocéphale mà thôi.

Trong khi đó th́ sọ Việt và sọ Mă Lai mang tánh cách Brachycéphale đến một trăm phần trăm. Thế nghĩa là Hoa Nam là Tàu lai Việt, tức lai Mă Lai, và càng tiến xuống phương Nam họ càng lại mạnh hơn, cho đến biên giới Hoa Việt th́ hết, hay chỉ có chút ít tánh cách Mésocéphale v́ ta có lai Tàu chút ít suốt một ngàn năm bị trị.

Hiện nay yếu nhơn số một của Trung Hoa ở Sài G̣n có cái sọ dài quá sức tưởng tượng, mà ai cũng thấy được trong tivi. Người Việt Nam không bao giờ có một cá nhân nào mà sọ dài kinh khủng đến thế.

Và một sự kiện hiển nhiên không thể chối căi được là người Việt Nam lại c̣n bé nhỏ hơn người Hoa Nam nữa.

Những người Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ, Quảng Đông sang làm ăn ở Sài G̣n đă cho thấy rơ như vậy, họ trung b́nh, cao hơn ta lối 10 phân tây, c̣n bề ngang th́ có bề thế hơn nhiều lắm. Tuy cũng có vài người bé hơn ta, mà đó là số ít thôi.

Ở Chợ Lớn, phu gạo toàn là người Tàu, v́ cái lẽ dễ hiểu rằng người ḿnh không vác nổi một bao gạo chỉ xanh nặng 100 kí-lô để đi xa mấy trăm thước mỗi ngày hàng trăm bận (gạo Việt chớ không phải gạo Mỹ 45 kư-lô).

Cuộc hợp chủng Việt-Hoa ở Hoa Nam lớn lao đến nỗi nó biến hẳn chỉ số sọ của người Hoa Bắc, biến đến cái mức độ mà khoa chủng tộc học phải phân biệt ra Trung và Nam Mông Gô Lích. Mà cho đến cả tâm hồn, trí năo, tánh t́nh, vóc dáng và màu da của họ cũng khác người Hoa Bắc.

Ngày nay các quyển sử Trung Hoa nh́n nhận rằng dân tộc họ do 5 chủng: Hoa, Hồi (Hồi Hột chớ không phải Hồi giáo), Tạng, Măng, Mông tạo thành. Họ quên mất chủng Việt là chủng đă đưa nhiều yếu tố chủng tộc vào đó nhứt v́ dân Hoa Nam đông hơn dân Hoa Bắc.

Không phải v́ họ bị mặc cảm lai “man di” mà phủ nhận chủng Việt đâu. Họ chỉ không biết mà thôi, hoặc quên đi. Họ không biết có ḍng máu Nhục Chi. Họ lại quên Việt. Nước Sở cứ bị xem như là nước của người Tàu, họ không biết rằng đa số dân Sở là đủ thứ man di, trong đó Việt văn minh hơn hết và chiếm đa số. Họ lại quên rằng trong cái nước Sở bị họ diệt hồi đời nhà Tần, có nước Ngô và nước Việt trong đó, mà toàn dân là Việt.

Với Việt, sự hợp chủng len lỏi vào rất lâu đời, Hạ, Nguyên: 3 ngàn năm, và chậm chạp, các nhà bác học Pháp và Anh thường dùng danh từ Osmose để tả cuộc hợp chủng đó. Hiện tượng Osmose làm cho người Tàu quên yếu tố Việt.

C̣n với Hồi, Tạng, Măng, Mông th́ họ không thể quên v́ nó mới xảy ra về sau nầy (không kể yếu tố Mông nguyên thỉ lúc Mông hợp chủng với Nhục Chi), lại xảy ra một cách ngoạn mục v́ bốn chủng ấy xâm lăng họ, chiếm đất đai mà họ đă lập quốc nơi đó và hùng cường từ lâu rồi.

Học ngôn ngữ Trung Hoa chúng tôi thấy rằng Quảng Đông, Mân Việt, v.v. nói tiếng Tàu sai giọng chút ít chớ không hề có phương ngữ Quảng Đông, phương ngữ Mân Việt như toàn thể thế giới đều ngộ nhận.

Tuy nhiên, những người Tàu Hoa Nam c̣n giữ được lối một trăm danh từ Mă Lai trong ngôn ngữ Tàu đọc sai đó, những danh từ ấy cũng có mặt trong Việt ngữ, y hệt như vậy (sẽ thấy ở các biểu đối chiếu ngôn ngữ).

Thế nghĩa là Tàu Hoa Nam là Mă Lai bị lai giống và đồng hóa đến 90 phần trăm.

Từ nhà Hạ về sau, các đời vua Trung Hoa đều lấy phương Nam làm hướng tốt, xây cung điện, thành quách, luôn luôn hướng về phương Nam. Sách Tàu nói rằng đó là theo thuyết âm dương và thuyết ngũ hành, nhưng không phải thế. Họ tự nhiên thấy rằng đó là hướng tốt v́ đó là con đường bành trướng thành công độc nhứt của họ, và họ làm thế để tự nhắc nhở cái nẻo đúng mà họ phải theo, cả về sau nầy nữa.

Thuyết âm dương và ngũ hành cho rằng hướng Nam là hướng tốt là nói theo kinh nghiệm của dân tộc họ, chớ không phải là nói theo quy luật thần thánh mà dân tộc họ bắt buộc phải mù quáng nghe.

Day mặt hướng Bắc là thái độ của chư hầu và buồn cười lắm là dưới thời Chiến quốc, các chư hầu phương Bắc, như nước Yên chẳng hạn, ngồi nói chuyện với vua nhà Chu hay một tay Bá nào đó, lại phải ngồi ở phía Nam của ông ấy để tỏ thái độ thần phục.

Tới đây th́ ta thấy sử gia Pháp René Grouset đă sai lầm, trong quyển “Sử kư Trung Hoa”, khi ông viết rằng: “Dưới đời nhà Hạ, dân Trung Hoa từ ngă ba sông Vị và sông Hoàng Hà di cư xuống lưu vực sông Dương Tử và hợp chủng với dân ở đó, dân ấy đồng chủng với họ”.

Phong tục day mặt hướng Nam của hoàng gia và quư tộc, rồi sau nầy của cả dân chúng Tàu nữa, làm sụp đổ cả triết thuyết Chiêu Mục của giáo sư Kim Định.

Theo giáo sư th́ văn minh Tàu do Việt, mà Việt ở hướng Đông và văn minh hơn Tàu nên bên Chiêu tức hướng Đông tượng trưng cho văn hóa, được ưu tiên.

Nhưng Việt đâu có ở hướng Đông của Tàu. Họ ở hướng Nam đó chớ. Bọn Việt ở hướng Đông đă chạy đi hết cả rồi, như khoa khảo tiền sử đă cho biết, chạy ngay từ thời Hiên Viên. Mà chính ở hướng Tây, Việt mới c̣n lại măi đến đời Chu, v́ khoa chủng tộc học khám phá ra rằng Khuyển Nhung tức là Mă Lai, về sau biến thành Môn rồi Miến Điện, tới đời Đông Chu mới bị diệt.

Ở hướng Tây lại c̣n một thứ Việt nữa mà cho đến đời Tần mới bị đánh đuổi vĩnh viễn, đó là rợ Khương (Khờ Me).

Như thế th́ bên Mục mới là Việt, chớ có đâu lại bên Chiêu? Nhưng Mục lại không bao giờ được ưu tiên là làm sao?

Họ cho hướng Đông ưu tiên không biết v́ lẽ ǵ, nhưng hướng tốt của họ là hướng Chánh Nam, mà đó là hướng của thứ Việt, c̣n Đông Đảo đến đời Nguyên, mà tục dành ưu tiên cho Đông tức Chiêu đă có từ lâu đời rồi.

Cái hướng tốt đó, không có tượng trưng cho văn hóa, mà đó là hướng gió lành, hướng họ thành công về kinh tế và về việc bành trướng biên cương, Đông chỉ được ưu tiên phụ thuộc, đối với Chánh Nam là cái ǵ rất là thiêng liêng và quan trọng.

Khi con người cần day mặt phương Nam th́ đương nhiên Chiêu của họ phải ở hướng Đông. Họ không hề kể đến Chiêu cho lắm, mà chỉ kể hướng Đông, là hướng gió mùa, tốt hơn Mục là hướng gió lục địa.

Mà hễ khi Mục là hướng xấu th́, theo luật ham đối của Tàu, đương nhiên Chiêu phải là hướng tốt, nhưng chỉ tốt vậy vậy thôi, không thấm vào đâu sánh với hướng Chánh Nam cả, Chiêu chỉ tốt tương đối v́ lư do hậu quả của quan niệm ham đối của Tàu, Chiêu chỉ là hướng tốt hạng nh́ mà thôi.

Ngày mùng năm tháng năm được sách vở Tàu cho là ngày xấu v́ lư do thần thánh. Nhưng thật ra buổi đầu cũng cứ chỉ v́ thời tiết, v́ đó là ngày kinh khủng của Hoa Bắc về mặt khí hậu (H. Maspéro).

Tất cả đều bắt nguồn ở kinh tế và khí hậu, không có vấn đề văn hóa Việt ở trong đó mà nếu có th́ là chính Nam, chớ không là Chiêu, Mục được, v́ Việt c̣n sống sót cho tới cuối đời nhà Nguyên là Việt Chánh Nam, c̣n Việt hướng Đông đă chạy mất hết cả rồi, ngay sau khi Xy Vưu bị diệt.

Nhưng đừng tưởng Tàu không trọng hướng Tây, không trọng Mục. Phải chăng truyền thuyết của họ cho rằng Lăo Tử đi t́m tiên ở hướng Tây vào cuối cuộc đời làm quan?

Thương, Chu, Tần đều thờ Mục, tức hướng Tây, v́ đó là đất chánh của họ, họ được phong thái ấp ở đó và nhờ đó là Cao nguyên, lại cứ bị rợ đánh măi nên họ quen chiến chinh và luôn luôn thắng.

Nhưng theo giáo sư Kim Định th́ Tàu đích thị là Việt ở lại kia mà, để cho cồng bà lấn lịnh ông, cả ở Hoa Bắc nữa, th́ sao Việt trá h́nh làm Tàu lại ngạo nghễ đứng từ phương Bắc để day mặt nh́n phương Nam theo lối kẻ cả v́ phương Nam cũng cứ là Việt?

Nếu họ là Việt th́ họ đă không nh́n hướng Nam với con mắt kẻ cả, mà với con mắt thương mến, kính nể, c̣n chư hầu của họ cũng không phải day lưng hướng Nam, day mặt hướng Bắc để tỏ ḷng thần phục họ.

Nhưng dầu sao, vấn đề chính cứ là Chiêu Mục, mà Chiêu được trọng ban đầu v́ lư do hậu quả. Người ta chỉ trọng Đông mà thôi. Nhưng người cần nh́n Nam, hóa ra Đông là Chiêu của người ta, Chiêu không có cái nghĩa chính yếu, cốt tủy nào hết mà chỉ là hậu quả đương nhiên của kẻ mạnh ưa ngạo nghễ nh́n phương Nam.

Vấn đề Đông Tây Nam Bắc đều do địa h́nh khí hậu và kinh tế cả. Dân Ai Cập xem hướng Bắc là ở dưới v́ nguồn sông Nil ở phía Nam của họ. Dân Cao Miên xem hướng Đông ở trên hết v́ mặt trời mọc ở đó, mà mặt trời th́ ở trên cao (theo quan niệm Cao Miên).

Dân Tàu xem hướng Nam là tốt v́ họ đă thành công ở đó và có mộng sẽ thành công nữa, v́ cho tới ngày nay họ cũng chưa bỏ tham vọng về Đông Nam Á. Lẽ thứ nh́ là v́ gió Bắc ở Trung Hoa là thứ gió chướng rất độc, gió Nồm mới là gió lành.

Họ trọng Chiêu chỉ v́ trọng Đông bởi Đông ở bên Chiêu của kẻ ḍm ngó phương Nam. Mà họ trọng Đông cũng chỉ v́ khí hậu, bởi gió Đông lành hơn gió Tây lục địa.

Chiêu chỉ là chuyện phụ thuộc, chỉ là hậu quả của tinh thần trọng Đông, v́ Đông là hướng gió mùa Đông Bắc rất cần cho mùa màng của họ.

Dân Việt, bất kể Bắc Nam Đông Tây v́ họ không phải là kẻ Bắc tiến, họ không có bọn thần phục ở hướng Bắc.

Nhưng họ tả nhậm không v́ lẽ Chiêu Mục nào hết, mà v́ lẽ tiện lợi. Tay mặt thường th́ giỏi hơn tay trái. Như vậy bắt Mục làm công việc cài nút áo là hợp lư, một cái lư rất là tầm thường và giản dị, chớ không có triết học nào hết.

Và v́ quen làm việc bằng Mục, họ thấy là Mục phải, và Chiêu trái, nghịch hẳn với Tàu, mà đó chỉ v́ quen thói mà thôi chớ cũng chẳng v́ triết lư nào hết.

Tóm lại, đối với Việt, Đông Tây Nam Bắc đều không có nghĩa vào cổ thời. Ngày nay họ trọng Đông Nam mà đó là nhờ khoa khí tượng cho họ biết gió Đông Nam lành, gió Tây Bắc là gió lục địa, rất xấu, cái thứ gió Lào Nghệ Tĩnh mà họ rất sợ.

C̣n tại sao cách đây 5.000 năm họ di cư về Nam mà không về Bắc th́ quá dễ hiểu. Biển Bắc thường bị băng giá, đâu có tiện cho việc hàng hải.

Riêng vài nhóm Bách Việt như Chàm, Nam Dương th́ ngày nay họ lại trọng Tây Nam v́ đó là hướng của thành La Mecca, thánh địa của họ.

*

*       *

Trong quyển Hành tŕnh vào dân tộc học của giáo sư Lê Văn Hảo, tác giả cho rằng chủng Nam Mông Gô Lích là chủng của các dân ở Đông Nam Á. Nhưng các biểu chỉ số sọ nói trái lại. Đây cũng là một vị không dùng tài liệu chủng tộc học, khi nghiên cứu về chủng tộc học.

Các thứ dân ở Đông Nam Á đều đă được đo sọ và chỉ số sọ của họ khác xa chỉ số sọ của chủng Nam Mông Gô Lích là chủng của người Hoa Nam.

*

*      *

Chỉ số sọ của chủng Nam Mông Gô Lích là 79,14 (chỉ số trung b́nh), tức cao hơn Trung Mông Gô Lích 2,58 đơn vị.

Chúng tôi chỉ đưa ra vài con số vậy thôi, chưa nói lên ǵ nhiều hết. Khi các biểu đối chiếu được tŕnh cả ra, th́ quư vị sẽ thấy rằng sọ Việt, sọ Mă Lai, sọ Thái, sọ Cao Miên, sọ Miến Điện, sọ Nhựt Bổn là một, khác hẳn với sọ Hoa Nam hay Hoa Bắc, chỉ hơi giống sọ Sơn Đông mà thôi, và sự kiện đó phù hợp với cổ sử Tàu tả rợ Đông Di với những biệt sắc Việt.

Chương nầy, tới đây th́ chấm dứt được rồi, nhưng c̣n một vấn đề phụ, nên xin tŕnh bày thêm một cách sơ lược.

Chủng Nam Mông Gô Lích thành h́nh và đồng thời văn minh Trung Hoa chính hiệu cũng thành h́nh, tại đất tổ của Việt tộc, tức Kinh Cức.

Nền văn minh mà Trung Hoa hănh diện và cứ khoe măi, không phải là nền văn minh Hạ, Thương, Chu mà là nền văn minh Hán.

Nền văn minh Hán phát tích tại Hán Trung tức một vùng mà trung tâm là ngọn sông Hán. Đó là đất tổ của Hạng Vũ và Lưu Bang, trước khi họ Lưu lưu lạc ra Tô Châu. Nhưng dân mới thật sự là kẻ chế tạo nền văn minh, mà nhà Hán lấy dân Sở làm chủ lực, tức dân Kinh Nam, tức người Hoa gốc Việt.

Từ năm mà nước Sở bị nước Tần tiêu diệt đến năm nhà Hán lên ngôi, chỉ cách nhau có 21 năm mà thôi, chớ không phải là lâu đời như ta tưởng lầm. Người nhà Hán từ vua đến quan lính, đến dân chúng, thợ thuyền đều là dân Sở, mà yếu tố chủ lực của Sở là Việt.

Thật thế, cái sọ của người Hoa Nam gần cái sọ của người Việt Nam mà xa cái sọ của người Hoa Bắc.

Nước Sở không hề bị diệt. Họ chỉ thất một trận lớn. Tần không đủ thời giờ để diệt họ và nền văn minh của họ. Họ phục sinh với một cái tên khác: Hán, mà Hán đích thị là Việt lai Hoa Bắc.

Cho tới ngày nay mà vùng Hồ Quảng, tên cũ của hai tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam cứ c̣n là trung tâm văn hóa và kinh tế của Trung Hoa mà ba thành phố hạng nh́ của họ ở đó: Hán Khẩu, Hán Dương và Vũ Xương, nằm sát nhau, trở thành thành phố to nhứt Trung Hoa, to hơn cả kinh đô của họ nữa.

Hai tỉnh đó ít núi, dưới đời Hạ gồm nhiều đầm lầy mà Kinh Thư nói đến nhiều nhứt là Đầm Văn và Đầm Mộng, nay những đầm lầy ấy đều biến thành đồng bằng, và b́nh nguyên Vân Mộng là một dăy đồng thượng đẳng điền của Trung Hoa ngày nay.

Vùng đó lại được bốn con sông lớn tưới mát với hàng trăm phụ lưu: sông Hoàng Hà, sông Dương Tử, sông Hán, sông Hoài và hàng ngàn cái hồ làm chỗ chứa nước, đến mùa mưa lũ, làm chỗ tích trữ nước cho thấm ra ngoài, vào mùa khô ráo, nổi danh nhứt là Động Đ́nh hồ.

Hồ Động Đ́nh chu vi 450 cây số, có nơi bề rộng tới 350 cây số. V́ hồ quá lớn, bằng cả bốn tỉnh lớn nhứt của ta, nên nó mang đến bốn tên: Động Đ́nh hồ, Cửu Giang hồ, Ngũ hồ và Tràng hồ, tên nào cũng nổi danh trong lịch sử Trung Hoa cả.

Xứ đó ít núi, nhưng lại có núi lớn và cao vào bực nhứt Trung Hoa, mà một trong ngũ Nhạc nằm ở đó, đó là núi Cửu Nghi. Nhờ vậy lại có thác lớn và đẹp.

Truyện thần tiên và tinh thần lăng mạn của người Tàu phát tích tại hồ Động Đ́nh và núi Cửu Nghi nầy.

Hồ Quảng là cái rún của nước Trung Hoa v́ nước Sở đă tổ chức chặt chẽ mọi việc ở đó. Nước Sở bị diệt, nhưng thật ra đó là vua Sở bị diệt, và mấy mươi năm sau th́ dân Sở với cháu nội của tướng Hạng Yên là Hạng Vơ và một công dân Sở khác là Lưu Bang lại nổi lên, lập ra nhà Hán và đưa văn hóa và phồn thịnh của Trung Hoa lên cao hơn bao giờ cả, không tiền, khoáng hậu.

Đành rằng Hoa chủng đă thiết lập nền văn minh của họ tại Sơn Tây, Hà Nam và Thiểm Tây, nhưng đó là thời khởi lập, thời hoàn thiện chỉ xảy ra ở một vùng đất tốt hơn, là vùng Hán Trung tức Kinh Man, tức Kinh Cức, tức châu Kinh, tức nước Sở, tức Hồ Quảng ngày nay mà thôi.

Và chủng Việt đă góp phần xây dựng nền văn minh đó.

Trong quyển “L’Art de la Chine” của nhà xuất bản Larousse, ta thấy được một tượng gỗ cổ đào được ở Tràng Sa. Sách ấy cho rằng đó là sản phẩm văn hóa Hoa Nam, nhưng người Pháp họ không biết cổ Tràng Sa là đất Việt nên họ mới nói thế.

Trong quyển “L’art du Việt Nam” của nhà xuất bản Somgogy Paris, ta cũng thấy một tượng gỗ đào được ở Bắc Việt. Hai tượng gỗ nầy khác nhau, nhưng đồng tánh cách với nhau.

*

*      *

Chỉ có từ nơi nầy đổ xuống phương Nam mà thôi, và chỉ có từ thời Sở quật cường mà thôi, ta mới có quyền nói rằng ta góp phần rất lớn vào việc kiến tạo nền văn minh Trung Hoa, chớ giành công cho ta ngay từ cổ thời và ở Hoa Bắc, như giáo sư Kim Định đă làm th́ người Tàu có quyền không đồng ư.

Hơn nữa, ta chỉ góp phần rất lớn, chớ không có sáng tạo, bởi văn minh Hán kiện toàn văn minh Tần, Chu, Thương, Hạ, chớ không phải là một phát minh khác, mà văn minh Tần, Chu, Thương, Hạ th́ ta không có đóng góp ǵ hết. Đă bảo Việt là Mă Lai, chúng tôi sẽ đưa bằng chứng như vậy, mà nền văn minh Hán, Tần, Chu, Thương, Hạ lại không có tánh cách Mă Lai nào hết th́ nói ta đóng góp về sau th́ có lư, chớ nói ta sáng tạo từ buổi đầu th́ vô bằng.

Tại địa bàn thứ nhứt của chủng Việt ở sông Bộc, tức Hoa Bắc, Việt c̣n kém lắm, thua là chạy đi ngay, bọn ở lại quá ít để đáng được gọi là kẻ dự phần to tát vào công việc của Tàu. Chỉ từ Sở xuống tới Quảng Đông th́ Bách Việt mới là chiếm đa số trong Hoa tộc, một đa số tuyệt đối bị đồng hóa mà người Tàu không hay biết, hoặc cố ư giấu đi.

Nhưng ở một chương sau, ta sẽ thấy là Việt Nam lại càng khác hơn cái dân Hoa Việt nầy nhiều lắm. Ta đă chạy đi trước đó nhiều ngàn năm, khoa khảo tiền sử đă cho biết đích xác như vậy với nhiều chứng tích.

*

*       *

Nhưng cái “người anh em c̣n lại ở bên Tàu” mà giáo sư Kim Định đă nói đến, đă chịu văn hóa khác từ ba ngàn năm rồi, th́ c̣n ǵ là anh em nữa? Ta chỉ đồng chủng với Hoa Nam (chớ không phải với Trung Hoa), có một phần mười thôi, v́ họ bị lai đi lai lại với Hoa Bắc từ 3.000 năm, c̣n ta th́ không. Thế nên sọ Hoa Nam mới khác sọ Việt Nam, và tâm hồn Tàu mới khác tâm hồn Việt.

Tâm hồn và hoài băo của “người anh em” đó rất khác xa ta, họ hănh diện làm Tàu và cho tới năm nay họ vẫn c̣n khinh man di Việt, và ở Sài G̣n th́ từ năm 1954 ta chỉ thấy có ba bốn anh con trai Việt được họ gả con cho, mà như vậy trong gần một phần tư thế kỷ rồi đó.

Đừng lẫn lộn vương triều và dân chúng, giáo sư Kim Định dạy như vậy. Nói một cách khác, vua Tàu mới là đế quốc c̣n dân chúng th́ không? C̣n ngờ! Dân Tân Gia Ba không hề là vương trào nào hết, thế mà họ cứ cướp đất của Mă Lai Á để dựng một tiểu quốc Trung Hoa th́ bảo sao?

Đạo Nho là đạo của Việt? C̣n ngờ, v́ giáo sư chưa thành công trong việc chứng minh đó.

Mà cho dẫu là quả có thế đi nữa th́ ta trọng Nho v́ Nho hay ở mặt nào đó, chớ không nên trọng nó v́ nó là của ta như giáo sư đă khuyên.

Vả lại không hề có ai chống đối văn hóa Tàu hết mà giáo sư khuyên ta đừng quên văn hóa đó “là của ta”. Ta không chống đối v́ lẽ ta đă trót nhiễm nó từ hai ngàn năm rồi, muốn chống đối cũng không được, bởi nó ăn tận vào xương tủy ta. Không hiểu sao giáo sư lại sợ cái việc không thể xảy ra được ấy. Một anh hip-pi để tóc dài, mặc áo rằn ri, hút cần sa, nhảy tuưt, vẫn cảm nghĩ suy luận theo Tàu phần nào, v́ anh ta thường t́m “đồ mát” để ăn, mà quan niệm nóng mát là quan niệm Tàu, chớ đối với Âu Mỹ th́ tất cả các món thực phẩm đều được cơ thể ta đốt cho thành ca-lo-ri, không hề có món nào mát cả, chỉ có món nóng nhiều và nóng ít mà thôi.

*

*      *

Thế th́ ta đă thấy chủng Bắc Mông Gô Lích là chủng Mông Cổ thật sự và hai phụ chủng Mông Gô Lích nữa, mà cả ba thứ đó, cái sọ cứ c̣n xa lạ với cái sọ Việt Nam th́ lời quả quyết của giáo sư Nguyễn Phương rằng sọ Việt và sọ Hoa là một, th́ thật là liều lĩnh. Ta sẽ thấy cái sọ Việt Nam ra sao.

*

*      *

Tới đây th́ ta mới hiểu một đoạn sử Tàu mà cho chí cả người Tàu cũng không hiểu. Đó là cuộc tuần thú phương Nam của vua Thuấn. Cả Tàu lẫn ta đều ngộ nhận về thực chất của cuộc tuần thú ấy, đều không biết ǵ hết về mục đích của cuộc tuần thú và nhứt là người Việt Nam ta th́ lại ngộ nhận rằng vua Thuấn đi xa gần tới Giao Chỉ v́ sử Tàu chép rằng trong chuyến tuần thú đó vua Thuấn thăng hà tại Thương Ngô.

Địa danh Thương Ngô đă gạt gẫm Ngô Sĩ Liên, Nhượng Tống và hầu hết người Việt. Quả có một quận tên là Thương Ngô ở giữa Vân Nam và Quảng Tây, 1.800 năm sau vua Thuấn chết không là cái Thương Ngô đó, mà là núi Thương Ngô, tên xưa của núi Cửu Nghi ở miền Bắc của tỉnh Hồ Nam.

Và động từ tuần thú th́ ai cũng lầm cả, lầm theo lối đọc quyển Xuân Thu của Khổng Tử.

Vua nhà Chu bị chư hầu Tần bức bách phải chạy trốn sang nước Tấn, vậy mà Khổng Tử nghiêm trang chép là “vua đi tuần thú”.

Vua Thuấn làm thế nào có quyền đi tuần thú phương Nam chớ, khi mà phương Nam là đất Việt, mà Trung Hoa chưa chinh phục vào thời đó?

Vua nhà Chu yếu quá không được các nước coi ra ǵ hết th́ sao có quyền đi tuần thú ở nước Tấn?

Tuy nhiên, nếu ta bám sát theo tài liệu, ta vẫn giải thích được sự mâu thuẫn ngỡ đang có giữa khoa khảo cổ Âu Mỹ và sử Tàu.

Thật sự th́ vua Thuấn không phải đi tuần thú như sử Tàu đă chép, mà ông chỉ xuất ngoại thôi.

Nhưng vua Thuấn xuất ngoại để làm ǵ, và làm thế nào ông ấy xuất ngoại được vào cái thời mà sinh ngữ các nước chưa được trao đổi với nhau như ngày nay.

Trước hết, ta nên biết nơi vua Thuấn bỏ ḿnh. Đó là núi Thương Ngô. Địa danh Thương Ngô đó đánh lạc hướng ta, v́ ta ngỡ nó nằm cạnh Giao Chỉ. Quả thật quận Thương Ngô đời Hán có ở gần Giao Chỉ, giữa Quảng Tây và Vân Nam, nhưng nó ăn lên tận măi đến Hồ Nam, tức bằng y một tỉnh Trung Hoa ngày nay. Đất của quận Thương Ngô là một phần đất Quảng Tây, một phần đất Vân Nam, một phần đất Quế Châu và một phần đất Hồ Nam (xin xem chương định vị trí của Thương Ngô).

Riêng cái núi Thương Ngô th́ người ta lại biết chắc chắn rằng là ở Hồ Nam, v́ núi Thương Ngô là tên xưa của núi Cửu Nghi ngày nay.

Vậy vua Thuấn không có đi xa tận Giao Chỉ như vài sách ta đă để lộ cho thấy. Và cái phương Nam của ông, cũng không cách điểm xuất ngoại bao nhiêu. Ông chỉ có đi qua đất Kinh Man, tức tỉnh Hồ Bắc ngày nay mà thôi, tức một trong nhiều địa bàn của chủng Việt.

Sao vua Thuấn lại xuất ngoại được, v́ ngôn ngữ bất đồng?

Ḍng họ của vua Thuấn được phong ở đất của người Đông Di th́ hẳn vua Thuấn phải thông ngôn ngữ Đông Di, mà Đông Di và Việt là một.

Tuy trong đại gia đ́nh Việt, không phải ngôn ngữ của nhóm nào cũng giống ngôn ngữ của nhóm nào, nhưng đó là t́nh trạng của ngày nay, chớ không phải t́nh trạng của thời vua Thuấn mà họ chưa bị chia manh xẻ mún ra, chưa bị ảnh hưởng ngoại lai và ảnh hưởng của khí hậu lạ do sự phân tán của địa bàn tạo ra.

Cái vụ Đế Nghi tuần thú phương Nam, trước đó, cũng chỉ là một cuộc xuất ngoại mà thôi.

Lại hỏi sao, về sau, vua không thể được ra khỏi thành, c̣n vua xưa lại mạo hiểm đến thế? Cũng chẳng có ǵ là khó hiểu. Vua thuở xưa là nhà lănh đạo thật sự, nhứt là về vơ bị và kỹ thuật, ở nước nào cũng thế, vào lúc ban sơ kiến quốc. Chính các vua nhà Lư, nhà Trần đă cầm quân thật sự đi đánh Chiêm Thành, và đọc sử ta, ta thường ngạc nhiên sao các vua Chàm, vua Cao Miên cứ bị ta bắt măi.

Đó là v́ họ cầm binh thật sự, và hễ thua là bị bắt.

Họ khác hẳn vua của thời mà nước đă cường thịnh rồi, vua biến thành bù nh́n lần lần v́ chế độ thế tập đưa lên ngôi toàn là những kẻ ươn hèn và quen hưởng thụ.

Đọc Hải ngoại kỷ sự ta thấy Thích Đại Sán kể chuyện chúa Nguyễn Phúc Chu đang đêm chạy đi chữa lửa.

Nhà sư trịch thượng ở ấy bèn chỉnh chúa Nguyễn sao có mạo hiểm liều thân bậy bạ như vậy, lỡ có kẻ nghịch hành thích th́ sao.

Thích Đại Sán không biết rằng Nguyễn Phúc Chu đang sống trong giai đoạn kiến quốc mà nhà vua xông pha chẳng sợ ǵ hết, hưởng thụ ít mà làm nhiều, và nhứt là không nằm măi trong cung cấm.

Đó là các nhà lănh đạo thật sự, mặc dầu nước Việt Nam đă có vua chúa từ nhiều triều đại rồi. Cái xứ Đàng Trong là đất mới hoàn toàn, vua của Đàng Trong khác hẳn vua của Đàng Ngoài là vua Lê, vua Lê giống vua Tàu đời sau, c̣n chúa Nguyễn th́ giống vua Tàu thời cổ, nhà sư thông thái ấy không biết ǵ về vua Tàu thời kiến quốc của y.

Nhưng vua Thuấn xuất ngoại để làm ǵ? Đó là một câu hỏi lư thú.

Nạn nhân măn đă bắt đầu từ thời vua Thuấn chớ không phải tới đời nhà Hạ mới có, mà vua Thuấn th́ chỉ cách nhà Hạ có một năm, bởi vua Thuấn nhường ngôi cho ông vua đầu đời nhà Hạ rồi th́ đi “tuần thú” ngay. Ông ấy t́nh nguyện đi làm cái công việc dọ đường để nhà Hạ di dân mà chỉ có ông là làm được nhờ biết ngôn ngữ của dân Việt ở Kinh Man, thuở đó chưa khác xa ngôn ngữ dân Việt ở vùng sông Bộc quê hương của vua Thuấn. (Xin xem kể từ một chương sau, địa bàn của chủng Việt tại sông Bộc).

Cuộc dọ đường nầy là cuộc dọ dẫm lần thứ nh́, để rồi di cư ngay sau đó, chớ không c̣n là cuộc dọ dẫm tiền phong như dưới đời Đế Nghi nữa.

 

Tài liệu tham khảo riêng cho chương nầy:

Khổng Tử: Kinh Thi, Bản dịch Granet, Paris 1930

Khổng Tử: Kinh Thi, Bản dịch Legge, Paris 1950

Tả Khẩu Minh: Tả Truyện, Bản dịch Legge, Paris 1950

Tư Mă Thiên: Sử Kư, Bản dịch E. Chavannes, Paris 1927

Lưu An: Hoài Nam Tử, Đài Loan

Phạm Việp: Hậu Hán thư, Đài Loan N.T.N.S.

Tối tân Trung Quốc phân tỉnh đồ, Hongkong

Phương dư kỷ yếu giăn lăm, Đài Loan

Độc sử phương dư kỷ yếu, Đài Loan

Nam Hoa Kinh, Bản dịch Nhượng Tống, Sài G̣n

R. Grousset: Histoire de la Chine, Paris

---- : La Chine ancienne et médiévale, Paris 1923

K. Maspére: La Chine antique, Paris 1952

Sở Từ: Các bản dịch của H. Maspéro

Peter Swann: L’Art de la Chine, Paris 1963

Ymré Patko: L’Art du Việt Nam, Paris 1967

H. Cordier: Histore générale de la Chine, Paris 1935

Dr. Huard; E. Saurin; Nguyễn Xuân Nguyên; Nguyễn Văn Đức: Étal actuel de la crâniologie Indochinoise, Hà Nội 1931

Dr. Huard: La médecine chinoise, Paris 1963

Dr. Huard: Ghi chú về một cuộc tranh luận giữa các y sĩ Trung Hoa

Mă Đoan Lăm: Ethnographie des peuples é trangers à la Chine, Bản dịch H. de St. Denys, Paris 1871

Marco Polo: Le livre de Marco Polo, Paris 1800.

Lê Văn Hảo: Hành tŕnh vào dân tộc học, Sài G̣n

Nguyễn Bá Trác: Hoàng Việt Giáp Tư niên biểu, Sài G̣n

M.T. : Synchronisme chinois, Changhai 1905





B. Ta không phải là Tàu, không hề có di cư ồ ạt

Năm 1964, trước khi cho in những quyển sử mà ông soạn, sử gia Nguyễn Phương có cho đăng một loạt bài ở tạp chí Bách khoa về phương pháp viết sử. Loạt bài ấy có nhiều đoạn rất hay, rất đúng.

Nhưng khi đọc sử cuả ông th́ thấy sử gia không áp dụng được những phương pháp đúng và hay đó cho sách của ông. Chẳng hạn như ở những trang 232 và 233, sử gia đối chiếu hai sự kiện lịch sử nầy, người Tàu luôn luôn Nam tiến trong lịch sử của họ. Người Việt cũng thế.

Rồi ông kết luận rằng sở dĩ có sự kiện quá giống nhau như vậy chỉ v́ ư chí Nam tiến đă nằm sâu trong tiềm thức của người Việt Nam bởi họ vốn là người Tàu đổi tên là Việt Nam.

Đây là một suy luận mà không sao khoa học chấp nhận được. Hai dân tộc hành động giống nhau không hề có nghĩa rằng họ là một, và dân tộc A làm giống dân tộc B không hề có nghĩa là A đă cóp B.

a.      Thứ nhứt, dân ta nhờ đất đai ph́ nhiêu của châu thổ Nhị Hà mà tăng lên quá mức. Để giải quyết nạn nhân măn, ta phải bành trướng biên cương. Dân tộc nào ở trong trường hợp đó cũng đă làm như vậy, từ cổ chí kim, không cần phải cóp của ai hết.

b.      Thứ hai, phía Bắc nước ta là nước Tàu hùng mạnh, ta làm sao tiến về hướng Bắc được. Nhà Lư có thử làm, thành công đôi phần, nhưng rồi cũng phải bỏ cuộc. Và nhà Lư cóp ai đây, khi mà nhà Lư Bắc tiến chớ không Nam tiến? Hướng Đông là biển cả, cũng ngăn bước của ta, hướng Tây là đất Lào núi rừng, không phải là đất tốt. Như vậy ta có cần phải bắt chước ai khi ta Nam tiến hay không? Và nhứt là ta có cần mang ḍng máu Trung Hoa mới biết Nam tiến hay không? Tưởng bất kỳ dân tộc nào mà ở trong hoàn cảnh của Trung Hoa và Việt Nam, cũng đều tự nhiên mà biết và phải Nam tiến v́ đó là sinh lộ độc nhứt của họ. Bao nhiêu dân tộc khác cũng thế, mà thí dụ điển h́nh là dân tộc Thái. Bị người Tàu từ phía Bắc đánh đuổi, sao Thái không chạy ra phương Đông? V́ phương Đông là địa bàn của Chi Lạc. Phương Tây là Tây Khương địa bàn của Khơ Me đă bị Tàu cướp rồi, c̣n sau lưng Tây Khương là Tân cương đă bắt đầu sa mạc hóa cách đây ba ngàn năm, không phải là đất tương lai. Chỉ có phương Nam là địa bàn của một dân tộc yếu hơn, đất lại ph́ nhiêu. Người Tây Nhung, Nam tiến để lập ra nước Miến Điện, người Môn Cơ Me Nam tiến cũng v́ lẽ ấy cả chớ không hề họ là người Tàu nên mang cái ư chí Nam tiến trong tiềm thức của họ.

Dùng luận cứ “ư chí mang sẵn trong tiềm thức Trung Hoa” đó của sử gia, th́ Thái Lan, Miến Điện, Cao Miên đều phải là người Tàu hết thảy, mà đó là một chuyện sai sự thật một ngàn phần trăm.

Ở chương “Đời sống của dân Lạc Việt dưới thời Hán”, ông suy luận càng kỳ dị hơn.

Ông so sánh Hậu Hán thưGiao Châu ngoại vực thấy họ chép về hai chuyện sau đây:

1.      Hậu Hán thư kể chuyện Tích Quang dạy lễ nghĩa cho dân man di Giao Chỉ.

2.      G.C.N.V.K. chép rằng Giao Chỉ đă biết kỹ thuật làm ruộng khá giỏi.

Ông kết luận có mâu thuẫn giữa hai sách đó, và G.C.N.V.K. sai.

Không ai thấy có mâu thuẫn ở đâu hết v́ một đàng viết về phong tục c̣n một đàng th́ viết về kỹ thuật canh tác. Một dân tộc có kỹ thuật canh tác cao, không hẳn phải có lễ nghĩa tốt, và hai sách nói trên không hề nói nghịch với nhau bao giờ, bởi không thể lấy phong tục ăn ở để làm căn bản mà xét kỹ thuật nông nghiệp được. Ta có thể vừa làm ruộng giỏi mà cũng vừa không biết lễ nghĩa. Không hề có mâu thuẫn trong hai sách ấy.

Nhưng sử gia Nguyễn Phương lại quên mất rằng Tích Quang dạy dân ta lễ nghĩa của Trung Hoa, chớ không hề có sự kiện dân ta không có lễ nghĩa mà ông nói là dân “Giao chỉ thuở đó rất lạc hậu”. Ông cứ lên Cao nguyên mà xem, người Thượng họ chưa có nổi một nền văn minh trống đồng như Lạc Việt, nhưng họ vẫn có một nền đạo lư luân thường rất là tốt đẹp, và lễ nghĩa của họ cũng tốt, chỉ cái là khác của ta và của Tàu.

Không hề có ai chứng minh được rằng lễ nghĩa của Tàu là tốt đẹp hơn lễ nghĩa của các dân tộc khác th́ sử gia không nên nói là dân Giao Chỉ lạc hậu, cho dẫu họ không phải là tổ tiên của ta đi nữa, như sử gia đă quan niệm.

Có bằng chứng chắc một trăm phần trăm là dân Giao Chỉ đă có lễ nghĩa riêng của họ rồi, v́ sử Tàu có viết đích xác: “Đất Lĩnh Nam theo phong tục Trung Hoa bắt đầu từ hai vị thái thú đó”.

Nếu ta không có lễ nghĩa ǵ hết, họ đă viết: “Đất Lĩnh Nam có lễ nghĩa, đạo lư bắt đầu từ hai vị thái thú đó”.

Họ chỉ dám nói là ta theo họ c̣n cho rằng ta “không có luân lư” (nguyên văn) là chính sử gia Nguyễn Phương nói chớ họ không dám chép như thế bao giờ.

Người đọc V.N.T.K.S. tự hỏi không biết sử gia có vào các buôn Thượng nào chưa, lắm bộ lạc c̣n đóng khố mà vẫn có lễ nghĩa, luân lư rất là cao, th́ không có lư do nào mà một dân tộc đă dựng nước với nhiều đời vua Lạc rồi, mà c̣n ở vào t́nh trạng chưa có luân lư.

Cho đến cuối thế kỷ XVII mà nhà sư Tàu Thích Đại Sán, sang Huế, c̣n cho rằng là ta không có lễ nghĩa luân thường, mặc dầu ta đă nhiễm Tàu nhiều lắm rồi, vào năm ấy, th́ vào đời Hán, họ cho là không có lễ nghĩa luân thường, sao ta lại tin họ. Chính sử gia Nguyễn Phương đă dịch Thích Đại Sán, không lẽ ông không thấy nhận xét sai lầm của người Tàu ấy?

Nhưng v́ sử gia chủ trương rằng Việt Nam là Tàu thuần chủng nên sử gia đă thấy mọi sự việc với con mắt của người Tàu. Chép việc Mă Viện đuổi theo tàn quân của hai bà Trưng, sử gia gọi đó là “dư đảng của Trưng Trắc”. Danh từ dư đảng, phiến loạn đích thị là danh từ của Trung Hoa. Đồng bào của hai bà chỉ nói “Dấy quân” (Ngô Sĩ Liên) và tàn quân (toàn thể các sử gia khác). Gọi đồng bào của hai bà Trưng, ông nói “Nam man” (trang 117).

Và ngộ nghĩnh thay, chính v́ có hai lối nói mà ta biết chắc rằng dân Việt Nam không phải là Tàu, bởi nếu họ là Tàu, họ đă dùng những danh từ nổi loạn và dư đảng của Tàu, đă gọi đồng bào của hai bà Trưng là Nam man như sử gia họ Nguyễn chớ không gọi là “Tổ tiên ta” như họ đă gọi.

Ở đây không có vấn đề yêu nước xen lẫn vào sử học như sử gia Nguyễn Phương hay nói. Đây là sự kiện lịch sử thật sự.

1.      Người Thượng đóng khố có lễ nghĩa, luân lư rất tốt, th́ người Lạc Việt đă tiến hơn, như văn minh đồng pha đă cho thấy, th́ không thế nào mà không có lễ nghĩa và luân lư.

2.      Hai lối dùng danh từ cũng cho thấy rơ rằng Việt không là Hoa.

3.      Sự kiện thờ hai bà Trưng mà người Tàu ở đây đă cho ư kiến đă chứng minh quá rơ, không thế nào mà họ quên gốc, để thờ anh hùng của dân Lạc Việt.

Người Tàu quên ḿnh là Tàu, không thể có được. Sự đứng lên giành độc lập không có nghĩa là quên gốc. Họ vừa đ̣i ly khai độc lập, nhưng cũng cứ vừa nhớ rằng họ là Tàu và cứ nói tiếng Tàu. Mà họ có nói tiếng Tàu hay không, như sử gia đă quả quyết, ta sẽ thấy ở chương ngôn ngữ tỷ hiệu.

Giữa G.C.N.V.K. và Hậu Hán thư, nếu có khác biệt (nhưng chúng tôi đă chứng minh rằng không có khác biệt), nhưng sử gia Nguyễn Phương khẳng định rằng G.C.N.V.K. sai mà không đưa ra bằng chứng.

Đó cũng là một thái độ phản khoa học nữa. Ông không có quyền cho quyển nào ăn khớp với tưởng tượng của ông là đúng và bài bác suông quyển khác là sai.

Ông lại cho rằng tác giả N.V.C. lúng túng v́ không hiểu tiếng Lạc có nghĩa ǵ, nên giải thích bối.

Có lẽ ông thiếu tài liệu về chữ Lạc. Điều đó không sao. Nhưng ông cũng lại dùng suy luận kỳ dị để đoán rằng tác giả N.V.C. lúng túng về chữ Lạc mà ông cho là tác giả đó không hiểu.

Nhưng ông chưa t́m được bằng chứng rằng tác giả N.V.C. không hiểu chữ Lạc, sao ông lại dựa vào phỏng đoán để suy diễn ra như vậy?

Mời ông xem Lạc là ǵ đối với hiểu biết của người Tàu thượng cổ ở các chương khác. Tác giả N.V.C. chỉ là kẻ sanh sau đẻ muộn lại là một tay viết sách, th́ không có lư ǵ ông ấy không biết nghĩa của các chữ Lạc về phương diện chủng tộc học mà người Tàu đă biết từ trước đời nhà Hạ.

Riêng về quận Cửu Chơn mà chúng tôi cũng nh́n nhận là lạc hậu, Hậu Hán thư cũng viết láo khoét. Họ chỉ lạc hậu về kinh tế mà thôi, chớ sao lại có chuyện trai gái ngủ với nhau rồi trai bỏ đi mất, y như cầm thú.

Mă Viện đă kiểm tra dân số và ghi rằng dân Cửu Chơn có cất nhà. Đàn ông cất nhà làm ǵ nếu không để ở với vợ con?

Họ ám chỉ đến chế độ mẫu hệ ở đó mà gái làm chủ, nhưng họ không biết ǵ hết về chế độ mẫu hệ. Trong chế độ đó, đàn ông vẫn có quyền gia trưởng phần nào, và vẫn ở nhà.

Cũng nên nhắc rằng loài người chỉ mới hay rằng có chế độ mẫu hệ từ thế kỷ XIX đây thôi, chớ không lâu lắm, khi mà nhà bác học Bachofen khám phá ra rằng xă hội Hy Lạp theo chế độ mẫu hệ hồi buổi sơ khai của họ.

Bấy giờ giới khoa học kinh ngạc hết sức và mới tin những quyển sách du kư của các thương gia và cố đạo tả chế độ ấy ở nhiều bộ lạc, mà các nhà khoa học cứ ngỡ là các tác giả ấy bịa.

Tại sao loài người lại dốt đến thế? Là v́, mặc dầu họ theo mẫu hệ, luôn luôn đàn ông đánh giặc, thương thuyết với nhau, làm vua và viết sử, họ kể chuyện toàn nhơn vật đàn ông, và bỏ hết chi tiết về đời sống của dân chúng, người đời sau không làm sao mà biết sự thật được cả.

Chế độ mẫu hệ được người thời nay biết quá trễ, nhưng họ lại biết rất rành mạch, nhờ khoa dân tộc học. Họ nghiên cứu và thấy rằng tuy là con cái theo ḍng mẹ, đàn bà hưởng gia tài, nhưng người đàn ông cứ thật sự làm chủ gia đ́nh, chủ làng nước.

(Và như vậy th́ lại không có vấn đề “Lịnh ông không bằng cồng bà” mà giáo sư Kim Định đă nêu ra. Chính người đàn ông Chàm tạo lập văn minh Chàm, chớ không phải đàn bà Chàm. Đó là điều mà chính mắt ta thấy).

C̣n cái lễ cưới mà Nhâm Diên dạy dân Cửu Chơn áp dụng là lễ cưới theo tục lệ Tàu, chớ sao họ lại không có lễ cưới? Người Sơ Đăng nay kém hơn dân ta thuở ấy mà lễ cưới rất nghiêm trang th́ tại sao thuở ấy ta lại không có lễ cưới? Người thổ dân Úc Đại Lợi được xem là lạc hậu nhứt thế giới hiện nay, vẫn có lễ cưới, th́ không thế nào dân Cửu Chơn lại không có lễ cưới.

Chỉ v́ họ không xem lễ của ta là lễ, xem lễ ta như là không có, xem như ta là vô luân thường đạo lư, làm đúng như họ mới gọi là có luân thường đạo lư, nên họ mới chép như vậy. Nhưng một người có óc khoa học như sử gia, sao lại tin điều họ chép?

Một dân tộc biết cất nhà rồi mà cất rất chắc chắn đến nỗi hai ngàn năm sau ông Pajot c̣n đào được một cái nhà th́ hẳn không thế nào mà sống như cầm thú vào thời c̣n ở hang động.

Ở chương trước, chúng ta đă thấy sử gia Nguyễn Phương hoàn toàn sai lầm về chủng Mông Gô Lích, mà thật sự có đến ba phụ chủng Mông Gô Lích khác nhau, khác đến cái mức mà khoa chủng tộc học đă phải xem là 3 chủng chớ không phải một.

Trước khi học về chủng Việt, và trước khi đối chiếu sọ Việt, sọ Hoa, sọ Mă Lai, trước khi đối chiếu ngôn ngữ Việt, Mă, Hoa ta nên kiểm soát lại tất cả chứng tích khác của sử gia Nguyễn Phương, gồm có sử liệu, phong tục, ngôn ngữ, v.v.

 

Sử liệu

Trước hết, sử gia dựa vào Hoài Nam Tử của Lưu An, để cho rằng dân Lạc Việt chạy mất hết, bỏ đất đai lại cho người Tàu. Nhưng chúng tôi sẽ chứng minh hai điều:

1.      Lưu An nói chuyện ở Ngũ Lĩnh chớ không phải ở Cổ Việt, mà Cổ Việt th́ không có nằm trong đất Ngũ Lĩnh.

2.      Lưu An chép sai sự thật v́ sự kiện đó không có xảy ra một cách tuyệt đối như vậy, và đó là cố ư sai, v́ Lưu An chống lại cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng, muốn nói rằng chiếm đất vô ích v́ dân không đầu phục, không có lợi ǵ hết.

Mă Viện đă thực hiện được việc kiểm tra dân số tại cổ Việt Nam. Nội cái việc kiểm tra dân số thành công ấy cũng đủ cho thấy là dân Lạc Việt không có bỏ nước họ mà đi đâu hết.

Nếu dân Việt bất hợp tác, chạy lên rừng trốn th́ họ chạy trốn ngay lúc xứ của họ vừa mới bị chiếm, chớ không thế nào nhận chịu sự kiểm tra xong, mới chạy đi trốn.

Ta đọc sử Tàu không kỹ. Khi Lưu An nói đến dân Việt ở Ngũ Lĩnh trong quyển Hoài Nam Tử th́ ông vua họ Lưu ấy dùng một tự dạng Việt rất là kỳ dị, mà không có học giả Việt Nam nào chú ư đến cả. Đó là tự dạng thứ tư trong thư tịch Trung Hoa, mà trước Lưu An, không có ai dùng cả.

Trước đó người ta dùng Việt bộ Mễ để chỉ chi Âu tức người Thái, và Việt Vượt để chỉ chi Lạc.

Lưu An viết một chữ Việt thứ tư không là bộ Mễ, mà cũng không là Vượt của chi Lạc.

Lưu An rất có lư do mà làm như vậy, ông ấy rất ư thức mà làm như vậy và chúng tôi sẽ giải thích cái ư thức siêu đẳng đó ở một nơi khác.

Ta đọc sách Tàu nhưng không kỹ, hễ cứ thấy Việt là nghĩ ngay đến Việt Nam mà quên mất rằng có đến một trăm nhóm Việt.

Và cái vụ cháy trong rừng, bỏ đất, mà Hoài Nam Tử nói đến, vừa không đúng, vừa không chỉ dân Việt Nam bao giờ cả.

Kế đó sử gia nói đến việc Tần trồng người ở Nam Hải, vừa không đúng, vừa không chỉ dân Việt Nam bao giờ cả. Điều đó th́ ai cũng nh́n nhận là có thật, v́ có sử liệu về chánh sách ấy của nhà Tần.

Sử gia trích Tư Mă Thiên: “Triệu Đà đă phải sai sứ mang thư về triều xin gởi đến ba vạn con gái hoặc đàn bà góa để làm gả vợ binh sĩ”!

Đó là chuyện xảy ra ở huyện Long Xuyên, bên Quảng Đông, sử gia cũng biết thế, và ai cũng biết thế cả, nhưng sử gia trích ra để rồi nói thêm ở trang 232: “Công việc nhà Tần mới bắt đầu làm đó, nhà Hán đă tiếp tục xúc tiến, và các triều đại sau kiện toàn”.

Nhưng nhà Hán tiếp tục công việc đó tại vùng đất nào? Sử gia viết, trang 234: “Muốn biết rơ những ǵ xảy ra ở Cổ Việt… chúng ta thử nh́n kỹ (…) vào những ǵ đă xảy ra ở đợt trước (tức ở Long Xuyên và các vùng khác phía trên)”.

V́ không có sử liệu về trồng người và di cư ở Cổ Việt, nên sử gia Nguyễn Phương đă suy luận để chứng minh rằng có. Đó cũng là một phương pháp làm việc mà đôi khi, bất kỳ ai cũng phải làm. Đó là chứng tích gián tiếp.

Nhưng suy luận như vậy, hỏi có khoa học hay không? Những ǵ nhà Tần đă làm ở Nam Hải, nhà Hán có bắt buộc phải làm ở Cổ Việt hay không, và nếu muốn, có đủ khả năng làm hay không? Chúng tôi sẽ chứng minh rằng không.

Sự thật th́ không có tài liệu nào nói đến chánh sách trồng người của nhà Hán tại Cổ Việt hết. Sử gia rất tin sử Tàu, cái ǵ sử Tàu bảo có là sử gia nói có, bảo không sử gia nói không. Trong trường hợp trồng người, tài liệu nhà Hán không có, sao sử gia lại tin rằng có, và cố t́m? Sử gia đă không t́m được, nên sử gia dùng tài liệu gián tiếp để suy ra sự kiện ấy.

Không thể nói sử viết về đời Hán kém hơn sử viết về đời Tần, th́ sự vắng bóng của sử liệu đủ chứng minh rằng sự kiện không có xảy ra.

Hay là sử gia hiểu lầm về địa danh Giao Chỉ? Nên nhớ rằng địa danh ấy, dưới đời Hán trỏ một vùng đất lớn, gồm Quảng Đông, Quảng Tây và Cổ Việt Nam. Nhưng dưới đời Tần th́ không, bởi chúng tôi sẽ chứng minh rằng Tàu không có chiếm cổ Việt.

Có chánh sách trồng người ở cái vùng Giao Chỉ đó thật sự nhưng sự trồng người thật ra chỉ giới hạn trong huyện Long Xuyên, v́ Triệu Đà muốn nhiều mà thực hiện được rất ít, bởi ba vạn phụ nữ th́ không đủ cho toàn tỉnh Quảng Đông, tức quận Nam Hải, c̣n đâu để mà thành chánh sách trồng người ở Cổ Việt Nam.

Hàng trăm năm sau, vùng Giao Chỉ đó mới được tách làm hai, Quảng Đông, Quảng Tây gọi là Quảng Châu, c̣n Cổ Việt Nam th́ gọi là Giao Chỉ (Bắc Việt), Cửu Chơn, Nhựt Nam (Bắc Trung Việt).

Cái Giao Chỉ thứ nh́ nầy chẳng dính dáng ǵ tới cái Giao Chỉ thứ nhứt cả về dân tộc và địa lư.

Nhưng ta nên đi theo sử gia cho đến cùng để cùng xét những tài liệu gián tiếp ấy, xem có đúng không.

Sử gia trích Thủy Kinh Chú: “Năm Kiến Vơ thứ 10, Mă Viện tâu tŕnh vua rằng: Thần đă cẩn thận tiến vào Giao Chỉ với một toán binh Giao Chỉ là 12.000 người, hợp với đại binh 20.000”.

Sử gia bác lối giải thích của H. Maspéro. Ông ấy cho rằng 12.000 binh Giao Chỉ ấy là người mộ được trong tỉnh Quảng Đông v́ địa danh Giao Chỉ thời ấy có hai nghĩa, đất Giao Chỉ thật sự và những quận khác do thứ sử Giao Chỉ cai trị.

Và sử gia cho rằng chỉ có một lối hiểu thôi. Đó là Người Tàu đang sinh sống tại xứ Giao Chỉ (Bắc Việt). Ư sử gia muốn chứng minh rằng ngay trước khi Mă Viện đến mà cũng đă có di cư nhiều lắm rồi nên mới mộ được 12.000 người Hoa kiều ở Giao Chỉ (Giao Chỉ thứ nh́).

Sự thật th́ cả hai lối hiểu đều là những lối hiểu chủ quan, không hơn không kém, cứ hiểu như vậy, biên ra cũng không sao, nhưng dùng để làm chứng tích cho một giả thuyết quan trọng th́ không được phép.

Người ta lại có thể hiểu theo lối thứ ba nữa th́ bảo sao? Đó là những người Giao Chỉ phản quốc, phục vụ cho địch, v́ lẽ nầy hay lẽ khác. Thuở ấy biên giới giữa các quận của Tàu ở đó không có đóng lại, nên dân Giao Chỉ sang Quảng Đông rất dễ dàng, th́ sao Mă Viện lại không mộ được hạng người Giao Chỉ đó tại Quảng Đông?

Dẫu đó là người Tàu đă di cư đến Giao Chỉ hay người Giao Chỉ, thổ dân ǵ cũng phải có sự kiện vượt ranh giới Quảng Đông - Giao Chỉ, của những người ấy. Người Tàu di cư có thể vượt ranh th́ người Giao Chỉ thổ dân cũng có thể vượt ranh. Bằng chứng có người ḿnh phản quốc là người Tàu đă lập được một đạo thân binh, sau Lộ Bác Đức, gồm toàn người Giao Chỉ, y như vào năm 1945 Pháp đă lập ra lực lượng bổ túc gồm toán bạc-ti-dăng Việt Nam.

Dầu sao, lối hiểu thứ ba, cũng chỉ là một lối hiểu, chúng tôi chẳng dám cho đó là sự thật, nhưng hai lối trên, cũng chẳng là sự thật hơn. Không thể dùng một lối hiểu chủ quan để chứng minh cái ǵ hết.

Về việc di cư của người Trung Hoa sang Việt Nam vào thời cổ, sử gia Nguyễn Phương chỉ đưa ra được có bấy nhiêu chứng tích đó thôi, sử gia nói là rất nhiều và cứ nói măi điều đó, nhưng không hề cho biết con số, v́ cái lẽ dễ hiểu rằng không có con số đó, mà không có, nghĩa là không đáng kể, sử Tàu chẳng chép làm ǵ.

Sử gia cứ nói măi về những “đợt sóng di cư liên tiếp”, về “các người Trung Quốc di cư sang Cổ Việt vẫn một ngày một đông” nhưng không đưa ra được bằng chứng nào. Chúng tôi sẽ đưa bằng chứng ngược lại.

Có hai con số mà ai cũng biết, lại không được sử gia Nguyễn Phương dùng mạnh trong chiến dịch chứng minh nầy, đó là một ngàn người quư tộc Trung Hoa lưu vong đến nương nhờ Sĩ Nhiếp, và vào đời nhà Trần của ta, 1.500 lính do một viên tướng Tàu đến xin tị nạn chánh trị.

Tại sao cả hai con số đó không được sử dụng, mà chỉ ám chỉ sơ đến con số thứ nhứt mà thôi? V́ nó cho biết rơ một cách quá đích xác mà những con số quá thấp ấy lại mâu thuẫn với thuyết của sử gia.

Tuy nhiên, ở đây, ta vẫn phải nh́n nhận rằng sử gia Nguyễn Phương có khoa học ở một điểm. Sử Tàu chép rằng Tần Thủy Hoàng đă thực hiện chánh sách trồng người tại Nam Hải, tức trong vùng Ngũ Lĩnh, nhưng sử gia không nói rằng nước ta cũng nằm trong vùng Ngũ Lĩnh, để mà lợi dụng sử liệu đó.

Toàn thể các sử gia Việt Nam đều sai lầm mà theo ông Aurousseau để nói rằng Tần Thủy Hoàng đă chinh phục được Cổ Việt, tức Cổ Việt nằm trong đất Ngũ Lĩnh.

Chúng tôi sẽ chứng minh rằng Cổ Việt không nằm trong đất Ngũ Lĩnh và cuộc chinh phục của Tần Thủy Hoàng chỉ đi tới biên giới Việt Hoa ngày nay mà thôi, và nước Tây Âu đă bị chinh phục, không hề là đất của ta, như toàn thể các sử gia đều nói.

Một chứng minh thứ nh́ của sử gia Nguyễn Phương, cũng cứ lấy trong sử Tàu, đó là sự kiện hai bà Trưng chiếm được 65 thành có chép trong Hậu Hán thư.

Sử gia cẩn thận đếm các thành mà Trung Hoa lập ra ở các vùng nổi loạn th́ chỉ thấy có 27 thành mà thôi. Sử gia cũng lại nói rằng chỉ có một cách hiểu: 38 thành kia là những nơi định cư của thường dân Trung Hoa ở Cổ Việt, họ tự đắp thành để tự vệ. Ư giáo sư là cứ muốn chứng minh đă có Tàu di cư rất đông, trước Mă Viện nữa.

Không hiểu tại sao sử gia cứ cho rằng chỉ có một cách hiểu những điều khó hiểu như vậy?

Trước hết sử Tàu nói hai bà đánh đuổi quan quân Tàu, mà không hề nói đến việc tàn sát Hoa kiều thường dân, nếu quả đă có Hoa kiều. Sự kiện ấy, nếu đă xảy ra, chắc Tàu mừng lắm mà không khỏi vội ghi chép để chánh nghĩa hóa cuộc xâm lăng của họ (Nam Chiếu tàn sát Hoa kiều ở Đại La được họ ghi chép rơ ràng). Sử Tàu không chép hai bà Trưng tàn sát Hoa kiều, chỉ v́ sự việc không có xảy ra. Mà như vậy th́ sao Hoa kiều lại tự vệ lớn lao, đắp cả thành lũy?

Và nếu quả họ đă làm thế, chánh phủ Trung Hoa có gọi đó là thành hay không? (Hậu Hán thư là sử của nhà nước).

Trong lịch sử thế giới, khi nào mà chánh phủ vơ trang quần chúng, là bị ngay cái quần chúng vơ trang ấy lật họ. Đó là kinh nghiệm đau đớn mà Tàu đă phải gánh chịu nhiều lần, suưt mất nước, th́ hẳn chánh phủ Trung Hoa không bao giờ dám nh́n nhận bọn nhân dân tự vệ ấy cả đâu.

Hơn thế khi mà bốn ngàn quân chiếm đóng đă thua chạy mất hết rồi th́ thử hỏi thường dân Trung Hoa, không biết đánh giặc, có đủ can đảm tự vệ theo lối sử gia nghĩ ra hay không? Hẳn là không.

Trải qua lịch sử bành trướng của Trung Hoa, họ đă từng bị các thứ dân bị trị đánh đuổi, nhưng không hề có việc nhân dân tự vệ như thế. Những thành mà sử gia Nguyễn Phương biết là những thành lớn, huyện lỵ chẳng hạn, nhưng ngoài huyện lỵ ra, hẳn c̣n phải có nhiều thành nhỏ nữa, mà sử Tàu không có ghi v́ nó quá nhỏ, nên họ chỉ đếm đầu khi các thành nhỏ ấy bị chiếm, mà không kể tên.

Lần măi cho đến đầu đời chúa Nguyễn, sử gia mới thêm được các nhóm Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài và Mạc Cửu, nhưng đó là giọt nước trong đại dương v́ dân ta đă non một triệu hồi cổ thời, lên đến hơn 10 triệu rồi th́ ba ngàn người Tàu, kể ra làm ǵ?

Bất kỳ người nào muốn bác ức thuyết của sử gia Nguyễn Phương đều có thể đưa ra nhiều sự kiện rất vững, để chứng minh trái lại.

Chẳng hạn như cái tên Annam Đô hộ phủ. Nếu quả người Tàu sang đây càng ngày càng đông cho đến đỗi thành đa số tuyệt đối, thành “công dân duy nhứt ở đồng bằng sông Nhị và sông Mă”, th́ hẳn dưới thời Đường, sự đa số tuyệt đối phải xảy ra rồi, v́ đến đời sau, đời Tống, là người Tàu ở đó sẽ tách riêng ra mà tự lập (Đinh Bộ Lĩnh).

Như vậy th́ tại sao dưới đời Đường người Tàu lại đô hộ người Tàu? Họ chỉ xem xứ Annam là một châu hoặc hai, ba châu của họ, chỉ có thế thôi, chớ sao lại có chuyện đô hộ? Bằng không đô hộ, sao lại đặt tên là ANNAM đô hộ phủ?

Tất cả các triều đại Trung Hoa đều nói xứ ta đầy sơn lam chướng khí, không thể ở được, đến đời Càn Long, xứ ta đă bớt độc rồi mà vua ấy cũng c̣n nói như vậy th́ đất ta chỉ được họ xem là thuộc địa khai thác (colonie d’exploitation) chớ không là thuộc địa thực dân (colonie de peuplement). Vả lại, chúng tôi sẽ chứng minh rằng họ không có đủ dân vào thuở đó, để mà “thực” tại xứ ta.

Có phải chăng là Sử Kư của Tư Mă Thiên đă viết “Vua Hán Vũ Đế định xong nước Nam Việt rồi, cho là dân đất Mân thường mưu đầu tối đánh nên mới bắt cả dân chúng đem lên vùng sông Hoài c̣n đất th́ bỏ không”.

Tại sao lại bỏ không? Là tại Trung Hoa không đủ dân để lấp chỗ trống ở đó. Đă bảo sau Chiến quốc, sau Hán Sở tranh hùng, dân Tàu sụt ghê lắm.

Triệu Đà đă xác nhận sự kiện lịch sử nầy khi viết rằng “Đất Mân Việt chỉ đóng có một ngàn người”. Đó là t́nh h́nh sau khi đất ấy bị vét dân.

Đến đời Hán rồi mà người Mân Việt bổn thổ vẫn c̣n chiếm giữ xứ họ th́ cái việc nhà Tần di dân xuống, có thật hay là không? Có thể là có thật, nhưng di 500 ngàn người để cho ở tám tỉnh sau đây th́ thử hỏi mỗi tỉnh nhận được mấy người: Triết Giang, Giang Tô, Phúc Kiến, An Huy, Hồ Nam, Quy Châu, Quảng Đông và Quảng Tây?

Mỗi tỉnh chỉ nhận có sáu mươi ngàn, Cổ Việt không có nhận ai cả, v́ không hề có tài liệu nào nói về việc đó đối với Cổ Việt. Nhưng nếu cứ cố cho là có đi, th́ 60 ngàn người, làm thế nào đẩy 9 trăm ngàn vào thế thiểu số? Nhưng Cổ Việt không hề có tiếp nhận một số người là 60 ngàn. Nếu có, cổ sử Trung Hoa hẳn đă có ghi. Bằng như v́ quá ít mà không ghi, th́ cái số quá ít ấy chẳng thay đổi được t́nh h́nh chủng tộc của non một triệu người.

Họ không đủ người, họ lại không có chánh sách “trồng người” ở Cổ Việt. Nội cái từ ngữ Ngoại Vực trong “Giao Châu ngoại vực kư” đủ nói rơ rằng họ không có ư muốn nhập Cổ Việt vào lănh thổ Trung Hoa theo lối nhập Nam Hải. Đành rằng Cổ Việt cứ phải là thuộc địa của họ hoài, nhưng đó là một thứ thuộc địa trái độn mà quốc gia nào cũng cần.

Sự kiện họ không bao giờ chiếm đất Chàm, mặc dầu họ thừa sức chiếm (Đàn Ḥa Chi và Lưu Phong đă hai lần san bằng kinh đô Chàm) chỉ rơ cho ta thấy rằng đế quốc Trung Hoa đă bước tới cái bước cuối cùng trên đất ta, ít lắm là vào thời đó.

V́ lẽ ǵ không biết, đế quốc nào trên thế giới cũng vậy, luôn luôn dừng chơn lại ở nơi nào đó, mà thường th́ không phải là v́ gặp một thứ địch thủ nào quá mạnh đâu. H́nh như lập đế quốc là một nhu cầu, mà nhu cầu th́ dĩ nhiên phải có lúc nào đó nó được hoàn toàn thỏa măn. Nếu chỉ v́ ḷng tham th́ hỏi sao các đế quốc lại dừng chơn vô cớ mà thí dụ điển h́nh nhứt là sự dừng chơn của Trung Hoa tại đất Chàm? Thấy rơ là có lư do khác hơn là ḷng tham. Ḷng tham chỉ là một yếu tố trong đó thôi.

Nhưng các đế quốc xưa phải cần một vùng trái độn (mà nay cũng thế), vùng ấy nằm giữa lănh thổ của đế quốc và các rợ bên ngoài. Đó chính là vai tṛ mà Trung Hoa bắt Giao Chỉ phải giữ: trực trị, nhưng không nằm trong lănh thổ Trung Hoa, không buông, không nhả ra, nhưng cũng không ôm sát vào ḷng. Họ đă dùng một danh từ chuyên môn để gọi ta: Xứ Phiên Li hoặc Chu Li, rất rơ nghĩa. Phiên Li hoặc Chu Li có nghĩa là phên dậu, phên dậu che chở cho họ. Lính của họ không đủ đông v́ bị rút về sau khi thắng trận, mà dân di cư cũng không đủ để cho họ bắt lính tại chỗ, nên khi người Pháp đă phải tuyển mộ bạc-ti-dăng ở đây năm 1946. Trong quyển L’Art Vietnamien, ông L. Bezacier có gom tài liệu để thử tả quân trang của đạo thân binh nầy.

Giới quư tộc Lạc Việt mà đại diện là hai bà Trưng, sở dĩ khởi nghĩa cũng v́ đạo thân binh nầy và cũng v́ ngạch quan lại nhỏ gồm người bổn xứ mà các thứ sử, thái thú đă lập ra với thâm ư thay thế các cán bộ Lạc Việt mà họ buộc ḷng phải giữ lại để dùng từ non hai trăm năm rồi. Bọn cán bộ mới mà trưởng thành, th́ cấp cán bộ cũ của Lạc Việt sẽ bị đào thải hết ráo v́ Tàu không thể tin cậy được các Lạc Tướng.

Xem đó th́ biết là họ không đủ người, th́ không làm sao mà họ đẩy thổ dân Lạc Việt vào cái thế thiểu số không đáng kể được cả. C̣n nói Lạc Việt rút lên rừng mà ở hết như Lưu An đă nói, th́ lại càng không đúng, v́ nếu thế th́ người Tàu lấy đâu ra đạo thân binh ấy và ngạch quan lại nhỏ ấy? Vả lại, nếu không c̣n thổ dân th́ cũng chẳng cần đạo thân binh đó và ngạch quan lại nhỏ đó làm ǵ. Để trị ai chớ?

Nhưng về sau, Tàu có sang đây đông hơn chăng?

Sử gia Nguyễn Phương cứ nói đến măi những đợt sóng di dân kế tiếp nhau qua các trào đại, mà không hề chứng minh. Chúng tôi sẽ chứng minh rằng không hề có di cư, mặc dầu cổ sử Trung Hoa ngậm câm về vấn đề ấy, và mặc dầu sự ngậm câm của họ đủ chứng minh rằng không hề có.

Về số nóc gia ở Giao Chỉ qua các trào đại, thấy trong các cổ thư Trung Hoa, thật là đáng ngạc nhiên v́ sự giảm sút dị kỳ:

Theo Tiền Hán thư th́ có 92.440 nóc gia

-        Tấn Thư: 12.000

-        Lưu Tống (Châu quân chí) [1] : 4.232

-        Tuỳ: 30.056

-        Đường: 14.230

(Tài liệu lấy ở Phương Đ́nh Dư địa chí)

Sự giảm sút nầy được sử gia cắt nghĩa rằng sau đời tiền Hán, người Trung Hoa không coi thổ dân Lạc Việt là dân nữa, nên không biên nóc gia của họ vào sổ. Số nóc gia được biên là nhà của Trung Hoa di cư, nên quá ít và càng năm càng ít. Thế là mâu thuẫn với chủ trương rằng Tàu di cư càng ngày càng nhiều.

Người Tàu có ngu dại hơn người Mông Cổ hay không? Xin nghe câu chuyện mà R. G. kể về cuộc xâm lăng Trung Hoa của người Mông Cổ đời Nguyên.

Quân Mông Cổ định tàn sát hết người Trung Hoa để lấy đất nuôi dê, nuôi ngựa, nuôi ḅ và họ đang thực hiện kế hoạch của họ. Nhưng có một người Mông Cổ lưu lạc xuống đất Tàu ăn học làm quan, ở trong đám tù binh đông hàng triệu người đó. Y cắt nghĩa cho người Mông Cổ hiểu rằng để dân Tàu sống, có lợi hơn là nuôi ḅ, v́ một người dân đóng thuế nhiều hơn hoa lợi mà một con ḅ sẽ cho người nuôi.

Mông Cổ nghe xuôi tai, và nhờ thế mà bao nhiêu triệu người Hoa Bắc thoát chết.

Mông Cổ mà c̣n hiểu rằng người quư hơn ḅ, lẽ nào Tàu không hiểu được như vậy và không cho Lạc Việt là dân, dân hạng bét để cho họ sử dụng như là nô lệ.

Tại sao người của đời Tiền Hán xem Lạc Việt là dân, người của đời Hậu Hán, tiến bộ hơn (bằng chứng là Vương Măng đă thử làm cách mạng xă hội) lại không xem Lạc Việt là dân?

Nhưng ta cứ tiếp tục noi theo luận cứ của sử gia. Ta nh́n lại bản đúc kết các cuộc kiểm tra dân số trên đây một lần nữa. Nếu quả đó là nhà của người Tàu th́ rơ ràng là càng năm càng ít hơn, chớ bọn di cư không phải càng năm càng đông hơn như sử gia đă quả quyết.

Sử gia chỉ đoán liều vậy thôi, nhưng ta cứ nhận rằng sử gia đoán đúng đi, th́ dưới đời Đường chỉ có 14.230 x 10 = 142 ngàn dân di cư (kể như họ đẻ nhiều, một nhà chứa 10 người, cho khỏi tranh luận về số khẩu trong một hộ).

Sách Đường Thư làm xong năm 946, tức chỉ c̣n có 20 năm nữa là Đinh Bộ Lĩnh giành quyền độc lập. Nhưng dân Tàu chỉ đông có 142 ngàn người th́ giành độc lập được với ai kia chớ? Chỉ có một cách trả lời là dân Lạc Việt đă đông lắm nên họ Đinh mới dựa vào dân Lạc Việt để đ̣i độc lập. Hẳn họ phải đông nhiều triệu rồi mới được nhà Tống nể mặt phong vương cho họ Đinh.

Chắc chắn là có một số người đi lên núi, vào rừng, một số chạy xuống đất Chàm và theo ông O. Jansé và Willoquet th́ một số chạy sang Phi Luật Tân, nhưng đó là quư tộc Lạc Việt chớ không phải dân, hay nói cho đúng hơn, không phải toàn dân, bằng cớ chắc chắn là họ đă lập được một đạo binh Việt gian với lính người ḿnh, và để trị dân ḿnh c̣n ở lại.

Sau hai bà Trưng, ta đă dấy quân nhiều lần, mà lần nào sử Tàu cũng nói là man di nổi loạn, chớ không nói là người Tàu di cư phản loạn đối với chánh quốc, mà man di nổi loạn được là v́ họ chiếm đa số tuyệt đối.

Chính sử Tàu đă nói trái hẳn với sử gia Nguyễn Phương là người cả tin vào sử Tàu, nhưng khi ông muốn chứng minh một điều nó ám ảnh ông, th́ ông lại bất kể sử Tàu.

Tấn thư (địa lư chí) có chép rất rơ rằng tại quận Nhựt Nam có huyện Tượng Lâm. Từ huyện Tượng Lâm trở về phía Nam (cũng cứ trong quận Nhựt Nam) có bốn động (tức bốn làng, động là làng của man-di) mà dân ở đó xưng ḿnh là ḍng dơi nhà Hán.

Tấn thư được soạn vào khoảng năm 311, tức Lạc Việt đă bị trực trị rồi từ 300 năm. Thế mà ở Nhựt Nam chỉ có 4 làng Trung Hoa ấy thôi.

Tấn thư chép câu chuyện nầy với tánh cách đưa ra một hiện tượng lạ lùng đă làm kinh ngạc người chép sử, là tại sao trong xă hội “man di” lại có 4 làng Hoa kiều thuần chủng được một cách bất ngờ như vậy.

Nếu ở đó có đông người Tàu di cư th́ 4 làng nói trên không c̣n là một hiện tượng kỳ dị nữa, và người chép sử hoặc người cho tài liệu cho sử gia đời Tấn, đă không phải ngạc nhiên, và sử gia ấy đă không chép làm ǵ câu chuyện trên đây.

Về sự kiện lính Trung Hoa được rút về nước hay được giải ngũ tại chỗ để làm di dân, hợp với di dân thật sự, đẩy thổ dân vào thế thiểu số, ta nên mượn tài liệu của chính sử Tàu để nói chuyện.

Thời Đào Hoàng (tên một viên thứ sử vào năm 321) tại Giao Chỉ là thời đại thanh b́nh mà cũng chỉ có năm ngàn nóc nhà quy phục Bắc Triều, c̣n tới mấy vạn nóc nhà khác vẫn không chịu lệ thuộc.

“Mấy vạn nóc nhà” ấy, ta cứ lấy số tối thiểu là 2, hai vạn, tức là hai mươi ngàn nóc nhà. Như thế th́ số gia đ́nh quy phục chỉ là một phần tư của tổng số mà thôi. Làm một bài toán trừ đơn giản th́ ta kết luận được rằng sau ba trăm năm đô hộ ta, Trung Hoa chỉ kết nạp được sự hợp tác của một phần tư dân số mà thôi. Mà trong cái phần tư quy phục ấy, chắc chắn không phải là người Tàu, v́ với Hoa kiều th́ đâu có vấn đề quy phục. Họ có phải là người lai căn hay không? Cũng chắc chắn là không, v́ người lai căn với một dân một nước thống trị, đứng chung hàng ngũ với dân thống trị như Tây lai ở xứ ta về sau nầy chẳng hạn. Như vậy, đâu có xem là họ “quy phục”, họ được xem là người Trung Hoa ấy chớ. Tức trong năm ngàn nóc nhà quy phục ấy, không có người Tàu chánh gốc hay Tàu lai nào cả, mà chỉ có Lạc Việt thôi, toàn thể là Lạc Việt. Hai chục ngàn nóc nhà kia lại c̣n Lạc Việt mạnh hơn nữa.

Tổng số 25 ngàn nóc nhà nầy lại phù hợp với con số chính thức là 12 ngàn nóc nhà của Tấn Thư địa lư chí mà sử gia Nguyễn Phương và chúng tôi đă trích và dùng làm tài liệu suy luận mà chúng tôi nhắc đến trên kia. (25 ngàn là con số dưới thời Nam Bắc triều, một thế kỷ sau đời Tấn, có khác biệt nhau đến 13 ngàn, vẫn cho là phù hợp được, v́ có sự so le thời điểm).

Thấy rơ là số nóc gia chép ở Tấn Thư là nóc gia của Lạc Việt, chớ không phải của Trung Hoa như sử gia Nguyễn Phương đă quả quyết.

C̣n lại một thời gian là 8 thế kỷ đô hộ nữa. Trong tám thế kỷ sau nầy th́ hẳn lính Trung Hoa càng ít tới đây hơn, bởi một thuộc địa đă được cai trị từ ba thế kỷ rồi, không ai gởi lính sang tới đây hơn là trong ba thế kỷ trước. Như vậy, tỷ số lai căn không thể tăng lên mà chỉ có giảm xuống mà thôi, không c̣n nói là trái lại được.

Bọn thương gia và phu phen, thợ thuyền có đến hay không? Không thấy sử có viết về điều đó, nhưng chắc chắn là họ có đến, nhưng năm ba ông thầy phong thủy, ông thầy thuốc du phương, vài người thợ, vài trăm tội đồ không hề làm nên đa số.

C̣n như mà nói rằng nếu nhà dân bổn xứ là 25 ngàn, th́ nhà dân Tàu c̣n đông hơn nhiều (đa số mà lại) th́ đâu có việc viên thứ sử Đào Hoàng ấy sợ dân nổi loạn đến phải làm tờ phúc tŕnh nói trên. Chính đó là một tờ phúc tŕnh mà Đào Hoàng dâng lên để xin vua Trung Hoa đừng có rút quân chiếm đóng.

Người Lạc Việt không rút hết lên rừng để thành người Mường như nhiều người đă nói, trong đó có cả sử gia Nguyễn Phương. Họ ở lại rất đông và không bị đẩy vào cái thế thiểu số để người Tàu tràn tới, rồi tự xưng là dân tộc Việt Nam, bởi nếu Lạc Việt thiểu số th́ thứ sử Trung Hoa đă không sợ họ nổi loạn.

Cho tới nay, không ai biết người Mường là ai cả, cứ phỏng đoán. Ở một chương sau ta sẽ biết đích xác họ là ai.

C̣n như toàn dân là người Tàu ư? Th́ sao họ lại nổi loạn kia chớ? Người Tàu vẫn có thể nổi loạn để tự lập à? Rất có thể, mà như vậy th́ không có vấn đề ¼ quy phục và ¾ không qui phục. Họ qui phục toàn loạt. Chừng nào tới giờ phút muốn tự lập th́ chừng ấy mới có việc nổi loạn, chớ t́nh h́nh căng thẳng không có xảy ra. Sở dĩ t́nh h́nh nầy mà có là v́ có người thống trị và người bị trị ở cạnh nhau.

Sự kiện “rút quân về” lại chứng tỏ rằng những đợt sóng binh sĩ liên tiếp tới đây, không có ở lại. Có bọn di cư hay chăng mà sử gia cũng đă nói đến? Chắc chắn là không đáng kể ǵ hết. Sử gia René Grousset đă nắm được những con số của những lần kiểm tra dân số của Trung Hoa trải qua lịch sử của họ.

Nạn nhân măn vào đời nhà Hạ ở ngă ba sông Vị và sông Hoàng Hà, đă được vua Thiếu Khang giải quyết rồi, bằng cách cho Vô Dư lănh đạo bọn di cư xuống đất Kinh Việt, cái đất mà về sau, người Tàu lai Việt ở đó lập ra nước Sở. Chánh sách trồng người của Tần Thủy Hoàng không hề do nạn nhân măn chi phối mà chỉ là một hành động đế quốc muốn đồng hóa man di. Nạn nhân măn lớn (explosion démographique) th́ măi đến đời nhà Thanh họ mới mắc phải.

Sự kiện nhà Hán cứ c̣n giữ các cán bộ bổn xứ là Lạc Tướng, tuy không chứng tỏ rằng họ thiếu cán bộ, nhưng lại chứng tỏ rằng thổ dân không phải là thiểu số, mà trái lại c̣n là đa số cần được trị an bằng chính đám quan lại đă có uy tín sẵn. Về sau, thổ dân ấy lại càng ít thiểu số hơn v́ chỉ có cuộc chinh phục ban đầu mới cần nhiều lính, c̣n di dân th́ không có, như đă thấy.

Vào thế kỷ thứ XV T.K. Trung Hoa mới bắt đầu di dân ra biển Đông và xuống phương Nam. Nhưng măi cho đến giữa đời Đông Chu lối năm 500 T.K. mà ở mạn biển Đông chưa có người, nước Thù, vào thời Chiến quốc là một nước chỉ gồm có 10 học tức cao lắm 10 ngàn nhân khẩu. Thế th́ ba, bốn, năm trăm năm sau, họ lấy đâu cho ra người để di dân xuống Lạc Việt? Danh xưng Lạc Việt biến mất vào thuở đó là v́ lẽ chánh trị chớ không phải lẽ dân số như sử gia Nguyễn Phương đă nói. Thực dân Trung Hoa khác với thực dân Pháp sau nầy, họ xóa hết cái ǵ là cố cựu của thổ dân với mục đích đồng hóa, chỉ có thế thôi. Danh xưng Lạc Việt mất một cách nhân tạo, mất trong sách vở, trong văn kiện Trung Hoa, nhưng không mất trên thực tế.

Về những con số nầy, không phải t́m tài liệu lạ cho mất công: Chúng tôi xin lấy ngay tài liệu của sử gia Nguyễn Phương. Ở trang 331, sử gia viết: (Năm … 858 (tức c̣n có 117 năm nữa th́ ta độc lập vĩnh viễn với Đinh Bộ Lĩnh)… một vị cai trị có tài tên là Vương Thức… đến nơi ông liền nghĩ đến pḥng thủ phủ thành… huấn luyện binh sĩ. Không lâu, có một bọn Nam Man kéo đến. Thức ung dung cho người giải dịch hơn thiệt cho họ, họ rút về”.

C̣n có 1 trăm năm nữa th́ “người Tàu Đinh Bộ Lĩnh” tách rời xứ nầy ra khỏi chính quốc của y, th́ hẳn quanh thành Đại La phải đông đặc người Tàu di cư rồi, nếu căn cứ trên thuyết của sử gia Nguyễn Phương. Thế th́ làm thế nào bọn Nam Man tiến đến thành được? Họ có vơ trang ư, c̣n người Tàu th́ tay không? Nhưng vũ khí của họ cũng chỉ là dao, mác thôi, mà dân Tàu di cư, nhà nào cũng có dao, mác cả. Mà không phải Tàu chỉ ở quanh thành mà thôi, v́ người bổn xứ đă bị thiểu số từ lâu đời rồi th́ người Tàu di cư phải chiếm hết cả quận, huyện, tổng, làng. Không lẽ c̣n có một trăm năm nữa mà “người Tàu Đinh Bộ Lĩnh” cầm đầu người Tàu di cư để ly khai, mà người bổn xứ lại c̣n ở gần họ được?

Cũng cứ lấy tài liệu của sử gia Nguyễn Phương.

Năm 930 (nghĩa là c̣n có 45 năm nữa là “người Tàu Đinh Bộ Lĩnh” phản loạn với chính quốc của y) Lư Tiến sang làm thứ sử Giao Châu, Lưu Yểm căn dặn: “Dân Giao Chỉ thích làm loạn, chỉ nên t́m cách lung lạc họ mà thôi”.

Nếu dân Giao Chỉ là người Tàu di cư th́ một ông vua người Trung Hoa không bao giờ lại ăn nói như vậy. Chẳng hạn, nói đến dân Trung Hoa ở huyện Cảnh Đức Trấn, ông ấy đă nói: “Con dân ta”, ở Cảnh Đức Trấn vừa t́m được một trái núi có đất tốt để chế tạo loại đồ sứ đẹp, tên là núi Cao Lĩnh. Ông ấy không bao giờ nói: “Dân Cảnh Đức Trấn”. V́ thói quen của các vua Tàu là như thế, khi nào nói đến dân ngoại chủng, họ mới chỉ dân ấy bằng tên nước của ngoại chủng đó.

Sử gia Nguyễn Phương đă chứng minh được rằng nhà Tống “Công nhận quyền độc lập của Cổ Việt giữa thời b́nh”. Nhưng trải qua mấy ngàn năm lịch sử của Trung Hoa, không bao giờ giữa thời b́nh mà con dân Trung Hoa lại đứng lên ly khai và nhứt là đ̣i hỏi ấy được thỏa măn. Mà ở các nước khác cũng thế. Như vậy tại sao “người Tàu Đinh Bộ Lĩnh” lại đ̣i ly khai giữa lúc thạnh trị? Chỉ có một lối trả lời độc nhứt mà thôi: Đinh Bộ Lĩnh không phải là người Tàu, hay ít lắm, dân của ông cũng không phải dân Tàu.

Sử gia Nguyễn Phương lại trích bài chế của vua nhà Tống: “Đinh Bộ Lĩnh có chí mến văn hóa của Trung Quốc…”. Nếu Đinh Bộ Lĩnh là người Tàu, hẳn vua nhà Tống phải biết, cũng như vua nhà Tần đă biết rằng Triệu Đà là người Tàu.

Mà người Tàu không bao giờ có chí mến văn hóa của Trung Quốc như một số người của nước khác. Họ sanh ra, sống giữa văn hóa ấy, thấy tự nhiên phải như vậy, theo văn hóa khác là không xong, văn hóa Trung Quốc đối với họ như cơm mà họ ăn, áo mà họ mặc, nó quá quen thuộc mà họ giữ, không ghét cũng chẳng mến, họ giữ nó một cách máy móc.

Vua nhà Tống mà nói như vậy th́ hẳn ông ấy biết Đinh Bộ Lĩnh không phải là người Tàu, và Đinh Bộ Lĩnh khởi nghĩa để giành độc lập cho Lạc Việt chớ không phải để tách rời ra khỏi nước mẹ theo lối Huê Kỳ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan.

Sử gia Nguyễn Phương chắc cũng chưa tiêu hóa nổi chính cái thuyết của ḿnh, nên chi ông mâu thuẫn trong lời nói. Có khi ông viết: “Ngô Quyền giành độc lập” có khi viết: “Nước Việt Nam… rụng ra khỏi cây mẹ”.

Sự tách rời ra khỏi nước mẹ, đă xảy ra trong lịch sử của nhiều quốc gia, nhưng nó khác việc tranh đấu giành độc lập, mặc dầu trong hành động trước cũng có tranh đấu; cũng có độc lập, nhưng trong hành động trước là đồng chủng với nhau, trong hành động sau là chống xâm lăng.

Có một chi tiết mà không thấy sử gia nào của ta nói đến, là mặc dầu đặt quận, huyện ở Giao Chỉ, người Tàu không bao giờ trực trị ta cả.

Bằng chứng không trực trị là các quan thứ sử phải nộp cống hàng năm, đến đời Đường, cũng c̣n cống. Đây là cống phẩm của Giao Chỉ, dưới đời Đường: chuối, cau, mật chiên (?), lông chim sả (Phỉ túy).

Sử nói đó là thổ cống, nghĩa là c̣n có những cống phẩm khác, không nói ra v́ không đặc sắc: như vàng, bạc, chẳng hạn (trích Phương Đ́nh Dư địa chí).

Hễ các quận, huyện bị trực thị th́ dân ở đó phải đóng thuế, c̣n quan th́ không có cống ǵ hết. Đằng nầy quan đầu xứ lại phải cống như là một phiên vương th́ chắc chắn sự cai trị Giao Chỉ nằm lưng chừng giữa chế độ phiên thuộc vậy.

Mà tại sao lại thế? Là tại thổ dân quá đông mà lại không quen phải chịu sưu thuế nên không đóng thuế trực tiếp và Trung Hoa đành phải lấy thuế gián thu dưới h́nh thức cống phẩm, đến đời Đường, Giao Chỉ gần độc lập rồi, vẫn c̣n cống.

Những điều trên đây chứng tỏ rằng thổ dân chiếm đa số tuyệt đối, một đa số lớn cho đến đỗi quan hệ chánh trị giữa Giao Chỉ và Trung Hoa phải mềm dẻo uốn ḿnh theo. Nếu người Tàu là đa số th́ chánh sách của Trung Hoa hẳn đă phải khác, thâu thuế, chớ không nhận cống phẩm.

Văn học sử Trung Hoa cho biết rằng thi hào Vương Bột đời Đường làm bài thơ Đằng Vương Các trong chuyến đi thăm cha làm quan huyện ở Giao Chỉ.

Măi cho tới đời Đường mà quan Tàu c̣n không mang vợ con theo, mặc dầu họ được ở các thị trấn, tương đối ít chướng khí, th́ hẳn thường dân không ham tự động được di cư cho lắm.

Nên nhớ rằng đến đời Đường người Tàu vẫn cứ c̣n sống theo chế độ đại gia đ́nh, chớ không phải hễ biết làm thơ rồi như Vương Bột là được ra riêng.

Cuộc thăm cha xa xôi của thi sĩ Vương Bột chứng tỏ rằng quan Tàu thuở ấy không có mang gia đ́nh theo. Họ liều thân một ḿnh, để vợ con họ được an toàn, tránh cái khí hậu nhiệt đới của Giao Chỉ mà dân Hoa Bắc không chịu nổi.

Hạ chí Tuyến (tropique du Cancer) nằm ngay tại thành phố Quảng Đông ngày nay, và qua khỏi Hạ chí Tuyến là vùng bán nhiệt đới (sub-tropical), qua khỏi Cà Mau là vùng xích đạo nhiệt đới (équatorial), người Hoa Bắc không làm sao mà sống được ở hai vùng khí hậu đó, chớ thật ra th́ nó không có độc ǵ hết như họ tưởng.

Cái huyền thoại Mă Viện thấy một con chim rơi rồi ngộ nhận là v́ khí hậu quá độc mà cả chim cũng phải rơi, chỉ là v́ Mă Viện trông gà hóa quốc. Y đă thấy một con chim bói cá, loại chim ấy không có ở Trung Hoa nên y không biết. Người Tàu gọi nó là chim phỉ túy, miền Nam nước Việt gọi là chim thằng chài, nó thường từ trên cao phóng xuống trông y hệt như là nó rơi đối với con mắt người Hoa Bắc.

Lưu An trong Hoài Nam Tử đă chép rằng nhà Tần đánh Ngũ Lĩnh chỉ v́ tham lông chim phỉ túy, tức con chim bói cá mà Trung Hoa không có.

Không ai chối căi rằng có di cư, nhưng không hề thấy có chánh sách dời người của nhà nước, th́ cuộc di cư tự ư của cá nhân, nhứt định là rất yếu, không đáng kể. Sử Tàu xem ra th́ không đến đỗi thiếu sót những biến cố quan trọng, chỉ có bốn động người Tàu ở Cửu Chơn mà họ c̣n ghi rơ th́ làm thế nào họ không ghi sự kiện hàng vạn người tràn sang đây, nếu sự kiện ấy đă xảy ra. Từ Hán đến Tống, họ đă viết hàng chục bộ sử, sử gia nầy có quên mất vài việc, th́ c̣n sử gia khác, nhưng không thể nói rằng ai cũng quên sự kiện di cư cả.

Xin trích dẫn ra đây bài Ư lữ văn của một bậc danh nho khét tiếng đời nhà Minh, triết gia Vương Dương Minh.

Vương Dương Minh làm quan tại triều nhà Minh, phạm tội khi quân, bị giáng đi làm quan hạng bét ở xứ Long Trường. Ông ấy kể một câu chuyện vừa bằng văn xuôi, vừa bằng thơ, đại khái như dưới đây:

“Năm Minh vơ Tống (1515) ta đang làm quan nhỏ ở đất Long Trường th́ một buổi chiều có một viên chức nhỏ làm lại mục, từ kinh đô được thuyên chuyển đến nơi nhậm chức, đi ngang qua Long Trường, có dẫn theo 1 con trai và 1 người tớ.

Không ai biết y tên ǵ. Ta ở trong nhà, nh́n qua hàng rào thưa, thấy y vào xin ngủ trọ ở nhà một thổ dân người Miêu. Sáng ra th́ y tái khởi hành.

Nhưng gần trưa, có người ở g̣ Ngô Công về cho biết ở chơn núi có một người già chết, hai người khóc thảm thiết. Người chết là người lại mục. Gần lối lại có người cho biết dưới chơn núi có hai thây ma, người c̣n sống đang khóc lóc thảm thiết. Hỏi ra th́ người chết sau đó là đứa con trai người lại mục. Sáng hôm sau nữa th́ người ta cho biết người sống sót cũng chết nốt.

Ta buồn nên ta ca rằng:

Ta với ngươi đều là kẻ xa quê

Chẳng hiểu ngôn ngữ của man di

 

Bên đường mồ mả liên kế nhau

Phần lớn là của người Trung Quốc xa nhà”.

Qua bài văn của Vương Dương Minh, ta thấy ǵ? Là măi cho đến năm 1515, tức tương đối rất gần đây, mà ở Hoa Nam c̣n hiếm dân Trung Hoa cho đến đỗi viên lại mục phải ngủ trọ ở nhà thổ dân.

Quan Trung Hoa th́ có, nhưng cũng hiếm lắm, nên kẻ bạc phước mới không dè rằng có Vương Dương Minh ở Long Trường để mà t́m đến.

Ta lại thấy mồ mả người Tàu chết đường nhiều quá khi họ xuống phương Nam. Sự kiện ấy hẳn không làm cho họ ham di cư sang tận Giao Chỉ đâu, v́ Giao Chỉ c̣n xa hơn nhiều.

Như vậy thử hỏi 8 trăm năm về trước, có thể có người Tàu di cư sang xứ ta đông đáng kể chăng?

Sử gia Nguyễn Phương có đưa ra một câu chuyện, không biết để làm ǵ, v́ câu chuyện đó hoàn toàn vô ích đối với quyển sách của sử gia. Đó là chuyện quan Thứ sử Doanh Châu Lư Tổ Thượng đời Đường, từ chối đi làm Thứ sử theo chỉ định của vua Lư Thế Dân, nên bị chết chém.

Nhưng đó là gậy ông đập lưng ông, v́ sử gia chép thiếu một câu quan trọng mà nay chúng tôi đưa ra đây: “Đi Giao Chỉ, th́ không có về, thà là tôi chịu chết mà được chết ở quê nhà”.

Cho tới đời Đường rồi mà người ta c̣n sợ Giao Chỉ đến thế. Mà đó là nhơn vật cao sang nhứt Giao Chỉ, nếu ông ấy chịu đi. Điều kiện sống của ông sẽ giúp ông dễ chịu phần nào mà ông c̣n chọn cái chết chém thay cho việc đi Giao Chỉ th́ hẳn thường dân không ham Giao Chỉ lắm đâu.

Trong cuộc xâm lăng của nhà Tống, sử Tàu thú nhận có 110.000 binh sĩ chết v́ sơn lam chướng khí (không kể bọn chết trận), mà chuyện đó xảy ra 1.035 năm sau Mă Viện, th́ đủ biết người Tàu không ở đất Giao Chỉ được mà nói đến những đợt di cư liên tiếp.

Ở đây tưởng nên trở lại vấn đề bất phục thủy thổ mà tất cả các sử gia Tàu đều nói đến, măi cho tới đời nhà Thanh cũng c̣n nói.

Người ta tự hỏi nếu xưa Tàu ở Giao Chỉ không được, sao nay họ lại ở được, cả ở đường xích đạo (Anh Đô Nê Xia) nữa.

Nhưng ta cứ kiểm soát lại xem người Tàu sống ở Đông Nam Á ngày nay là ai. Đó là người Hải Nam, Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến và Hẹ. Ngoài 5 nhóm đó ra, tuyệt đối không c̣n nhóm nào khác nữa hết. Không bao giờ ai t́m gặp một người Hồ Nam, một người Triết Giang tại Đông Nam Á.

Mà 5 nhóm người ấy là ai? Đó là những người Thái (Tây Âu, Đông Âu, Hẹ, Hải Nam) và những người Lạc (Phúc Kiến, Triều Châu) biến thành Tàu.

Dưới những đời Hán, Tần, Đường, Tống, Minh, họ c̣n là man di, nên không giỏi để mà đi làm ăn xa, c̣n người Tàu thật sự, tức người Hoa Bắc và Hoa Trung th́ chỉ chịu đựng nổi khí hậu Hạ chí Tuyến mà thôi (tuyến nầy nằm ngang thành phố Quảng Đông).

Cả đến “man di” Sở, gốc Việt, mà vẫn không dám xuống khỏi Hạ chí Tuyến.

Người Tàu di cư xuống Đông Nam Á hiện nay, sở dĩ di cư được, chính v́ họ là những con người sống tại ranh giới Hạ chí Tuyến, có thể quen được với khí hậu bán nhiệt đới. Nhưng những con người ấy, khi xưa, c̣n kém cỏi lắm, không thể biết đi làm thợ, hoặc làm thương mại xa, c̣n bọn có khả năng là bọn ở trên th́ từ xưa đến nay không di cư bao giờ.

Vấn đề sơn lam chướng khí của Giao Chỉ là chuyện huyền thoại mà họ đưa ra, khi họ không giải thích được một sự thật về phản ứng cơ thể đối với khí hậu lạ.

Tài liệu rơ ràng hơn cả là một câu sử trong Hậu Hán thư thiên Mă Viện truyện.

Mă Viện thắng trận rồi th́ kiểm điểm lại để về nước. Binh sĩ tử trận không đáng kể, mà “Bất phục thủy thổ mà chết 10 phần hao hết 4 hoặc năm”. Đó là binh sĩ Trung Hoa, chớ không phải người Tây Âu ở Nam Việt hay đạo thân binh Việt phản quốc mà chúng tôi đă nói đến và sử gia Nguyễn Phương cho là người Tàu di cư t́nh nguyện đi lính.

Chúng ta tự hỏi có phải chăng sử gia Nguyễn Phương đă bị ông O. Jansé đánh lạc hướng? Quả thật vậy, trong danh sách những sách tham khảo của sử gia Nguyễn Phương thấy có quyển A.R.I.I. của ông O. Jansé, và trong quyển sách đó, ở chương kết luận, ngắn chỉ có một trang, ông O. Jansé có viết:

V́ cuộc lấn lần của người Trung Hoa mà dân Cổ Mă Lai rút đi xa, có lẽ về hướng Nam… (trước thời Triệu Đà).

Nhưng ông O. Jansé đă tự mâu thuẫn với ông v́ trước đó mấy ḍng, ông viết rằng quư tộc Lạc Việt rất ham gả con gái cho bọn phiêu lưu Tàu mà tài nghệ siêu quần. Đă mê Tàu như thế, sao lại bỏ nước mà đi?

Nhưng chẳng những không có bằng chứng ta bỏ đất cho Tàu, mà trái lại c̣n có vô số bằng cớ là ta không có bỏ đất, hay nói cho thật đúng, chỉ có một số người là bỏ thôi, đó là quư tộc Lạc Việt và tôi tớ, gia nhân, nô lệ của họ, mà việc đó cũng chỉ vào thời Mă Viện, chớ trước th́ không có, sau cũng không có, đại đa số dân chúng vẫn ở lại, bằng cớ là khi Mă Viện đến, họ gặp toàn người Lạc Việt chớ không có gặp người Tàu nào đă di cư ở sẵn đó.

Cho tới thời Mă Viện mà cơ thể của người Tàu c̣n chưa chịu được khí hậu Giao Chỉ th́ trước đó làm ǵ người Tàu di cư tới được như ông O. Jansé nói, và làm ǵ có di cư từ đó về sau được sử gia Nguyễn Phương nói.

Có một trang kết luận ngắn mà ông O. Jansé rối lên, mâu thuẫn lung tung. Ông nói chuyện dân bổn xứ bỏ nước là nói chuyện trước Mă Viện đấy. Bỏ nước v́ bị lấn lần hồi. Nhưng nếu thế, th́ lấy đâu cho ra hai bà Trưng để mà khởi nghĩa? Vả lại người ta chỉ có thể bỏ nước khi bị xâm lăng chớ không hề bỏ nước trước một cuộc di cư âm thầm.

Bằng như cho rằng việc bỏ nước xảy ra vào thời Mă Viện như sử gia Nguyễn Phương nói, th́ họ Mă không đă thể kiểm tra dân số người thổ trước được mà sử Tàu đă chép là việc kiểm tra ấy đă được thực hiện khá chu đáo.

Không, Lạc Việt chỉ mới hợp chủng với Trung Hoa sau Mă Viện mà thôi. Sự có mặt của vài cái sọ Mông Gô Lích ở Bắc Sơn sẽ được giải thích rơ ở chương Mă Lai chủng. Không hề có lai với Tàu. Đó là sọ Việt Hoa Bắc, tức sọ Cửu Lê, lai với Mông Cổ.

Tất cả những nhà bác học Patte, Mansuy, Colan đều sai lầm ở điểm nầy, và tất cả sách ta đều cóp lại. Những cái sọ Mông Gô Lích ở làng Cườm là sọ Cửu Lê lai giống với Mông Cổ tại Hoa Bắc và di cư tới đó chớ không hề là sọ Trung Hoa. Rồi ta sẽ thấy bằng chứng.

Những ngôi mộ Trung Hoa đào được ở Bắc và Trung Việt, là mộ quan, mà quan Tàu xưa th́ không có mang vợ con theo, như câu chuyện thi hào Vương Bột đi thăm cha làm quan ở Giao Chỉ mà chúng tôi đă kể khi năy.

Việc tống táng các ông, hóa thành việc nhà nước, việc của các tùy viên, mà họ th́ chỉ cần làm cho đúng lễ và đủ lễ, chớ không thể đưa hài cốt về Tàu được như gia đ́nh của những người chết.

C̣n th́ Hoa kiều thường dân luôn luôn trở về cố thổ, sau khi nhắm mắt, hoặc ngay lúc c̣n sống, khi đă làm giàu rồi.

Một chứng tích ngộ nghĩnh mà ông O. Jansé, kẻ đào mồ cuốc mả thiên hạ lại không thấy, để cho người khác thấy. Người khác đó là ông L. Bézacler. Ông nầy viết: “Những ngôi mộ Tàu t́m thấy ở Bắc Việt và Bắc Trung Việt đều là mộ từ thời Hậu Hán về sau, trước đó không hề có”.

Mộ dân là mộ đất th́ có hay không cũng chẳng ai biết. Mộ mà ông L. Bézacler nói đến là mộ quan. Nhưng nếu có mộ của rể các lănh chúa như ông O. Jansé nói th́ hẳn người ta cũng đă tưởng là mộ quan, và đă cho là có, v́ rể lănh chúa phải là những nhơn vật quan trọng không kém ǵ quan, và họ được tống táng theo Tàu chớ không theo Việt.

Cái câu chuyện các lănh chúa ham gả con gái cho Tàu di cư của ông O. Jansé chỉ là huyền thoại của một nhà bác học kém tưởng tượng khi bịa càn.

C̣n đây là một sự kiện nó đánh ngă thuyết của sử gia Nguyễn Phương bằng những vố nặng hơn bất cứ tài liệu nào.

Từ 1680 đến năm 1945, Hoa kiều ở miền Nam có lập ra hội Di hài, mỗi năm mỗi Hoa kiều nghèo, đóng một số tiền niên liễm, để sau họ qua đời, hội sẽ di chuyển hài cốt của họ về quê cha đất tổ họ bên Tàu.

Đó là cái hoài băo tha thiết nhứt của Trung Hoa di cư sang Việt Nam. Nhưng thuở xưa th́ có như thế hay không? Đó mới là chuyện đáng kể.

Cụ Vương Hồng Sển nguyên là quản thủ Bảo tàng viện Sài G̣n, là một nhà chơi đồ cổ có tiếng, cụ có cho chúng tôi thấy một thứ hộp bằng sứ chế tạo bởi những ḷ sứ ở Thanh Hóa của người Hoa kiều đời Đường, đời Tống. Đó là hộp chế tạo riêng để dựng hài cốt Hoa kiều trong chiến dịch di hài nói trên.

Với cái tinh thần đó, với sự cẩn thận chế tạo cả dụng cụ cho công việc ấy, thử hỏi ư chí lập nghiệp lâu dài của người Tàu thuở đó ở xứ ta có hay không? Nếu quả có di cư đi nữa, như sử gia Nguyễn Phương cứ quả quyết rằng có, th́ đó chỉ là những cuộc di cư để kiếm ăn vài mươi năm, chớ kẻ di cư không có ở lại để ly khai với chánh quốc và tự xưng là người Việt Nam đâu.

Tại Chợ Lớn, hồi trước năm 1945, việc hốt cốt ở các nghĩa địa Hoa kiều và việc chế tạo hộp di hài là một kỹ nghệ lớn, nuôi sống hàng ngàn người, bởi Hoa kiều đông mà kỹ nghệ đồ sứ và hốt cốt cũng cần thợ đông lắm.

Từ năm bọn lưu vong nhà Minh đến Nam kỳ tới nay là ba trăm năm rồi, thế mà nghĩa địa của họ ở Chợ Lớn chưa đầy, mặc dầu hiện nay số Hoa kiều ở đây, kể cả những người mới nhập tịch, lên đến gần 9 trăm ngàn người (Tạp chí Bách khoa, tháng 2.1970).

Tại sao nghĩa địa nhỏ thế mà không đầy? Là tại họ không có ở lại. Kiếm được một số tiền là họ dông đi. Rủi chết bất th́nh ĺnh, vợ con họ, hoặc Hội di hài cũng sẽ cho hốt cốt đưa về Tàu.

Đó là chuyện đời nay mà họ t́m được lạc thú ở đây với một cộng đồng Trung Hoa lớn, có đủ thứ đồ cần dùng cho họ, có đủ bạn bè thân hữu cho họ, chớ xưa kia, thiếu thốn tất cả, chắc họ không ham tới lắm đâu, và nhứt là có dại dột tới, họ không ham ở lại lắm đâu.

Tóm lại, không hề có người Tàu di cư đáng kể sang đây dưới thời Bắc thuộc. Nhiều quyển sử cũng đă nói như sử gia Nguyễn Phương nhưng không quyển nào chứng minh được sự kiện ấy cả. Có quyển lại chỉ nói mơ hồ mà không buồn chứng minh ǵ hết.

Mà nếu không có các cuộc di cư vĩ đại liên tiếp th́ dân ở đây là dân Lạc Việt hết, không thể nào họ biến mất để cho Hoa kiều trá h́nh làm Việt Nam được.

Cái chuyện người Tàu di cư tự xưng là Việt Nam là một câu chuyện vô lư động trời.

Cứ viếng Tân Gia Ba th́ biết. Họ cứ tự xưng họ là người Tàu đi lập quốc ở hải ngoại, chớ không hề tự xưng là người Mă Lai Á bao giờ hết.

Con người có bản chất thấy sang bắt quàng làm họ, chớ chưa hề có trường hợp bắt quàng làm họ với kẻ bị trị. Tàu giỏi hơn Việt, Tàu giỏi hơn Mă Lai Á, th́ họ không mắc chứng điên mà phủ nhận nguồn gốc Tàu của họ để tự xưng là Việt, là Mă Lai Á.

Bọn Tàu di cư tới đất Kinh Man, tuy không tự xưng là Tàu, nhưng cũng không bao giờ tự xưng là Việt Kinh Man. Họ bày ra danh tự xưng mới là Sở, nhưng phong tục và kỹ thuật th́ cứ là phong tục kỹ thuật Tàu, chớ dân Sở không theo phong tục man di ở Kinh Man, trừ vài trường hợp nho nhỏ. Thế nên rồi nước Sở mới được xem là một tiểu bang Trung Hoa một cách chính thức trong chánh phủ trung ương đời Đông Chu.

Việt không phải là danh tự xưng mới bày ra sau như Sở, mà nó là tên có đă từ lâu đời lắm mà Tàu cho là man di mọi rợ. Di cư Tàu ở Cổ Việt (nếu có) hẳn đă bày ra một danh xưng mới như Sở, chớ sao lại tự xưng là Việt mà họ hiểu là man di?

Bọn lai căn cũng quá ít v́ bọn di cư vốn đă ít kia mà. (Nhiều sử gia khác cũng đă nói là có đông người lai căn lắm).

Lần nầy ta phải dứt khoát về vấn đề nầy mới được, chớ không thể bỏ qua như từ xưa đến nay, v́ sử gia Nguyễn Phương đă mượn câu chuyện tưởng tượng đó để lập ra một thuyết động trời rất là tai hại.

Con số chính thức về những đứa con hoang mà lính Mỹ bỏ rơi ở Việt Nam, được công bố chính thức, đăng báo ngày 22.7.1971 là 5.000.

Những đứa con được thừa nhận là bao nhiêu? Đáng lư là phải ít hơn, v́ kẻ can đảm, dám chịu trách nhiệm, ít hơn. Nhưng ta cứ cho là cũng 5.000.

Vậy tổng số là 10.000. Mà lính Mỹ th́ đóng tới nửa triệu.

Như thế th́ một triệu lính chỉ sản xuất có 20 ngàn trẻ lai. Ta thử tính xem bốn ngàn lính thú Trung Hoa cho ra đời bao nhiêu trẻ lai?

Một bài toán nhơn sẽ cho thấy số lính Tàu tỉ suất có thể cho ra đời con lai:
4.000 x 60 = 240.000

240 ngàn th́ ít hơn nửa triệu quá xa, và số trẻ lai Tàu chỉ bằng phân nửa trẻ lai Mỹ, tức 10 ngàn. Mười ngàn không thể làm nên đa số, bởi Tàu sản xuất con th́ Lạc Việt cũng sản xuất con, và con số non một triệu dân Lạc Việt buổi đầu cũng tăng và cũng cứ làm đa số tuyệt đối ở xứ ta.

Có một sự kiện nầy mà sử gia Nguyễn Phương không chú ư tới. Đó là danh xưng mà người Việt Nam xưa ở miền Bắc dùng để gọi người Tàu. Ta luôn luôn gọi người Tàu là người Ngô, chớ không bao giờ gọi là Hán là Tần ǵ hết.

Nếu gọi theo trào đại của Trung Hoa th́ hẳn danh xưng đó phải được thay đổi, có khi gọi là Ngô, có khi gọi là Tống, là Nguyên. Đằng nầy không. Như vậy chỉ có thể hiểu là ta gọi họ theo thói quen của ban đầu.

Và Ngô nầy chắc chắn là Ngô Tam Quốc chớ không phải Ngô Ngũ Đại v́ dưới thời Ngũ Đại, ta bị kẹt với Nam Hán, c̣n Ngô th́ ở trên xa lắm. Ngô Tam Quốc kiểm soát cả từ sông Dương Tử cho đến nước ta.

Nội loạn Tam quốc của Trung Hoa xảy ra vào những năm 213, 280 S.K.

Danh xưng mà ta để dành cho họ có thể đánh dấu với thời họ mới di cư tới, tức là quá xa về sau nầy, quá xa với cái vụ trồng người của Tần Thủy Hoàng.

Nhưng nói về Hoa kiều ở Việt Nam, có lẽ người miền Nam rất thạo bởi 9 phần mười Hoa kiều sống tại miền Nam, chớ không phải tại miền Bắc và miền Trung.

Tất cả những Hoa kiều ở miền Nam, cho dẫu tới đây dưới trào Minh, trào Thanh hay trào Trung Hoa dân quốc sau 1911, đều tự xưng là Thọng dành tức Đường nhơn.

Hỏi họ tại sao không tự xưng là Hán dành v́ thường th́ họ hănh diện về nhà Hán hơn (họ xưng với các nước khác rằng họ là Hán tộc) th́ họ đáp rằng, khi họ ra đi, người trong nước họ, dặn phải tự xưng như vậy, không v́ hănh diện nào, mà chỉ để cho người Việt Nam dễ biết họ là ai, bởi những Việt Nam bắt đầu biết rơ họ dưới đời Đường.

Người Trung Hoa rất thích khoe khoang về nhà Hán của họ mà khi họ phải hy sinh cái nhà Hán vĩ đại đó th́ hẳn ta phải tin rằng họ nói sự thật chớ không phải bịa chuyện, về cái vụ Đường ấy.

Và quả chúng tôi bắt được chứng tích không thể chối về sự kiện nói trên.

Trong sách Khâm Châu Chi có chép: “Tướng Trường Châu có quân mạnh, gồm được hết các quận Uất Châu (Quảng Tây) rồi đầu hàng nhà Đường. Từ đó nước Trung Quốc mới có đường thông thương với Giao Châu và Ái Châu”.

Thế là rơ. Trước đời nhà đường, tuy cũng có đường, nhưng là đường băng rừng của các đội viễn chinh, mấy trăm năm mới được sử dụng một lần, nên quân lính đi qua rồi th́ thành rừng trở lại. Chỉ sau cuộc đầu hàng nhà Đường của tướng Trường Châu, kẻ đă mở mang Uất Châu, th́ mới có đường đi thật sự và dân Tàu mới di cư đến được.

Thế nên bọn di cư mới quen tự xưng là Đường Nhơn (Thọng Dành). Nhưng nhà Đường th́ quá mới, v́ man di Lạc Việt sắp thu hồi độc lập rồi, trước khi bị bọn di cư làm cho thiểu số.

Nhưng hễ họ thu hồi độc lập rồi th́ họ hạn chế di cư và không bao giờ họ thiểu số cả.

Trên kia, chúng ta vừa nói đến danh xưng Ngô là xưng theo thói quen buổi đầu. Nhưng đó là thói quen của ta. Thói quen của họ là Đường. Ai nói đúng hơn ai?

Ta chỉ có thể hiểu là ai cũng nói đúng cả. Ngô là thời mà thường dân Tàu bắt đầu tới đây nhưng chỉ thưa thớt thôi và Đường là thời mà họ bắt đầu tới đông, nên mới nổi danh và được ta biết rơ, và được họ tạm dùng để chỉ căn cước của họ.

Dầu sao, cuộc di cư bắt đầu cũng chỉ mới xảy ra lối năm 240 S. K., c̣n sự kiện tới đông hơn th́ c̣n quá mới, tức năm 720 (Trung điệp nhà Đường).

Chính vào đời Đường ấy mà theo đối chiếu của ông H. Maspéro, mái nhà của người Trung Hoa bắt đầu cong quét lên y như mái nhà có h́nh khắc trong trống đồng Đông Sơn, và đó là lối kiến trúc đặc biệt của chủng tộc Mă Lai, chớ dân Trung Hoa từ đời Đường trở về trước, cất nhà y hệt như nhà Tây, tức nóc không oằn, mái không cong quớt lên (xin xem chương Dấu vết Mă Lai).

Nhưng cũng nên nhớ rằng sự “nhiều” đó, chỉ là tương đối với đời Ngô, chớ việc Lư Tổ Thượng, người đời Đường thà chịu chết chớ không đi làm quan đầu xứ ở Giao Chỉ cho thấy quá rơ rằng người Tàu chưa dám di cư vào đất Việt, cả dưới đời Đường ấy nữa. Chúng tôi lại trích Hải ngoại kỹ sự do chính sử gia Nguyễn Phương dịch, tài liệu nầy là tài liệu cuối thế kỷ XVII, tức mới đây thôi, và chúng tôi ưa dùng nó v́ đó là dịch phẩm của sử gia họ Nguyễn, sử gia có thấy nó có giá trị nên mới dịch, th́ không thể nói là sách ấy sai.

Xin trích một đoạn ngắn của bài khảo cứu của giáo sư Trần Kinh Ḥa đăng sau các chương của quyển “Hải ngoại kỹ sự”:

“Trong thời gian lưu trú ở Hội An lần thứ hai, Đại Sán thấy trong bọn Hoa kiều có hai người kế nhau tạ thế. H.N.K.S. chép rằng “bản chất con người phương Bắc đến đây hay sanh bịnh…”. Tuy chết sống do mạng trời, nhưng người cũng có quyền di chuyển chẳng qua v́ cớ Bắc Nam bất phục thủy thổ mà ra cả”.

Đó là chuyện xảy ra năm 1665. Thích Đại Sán lại là người Hoa Nam, sống ở Hạ chí Tuyến từ lúc lọt ḷng, tức ông và những người chết đă quen được phần nào với khí hậu nhiệt đới của Việt Nam.

Chuyện ǵ xảy ra 1665 năm trước đó, năm mà Mă Viện sang xứ ta, nhứt là họ Mă và đại đội binh mă của y đều là thứ người nói tiếng Trung Hoa giọng Quan Thoại, tức người ở kinh đô Tàu mà đến, người của vùng khí hậu lạnh, nhứt là kinh đô Tàu thuở ấy lại là Lạc Dương, Trường An, toàn là những nơi có khí hậu lục địa, khác hẳn khí hậu lạnh mà có gió mùa ở Sơn Đông, tuy vẫn c̣n quá lạnh nhưng hơi giống phần nào với khí hậu Giao Chỉ, chớ khí hậu lục địa (climat continental) của các kinh đô Tàu xưa th́ khác một trời một vực với khí hậu ở dưới Hạ chí Tuyến? Cái câu chuyện ǵ đó rất là dễ biết, là Tàu Hoa Bắc không sống được trong khí hậu bán nhiệt đới của Giao Chỉ, c̣n Tàu Hoa Nam th́ măi đến đời Nguyên (theo Marco Polo) th́ chưa thành Tàu hẳn để mà giỏi công nghệ và thương măi, để đi kiếm ăn xa được.

 


C. Bất tương đồng Hoa Việt

I. Đối xử với các trào đại địch

Sử gia Nguyễn Phương cứ nhấn mạnh măi về những tương đồng giữa Việt và Trung Hoa để kết luận rằng ta là Tàu. Đó là tương đồng vay mượn. Chúng tôi sẽ có một chương lớn về dấu vết Mă Lai trong xă hội Việt Nam ngày nay. Nhưng trước khi tŕnh các chứng tích đó và muôn ngàn chứng tích khác như là việc đo sọ, việc đối chiếu ngôn ngữ Hoa-Mă-Việt, chúng tôi nghĩ rằng cần thêm một chương cho những bất tương đồng lớn lao giữa Hoa và Việt để thấy rằng muốn t́m sự thật lịch sử th́ cần khách quan chẳng những làm một biểu danh sách tương đồng, lại c̣n phải bổ túc công việc bằng biểu danh sách bất tương đồng nữa để mà cân nhắc.

Vả lại, như đă nói, những tương đồng mà sử gia nêu ra, toàn là tương đồng giả, tức nó chỉ là vay mượn mà thôi.

Riêng về những bất tương đồng, chúng tôi sẽ chỉ kể những điểm lớn, chớ chuyện vặt th́ bỏ qua, chẳng hạn y phục của ta có bao giờ giống y phục của Tàu hay không, đó là điểm người khác thường đưa ra để căi với sử gia nhưng chúng tôi bỏ qua hết v́ sử gia có thể bảo rằng tại người Việt gốc Hoa họ ăn mặc khác người Hoa là để thích nghi với khí hậu.

Càng chứng minh được rằng Việt không là Trung Hoa, th́ sự chứng minh Việt là Mă Lai, càng được củng cố hơn lên.

Chúng tôi chỉ c̣n những mối bất tương đồng lớn lao, c̣n bao nhiêu cái khác nhau lặt vặt giữa Trung Hoa và ta, chúng tôi bỏ quên đi hết bởi một khi chủng tộc chia thành hai dân tộc th́ họ có thể làm khác nhau chút ít, những sự khác nhau nhỏ mọn đó, không chứng tỏ được cái ǵ, chí như những thứ khác biệt căn bản th́ lại là chuyện khác rồi.

*

*      *

Thắng xong Chiêm Thành lần cuối cùng vào năm 1633, ta không trực trị họ, biến xứ Panduranga thành trấn Thuận Thành, nhưng viên trấn thủ vẫn cứ là người Chiêm Thành. Đó là một người trong quư tộc Chiêm thành hợp tác với ta và lấy tên họ Việt Nam.

T́nh thế đó cứ kéo dài như vậy trên hai trăm năm, có lần họ theo Tây Sơn để đánh lại chúa Nguyễn, nhưng sau đó, dẹp Tây Sơn rồi, chúa Nguyễn chỉ thay đổi quan trấn thủ mà thôi, cũng cứ là một người trong quư tộc Chiêm Thành thân Việt, chớ không hề trừng phạt dân chúng bằng cách trực trị. Cho tới năm Lê Văn Khôi nổi loạn tại Gia Định, viên trấn thủ Chiêm Thành theo Lê Văn Khôi, sau đó Khôi bị dẹp rồi, vua Minh Mạng mới trực trị trấn Thuận Thành. Vua Minh Mạng thấy rằng như thế là ḍng Chiêm Thành bị dứt hẳn nên có lập đền thờ các vua Chiêm Thành bên bờ sông Hương, gần chùa Thiên Mụ, đúng theo truyền thống các vua chúa ta, hễ một trào đại diệt một trào đại khác rồi th́ lập đền thờ ngay, đó là giữ đạo thờ cúng tổ tiên hộ kẻ bị tuyệt tự. Truyền thống nầy bên Trung Hoa chẳng những không có mà trái lại, bên ấy mỗi lần một trào đại lên là đốt cung điện và thái miếu, quật mồ của trào đại trước, họ cố ư mà làm thế, v́ lư do tôn giáo: họ tin rằng làm như thế tức là phá cái phong thủy tốt của địch, phong thủy tốt ấy mà bị tàn phá rồi th́ địch không bao giờ cất đầu lên được nữa cả.

Hạng Vơ đă nói láo khi rêu rao rằng nhà Tần xa xỉ hại dân, nên cần đốt cung điện Tần. Nhưng đốt xong rồi th́ Hạng Vơ, rồi tới các vua nhà Hán lại xây cất cung điện khác, hóa ra dân mắc họa đến hai lần. Sự thật, đó là chiến thuật phá phong thủy của địch.

Ta không có làm như thế, đời vua nào cũng vậy, mà c̣n trái lại nữa. Nguyễn lập đền thờ các vua Lê, Lê lập đền thờ Trần, Trần lập đền thờ Lư, hơn thế Nguyễn c̣n lập đền thờ Chiêm Thành, là ngoại tộc nữa.

Ai cũng nói rằng các vua chúa ta nô lệ Trung Hoa về nghi lễ và phong hóa. Thật ra th́ vua chúa ta xưa chỉ bắt chước tới mức nào đó thôi, nhưng vẫn làm khác, theo t́nh cảm của dân tộc và vấn đề đối xử với các trào-đại-địch nói trên là một bất tương đồng rất quan trọng, bởi ta cũng tin nhảm về phong thủy như Tàu, nhưng vua chúa lại không nỡ làm như vua Tàu th́ hẳn ta không phải là Tàu, không c̣n căi vào đâu được nữa.

Tới đây ta lại tự hỏi tôn giáo thờ cúng tổ tiên có thật quả là tôn giáo hay không, hay Tàu vay mượn của ta. Hiện miền Nam c̣n có một triệu người Tàu mà chúng tôi sống giữa một khu phố toàn là Hoa kiều ở Cầu Ông Lănh, chúng tôi lại giao thiệp với người Tàu Chợ Lớn rất thường. Thế mà vào nhà họ, chúng tôi không bao giờ thấy họ có bàn thờ tổ tiên, trong khi đó th́ trong các gia đ́nh Việt, bàn thờ tổ tiên chiếm vị trí sang trọng nhứt, lại dùng đồ thờ cúng mắc tiền nhứt. Người nghèo dám hy sinh cơm áo để sắm bộ lư đồng, để đóng một cái bàn thờ bằng danh mộc khảm xà cừ, c̣n người Tàu th́ tuyệt đối không có bàn thờ tổ tiên.

Họ cũng không có cúng kiến tổ tiên, không hề làm đám giỗ như ta, trong khi mỗi ngày họ cúng đến hai ba lần những thánh thần bá vơ nào đó, cúng cả mùa màng thời tiết nữa, như cúng Hạ chí, Đông chí, Xuân phân, Thu phân, thần cửa, thần bếp, thần cầu xí, thần tài, cúng cả một người đàn bà bá vơ là bà Thiên Hậu.

Đó là sự thật mà chúng tôi thấy tận mắt từ 50 năm nay, tại miền Nam nước Việt. C̣n đây là sự thật t́m thấy trong sách Tàu.

Xét tôn giáo của Trung Hoa cổ thời, không thấy nói có việc thờ cúng tổ tiên trong dân chúng bao giờ. Sách Lễ kư, thiên Khúc lễ hạ chép: “Thiên tử thờ cúng trời đất, thờ cúng bốn phương (thần đất tại địa phương), thờ cúng ngũ tự; đại phu thờ cúng ngũ tự; kẻ sĩ thờ cúng tổ tiên”.

Không có nói đến lê thứ, tức lê thứ không có thờ ǵ hết mà cũng không được dạy cho thờ ǵ hết.

Ông H. Maspéro bắt được tài liệu cho biết rằng lê thứ cũng thờ thần đất đai với các lănh chúa, cho tới cuối đời Chu th́ các lănh chúa diệt nhau, trở thành quá lớn về đất đai, quá xa dân chúng nên dân chúng cũng không c̣n đi theo các lănh chúa được để mà tế lễ thần đất đai ấy. Thế rồi họ bỏ luôn việc thờ cúng, không có cái ǵ khác thay thế cho nữa cả, cho đến khi Lăo giáo tổ chức hẳn với hệ thống tế lễ rồi th́ dân chúng mới lại có tế lễ nữa.

Câu trên đây không có ư nói rằng thiên tử, chư hầu và đại phu không thờ cúng tổ tiên nhưng lại cho thấy rơ rằng dân chúng không thờ cúng tổ tiên.

Nhưng dân chúng Việt Nam lại thờ cúng tổ tiên, dân chúng Chàm cũng thế (nhưng không quá quan trọng như Việt Nam).

Việc đối xử với các trào đại địch của vua chúa ta, và việc thờ cúng tổ tiên cho thấy rơ hai điều:

1.      Tôn giáo thờ cúng tổ tiên là của ta chớ không phải của Tàu, và kẻ vay mượn là Tàu chớ không phải Việt.

2.      Ta không phải là Tàu, chính v́ ta trọng cả tổ tiên của địch trong khi Tàu th́ đào mồ cuốc mả của địch.


II. Không chôn sống người

Cuộc khai quật kinh đô Trào Ca của vua Trụ năm 1934 ở An Dương (Hà Nam) đă cho bằng chứng không thể chối rằng các vua chúa Trung Hoa chôn sống cung phi và nô bộc theo họ.

Có lẽ quan to của họ cũng đă làm như vậy. Tục ấy măi cho tới đời vua Minh Hiếu Tông mới thấy sử nhà Minh nói là được băi bỏ vĩnh viễn.

Vua chúa và quư tộc Việt Nam không hề tàn nhẫn như thế bao giờ.

Chỉ có một ông vua ta, vua Lư Nhân Tôn là đă chôn sống Hoàng hậu và 72 cung phi, nhưng không chôn theo ông ấy, mà chôn lúc ông ấy mới lên ngôi, chôn để trừng trị tội âm mưu của họ, bà Hoàng hậu ấy không phải là vợ của ông mà là vợ chánh của vua cha, c̣n ông là con của vợ thứ. Mẹ ông là Ỷ Lan phu nhân bị ngược đăi v́ ghen tuông, bị đày ải, nên ông mới báo oán mạnh tay như thế. Nhưng kẻ bị chôn sống cũng chôn ở đất hoang dă nào chớ không phải là chôn chung trong mộ phần của vua cha là Lư Thánh Tôn. Đó là xử tử tội nhân chớ không phải chôn oan v́ lư do tôn giáo như Tàu.

Nhưng đó là trường hợp độc nhứt, không tiền khoáng hậu trong sử ta.

III. Bí mật pḥng trung

Hai chủng tộc khác nhau, có thể vay mượn đủ thứ của nhau, không trừ thứ nào hết, nhưng trừ một món. Đó là những bí mật pḥng trung.

Chuyện bí mật pḥng trung là chuyện mẹ nói với con, ngoài ra không ai có thể biết được hết, kể cả người trong họ.

Như vậy bí mật pḥng trung là chứng tích chắc chắn hơn hết để phân biệt các dân tộc, họ giống nhau về ǵ th́ giống nhưng cứ khác nhau về những việc mà họ không thể biết được để mà vay mượn.

Câu chuyện dưới đây, không lấy ở sách vở nào ra hết, nhưng quư vị có thể kiểm soát bằng một cuộc điều tra kín đáo.

Một bà đỡ thường đi tiếp sanh cho phụ nữ b́nh dân Tàu, có cho biết rằng họ luôn luôn ngồi để đẻ con vào trong một cái chậu bằng gỗ (lâm bồn), ngăn thế nào cũng không được. Họ chỉ rước bà đỡ lấy lệ để nhờ khai sinh cho con họ thôi, v́ họ rất ngại chầu chực cửa công về thủ tục (dĩ nhiên là không kể phụ nữ theo lối mới, đi nhà hộ sinh, chịu theo phương pháp khoa học).

Người đàn bà Việt Nam quê mùa nhứt, cũng chẳng bao giờ đẻ như vậy, mà nhờ bà đỡ thật sự, không có bà đỡ th́ họ nhờ các bà mụ vườn, dầu sao, họ cũng không hề để cho tạo hóa tự làm việc ấy, và họ nằm trên giường cho bà mụ tiếp sanh. Nhà nghèo rớt mồng tơi, ông chồng cũng bỏ công ra tạo cho vợ một cái giường đẻ bằng tre với một cái vạt giường hẳn hoi.

Xem ra th́ sau non ba ngàn năm người Tàu chỉ tiến bộ có một bước rất ngắn mà thôi. Sử Tàu chép rằng mẹ của Khổng Tử cũng đă đẻ ra ngài y hệt như phụ nữ Trung Hoa ngày nay, tức ngồi mà tự đẻ trên một cái vịm (bồn) bằng đất nung.

Họ có tiến bộ là ngày nay họ đẻ trong nhà, trên một cái thùng gỗ, c̣n bà Khúc Lương Ngột th́ phải vào hang núi mà đẻ v́ người Tàu xưa cho rằng máu đẻ là xú khí làm ô uế ngôi nhà.

Và cái thùng gỗ cũng giúp cho đứa trẻ ít đau đầu hơn là vịm bằng đất nung của thời xưa.

Đó là bí mật pḥng trung mà không nhà khảo cứu nào ngờ đến, và c̣n nhiều bí mật pḥng trung khác nữa, mà chúng tôi không dám chép ra đây, tất cả đều chứng minh rằng ta và Tàu khác nhau quá xa về phong tục.

Hai chứng tích trên đây, có thể coi là chứng tích quyết định, bởi đó là chuyện kín mà dân tộc nầy khó ḷng mà bắt chước dân tộc khác, bởi không thấy được phong tục kín của họ, không có tánh cách phổ biến, để người khác vay mượn. Đó là của riêng của một chủng tộc. Chủng tộc khác không thể có được.

 

IV. Cái gối

Người Trung Hoa nằm gối gỗ, gối tre, gối sành, nhà giàu th́ nằm gối bằng sứ Giang Tây. Tưởng trên thế giới, không có dân tộc nào mà có thói quen gối đầu bằng vật cứng như vậy, giữa thành phố, giữa làng mạc. Người khác chỉ bắt buộc phải gối như thế khi nào lạc bước giữa rừng mà thôi.

Nhà nghèo của ta cũng được nằm gối rơm, tức gối may bằng đệm, bên trong dồn trấu.

Và đây là một bí mật pḥng trung nữa, có thể nói ra được, là phụ nữ Trung Hoa dùng đến hai chiếc gối đầu chớ không phải một, v́ mái tóc của họ búi quá công phu, và tốn tiền (phải nhờ thợ) nên các phụ nữ giàu có cũng sợ hư, luôn luôn để lọt búi tóc giữa hai chiếc gối đầu làm bằng vật liệu cứng, v́ vật liệu mềm có thể bị đè bẹp, ph́nh ra, lấn vào trong, chạm phải búi tóc.

 

V. Nuôi con

Người b́nh dân Trung Hoa cho con họ ăn cơm ngay sau khi sanh chúng nó ra, mà không nhai để mớm, không nghiền, không tán như ta, cứ để y nguyên hột cơm, đút từng hột cho một đứa bé mới chào đời chỉ có hai ngày thôi (dĩ nhiên là cứ không kể đến những phần tử theo vệ sinh Âu châu).

Người ḿnh, có quê mùa dốt nát tới đâu, cũng chỉ cho con ăn cơm sau tháng đầu mà thôi, mà đó là cơm do các bà mẹ nhai rồi mớm cho con, chớ không phải cơm nguyên hột.

 

VI. Mặc quần, đội nón, dùng khăn

Người đàn ông Trung Hoa mặc quần trước đời Hán. Đàn ông Việt Nam th́ cho đến đời Ngũ Đại, chưa mặc quần (theo Annam chí nguyện của Cao Hùng Trưng). Có lẽ họ mặc sà rong như hầu hết người Mă Lai ngày nay.

Nhưng cứ bằng vào thuyết của sử gia Nguyễn Phương th́ vào thời Ngũ Đại, người Tàu đă tràn ngập xứ nầy rồi, không c̣n người Lạc Việt nữa, th́ sao đám người Tàu ấy lại không mặc quần th́ thật khó hiểu.

Nông dân Hoa kiều ở miền Nam luôn luôn đội nón đan bằng máy và từ chối nón lá của nông dân ta. Cái nón mây của họ cũng khác nón mây của phu phen Hoa kiều ở thành phố. Nón có khoét lỗ ở giữa, đầu người đội nón phơi gần trọn vẹn dưới nắng. Họ chỉ cần che mắt, che mặt, chớ không che đầu.

Họ vẫn có khăn như ta, nhưng không dùng để chít đầu mà dùng về đủ thứ việc. Đó là khăn ích bụ, h́nh chữ nhựt, ba tấc Tây, trên tám tấc. Dầu sao khăn cũng là một món y phục của họ, sự kiện ấy cắt nghĩa sự hiện diện của danh từ Cân trong ngôn ngữ của họ, nhưng lại đồng thời chứng minh rằng họ dùng khăn khác ta quá xa. Ta dùng khăn để chít đầu, c̣n họ th́ dùng khăn như Tây dùng cái tablier.

Khoa dân tộc học ngày nay thiên về quan sát cảnh đang sống của các dân tộc hơn là nghiên cứu sách vở và những ǵ chúng tôi nói ra trong chương phong tục nầy, đều là những ghi nhận quan sát tại chỗ từ non nửa thế kỷ nầy, nhứt là về cái khăn của người Trung Hoa.

Có thế nào người Trung Hoa sang đây rồi nhiễm phong tục man di, bỏ mũ, chít khăn hay không? Về lư thuyết th́ rất có thể, nhưng theo thực tế th́ không, bằng vào những quan sát tại chỗ ghi chép trên đây.

Họ không nhiễm tục man di v́ tự tôn mặc cảm văn minh hơn ta, mà cũng v́ những tục ấy không đem lại cho họ tiện lợi nào hơn trong đời sống của họ hết. Chít khăn không lợi hơn đội mũ chút nào cả.

 

VII. Dâm phong

Cả hai bộ sách viết cách nhau 1.400 năm, Hậu Hán thư của Phạm Việp và Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán đều chê nước ta nhiều dâm phong. Mặc dầu họ dùng danh từ sai bét, sự kiện họ tả rất đúng sự thật, và sự thật đó chỉ xảy ra ở xứ ta chớ không xảy ra ở bên Tàu trước năm 1911.

Thầy chùa Thích Đại Sán viết: “Kinh Lễ định phu phụ hôn nhơn, nam lo việc ngoài, nữ lo việc trong. Phong tục nước Đại Việt lại trái hẳn, phụ nữ tự do qua lại mua bán, cha mẹ chồng con chẳng lấy thế làm xấu hổ, hiềm nghi”.

Y cho đó là dâm phong.

Trai gái lấy nhau, không theo nghi lễ Tàu, cũng bị Hậu Hán thư cho là dâm phong.

Dầu sao, đó cũng là bằng chứng ta khác họ. Cho tới năm 1911, bên Tàu, đi chợ mua ăn, cũng là đàn ông đi, c̣n nữ th́ khuê môn bất xuất.

Họ gán sai cho ta phong tục dâm dật, đành thế; nhưng sự kiện hiển nhiên là phong tục ta khác họ quá xa, gái tự do đi đứng, không bị nhốt theo lời dạy của Kinh Lễ đời Chu, mặc dầu ta học Kinh Lễ rất thuộc bài.

Thế th́ c̣n ǵ sự tương đồng giữa phong tục gốc của hai dân tộc?

Măi cho đến ngày nay mà trong Chợ Lớn, kẻ đi chợ mua ăn cũng cứ là đàn ông Tàu, chớ không phải đàn bà, mặc dầu người ở đây đă chịu ảnh hưởng Tây phương nhiều lắm rồi.

Tưởng sử gia Nguyễn Phương nên đi du lịch ở nước Tân Gia Ba một chuyến mới được. Ở đó dân Hoa kiều tới đông, đẩy người bổn xứ thành thế thiểu số, rồi dựng lên quốc gia Tân Gia Ba, y hệt như cái nước Giao Chỉ của Đinh Bộ Lĩnh mà sử gia đă tưởng tượng ra (nhưng thật ra th́ không đúng sự thật).

Sử gia sẽ thấy rằng toàn dân Tân Gia Ba đều nói tiếng Tàu giọng Phúc Kiến.

Rồi sử gia về Sài G̣n, nghe lại xem dân Huế, dân Sài G̣n có nói tiếng Tàu giọng Phúc Kiến, Quảng Đông hay chăng. Sử gia quả quyết rằng dân Việt Nam cũng nói tiếng Tàu.

Rồi mời sử gia đọc chương Ngôn ngữ tỷ hiệu ở sách nầy mà xem, sử gia sẽ thấy rằng dân ta nói tiếng Mă Lai, kể cả sử gia cũng nói tiếng Mă Lai nữa.

Trong câu ngắn sau đây: “Ta lấy nỏ bắn chim, làm rụng lá”, cả tám tiếng đều là tiếng Mă Lai đấy, tiên sinh ạ!

 


D. Nước Tây Âu mơ hồ và Tượng Quận bí mật

Ở chương “Nam Việt, một đợt thực dân dọn đường”, sử gia Nguyễn Phương trích Tư Mă Thiên cho rằng Tần Thỉ Hoàng đă đưa côn đồ tù tội đến Tượng Quận để đẩy dân bổn xứ vào thế thiểu số.

Ba nhà bác học H. Maspéro (1918), L. Aurousseau (1923) và Trần Kinh Ḥa (1960) đă cố chứng minh rằng nhà Tần có đánh và đă chiếm được Cổ Việt, và Tượng Quân đích thị là Tây Âu và Cổ Việt.

Câu sử về trồng người của Tư Mă Thiên được rất nhiều cổ thư khác xác nhận và ta có thể xem là đúng sự thật. Nếu thuyết của hai ông Tây và ông Tàu mà đúng th́ hóa ra thuyết di cư ồ ạt của sử gia Nguyễn Phương được củng cố thêm rất mạnh, dựa vào Tư Mă Thiên và ba ông kia.

Thật vậy, nếu:

Tây Âu =          Cổ Việt Nam

Tượng Quận =            Cổ Việt Nam

Mà:     Tần Thỉ Hoàng trồng người ở Tây Âu và Tượng Quận.

Th́:     Thuyết Nguyễn Phương rất đúng.

Nhưng các ông Tây và ông Tàu đều sai.

Có một môn học rất quan trọng đối với cổ sử học, đó là môn địa lư cổ thời. Nhưng xem ra người Trung Hoa và ta, rất mơ hồ về môn đó.

Các sử gia ta xưa coi thường khoa địa lư cổ thời quá sức nên gây rối trong sử học, và tinh thần đó, tới nay c̣n sống sót trong quá nhiều cuốn sử.

Viết về quan mục tên là Chu Ngang (178 S.K.) tham nhũng nên dân nổi loạn, nhà danh nho Lê Văn Hưu, tác giả Đại Việt Sử Kư, than: “Những viên thứ sử Tàu không có nết thanh liêm, làm cho (dân ta) khốn đốn, đất Bắc Kinh xa thẳm, không c̣n kêu vào đâu được”.

Ấy, làm ǵ kêu với Bắc Kinh được vào năm đó, v́ thành Bắc Kinh, cho tới 1086 năm sau, mới được xây cất:

Không ai buồn t́m nước nầy ở đây, nước kia ở chỗ nào và bằng mấy mươi quyển sử lớn đều cho rằng Tây Âu là nước Việt Nam và Tượng Quận nằm trong đó, bởi sử Tàu gọi là dân Tây Âu bị Tàu đánh là dân Việt.

Họ quên mất rằng có tới Bách Việt lận, và khi mà Tàu nói đến Việt, không hẳn nói đến ta.

Các ông Tây cẩn thận hơn, nhưng v́ các ông làm việc cho vấn đề Tây Âu và Tượng Quận sai nguyên tắc khoa học, nên rồi không ai định được vị trí của Tây Âu, Âu Lạc và Tượng Quận cho đúng hết.

Vị trí Tây Âu và Tượng Quận bị sử Tàu, sử Việt lầm nát hết, nhưng mỗi sách lầm một cách khác.

Nhà Tần diệt ba quốc gia, xin nhớ là ba chớ không phải bốn, là Đông Âu, Mân Việt và Tây Âu, rồi chia các quốc gia đó thành quận, huyện. Ở Đông Âu và Mân Việt th́ rơ ràng, c̣n ở Tây Âu th́ rối nùi.

Mà sở dĩ có rối ren ở Tây Âu là tại Chu Khứ Phi và Cố Hy Phùng nói bướng rồi ta và Tây lặp lại, chớ cổ sử Tàu th́ rất rơ ràng, nhưng không ai chịu đọc kỹ hết.

Sử Tàu chép rằng họ chia nước Tây Âu thành ba quận: Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận.

Nên nhớ, họ chỉ chia nước thứ ba mà họ chiếm được thành ra ba quận, chớ không hề chia nước thứ tư v́ cái lẽ giản dị là họ không có chiếm được cái nước thứ tư đó.

Nhưng các ông lại lầm lẫn thô sơ mà cho rằng cái nước thứ ba ấy là nước của ta.

Một cậu học tṛ lớp dự bị mà thông minh cũng biết được rằng không thể nào mà nước Tây Âu là nước của ta, khi cậu ấy thấy mấy cái quận trong đó. Nội một quận Nam Hải không mà thôi, tức tỉnh Quảng Đông nay, cũng đă to hơn nước của vua Hùng Vương và vua An Dương Vương rồi, th́ nước ta làm thế nào mà chứa nổi đến ba cái quận khổng lồ là Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận được?

Nhưng các ông cứ tin là thế v́ các ông tin rằng nước của vua Hùng và vua An Dương Vương to lắm, ăn lên tới trên xa, và hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây là của ta (thế nên Nguyễn Huệ mới định đ̣i lại hai tỉnh đó).

Vậy, nay ta học lại một cách khoa học xem Lưỡng Quăng có phải là của ta hay không, mặc dầu có tới một trăm bằng chứng rằng nước của vua Hùng Vương chỉ là Bắc Việt nay mà thôi.

Nam Hải là tỉnh Quảng Đông ngày nay, Quế Lâm là tỉnh Quảng Tây ngày nay mà cổ dân c̣n sống sót ở đó đến ngày nay: đó là người Thái. Như thế, nếu có bí, có lầm th́ chỉ lầm về Tượng Quận mà thôi. Ấy thế mà bao nhiêu học giả danh tiếng lại cứ nói và cứ cố chứng minh rằng nước Tây Âu là cổ Việt Nam.

Trước hết, xin nói rơ rằng Tàu gọi nước đó là Tây Âu, mà không hề gọi Cổ Việt Nam là nước Tây Âu. Vậy là có hai nước chớ không phải là một. C̣n dân? Ở một chương sau chúng tôi sẽ trưng bằng chứng dân Tây Âu là dân ǵ, thuộc chủng nào, hiện nay tồn tại hay không. Họ tồn tại và không phải là Việt Nam, v́ thế mà Tàu mới chỉ họ bằng tự dạng Việt bộ Mễ c̣n chỉ ta bằng tự dạng Việt Vượt.

Người Việt lầm th́ c̣n hiểu được v́ trong ngôn ngữ ta Việt nào cũng viết như nhau, chí giáo sư đại học Trần Kinh Ḥa là người Trung Hoa, lại cũng lầm th́ thật là khó hiểu, khi mà cổ sử Tàu viết hai chữ Việt khác nhau. Tây Âu hay Âu Việt viết với tự dạng thứ nh́, c̣n Việt Nam th́ viết với tự dạng thứ ba và thứ tư, th́ làm thế nào mà

Tây Âu = Cổ Việt Nam

cho được.

Nhưng ta tạm dẹp Tây Âu lại, để nói về Tượng Quận trước đă.

Chính trí thức Tàu những đời Đường, Tống, Minh, Thanh cũng chẳng biết Tượng Quận ở đâu, chỉ biết rằng nó là phần đất thứ ba của nước Tây Âu, sau hai đất Nam Hải và Quế Lâm.

V́ không biết nên họ gán ghép liều. Thoạt tiên, một ông Tàu, Cố Hy Phùng, cho rằng Tượng Quận là Nhựt Nam. Nhưng viết liều như vậy đă là tạo ra một mâu thuẫn lớn quá rồi, nhưng không hiểu sao cứ sách nầy chép lại sách khác y hệt như vậy mà truyền cho tới ngày nay.

Quả thật thế, trong việc phân chia đó, ta không thấy có mặt Giao Chỉ và Cửu Chơn, Nam Hải là Quảng Đông, Quế Lâm là Quảng Tây. Thế nhà Tần có chiếm Giao Chỉ, Cửu Chơn hay không? nếu có th́ hai nơi đó biến đi đâu mà không có mặt trong cuộc phân chia thành quận, huyện?

Bằng như không có chiếm th́ làm thế nào nhà Tần lại chiếm Nhựt Nam ở dưới xa, để đặt thành Tượng Quận?

Các ông Tàu không bao giờ suy luận như vậy hết. Các ông Việt cũng thế. Các ông Tây th́ biết, nhưng suy luận xong, các ông Tây bí quá. Làm thế nào mà không có chiếm Giao Chỉ lại chiếm được Nhựt Nam để đặt tên là Tượng Quận, trong khi nhà Tần chưa có thủy quân đáng kể?

Các ông Tây không dám bịa là An Dương Vương đă cho nhà Tần mượn đường để đi chinh phục Nhựt Nam, v́ sử Tàu không có chép điều ấy. Vả lại đó là một giả thuyết quá vô lư. Tần Thỉ Hoàng tham bạo như vậy th́ không thể nào y tha cho An Dương Vương, chỉ mượn đường mà thôi

Đang bí, các ông Tây rất vui mừng mà gặp tay Tống Nho Chu Khứ Phi gỡ rối cho các ông.

Chu Khứ Phi viết rằng: Tượng Quận = Giao chỉ

Hẳn họ Chu thấy các sử trước lầm một cách quá lộ liễu nên dời Tượng Quận lên trên. Mà như vậy lại càng chứng tỏ rằng không ai biết Tượng Quận ở đâu cả, mạnh ai nấy bịa.

Đến đời nhà Lê của ta th́ Ngô Sĩ Liên đă điên đầu rồi nên ḥa giải bằng cách cho rằng Tượng Quận là xứ Annam, ông không dại mà nói quá rơ cho sai, ông ngỡ gộp lại như thế th́ không c̣n làm sao mà sai được, lại hữu lư hơn ông Tàu là Cố Hy Phùng nhiều lắm.

Đến trào Nguyễn, các quan viết Khâm Định Việt Sử, thấy rằng vẫn cứ c̣n lôi thôi về Tượng Quận nên lại phịa thêm ra nữa là Tượng Quận vốn là đất của bộ Việt Thường trước đời Tần, bộ nầy nhà Tần hợp với Cửu Chơn làm ra Tượng Quận.

Đó là dựng đứng lên cả một cái xứ, chớ cổ sử Trung Hoa chỉ nói đến thị tộc Việt Thường, mà như vậy là tên dân chớ không phải tên xứ và tên bộ nào hết, nhưng họ cũng không biết dân đó ở đâu, chỉ thấy dân đó tới cống cho vua Chu Thành Vương nhưng vua ấy không nhận lễ v́ Hoa chủng và thị tộc đó chưa hề giao hiếu với nhau lần nào.

Đến cuối đời Đường, một huyện ở Hoan Châu (Nghệ An, Hà Tĩnh) mới được mang một tên mới, là huyện Việt Thường, người đặt tên chỉ đặt phất phơ, chớ không phải là dựa vào sử liệu nào cho biết Nghệ An nay là Việt Thường xưa. Vả lại nếu Tượng Quận là Nghệ An th́ Giao Chỉ biến đi đâu chớ, trong việc phân chia thành quận, huyện dưới đời Tần?

Chính Tư Mă Thiên cũng không biết thị tộc Việt Thường ở đâu nên chi ông viết rằng dân ấy muốn về nước, phải đi ngang qua nước Phù Nam, rồi nước Lâm Ấp.

Cứ theo cái hướng mà Tư Mă Thiên chép th́ trên lộ tŕnh của dân Việt Thường, họ gặp Phù Nam trước, mà như vậy th́ nước Tàu phải ở… bên Tây. Nhưng làm thế nào mà nước Tàu lại ở bên Tây được?

Vào thời Tư Mă Thiên th́ người Tàu đă biết Phù Nam và Lâm Ấp rồi, thế mà nhà sử lớn của họ c̣n sai lầm lớn lao như vậy th́ hẳn không ai biết Việt Thường ở đâu. Nhưng Tư Mă Thiên chỉ không biết chớ không có bịa.

Chính người đời sau là Trịnh Tiều mới bịa rằng câu chuyện ấy xảy ra dưới đời Nghiêu Thuấn và cũng được rất nhiều sách ta chép lại.

Tóm lại, không có xứ Việt Thường nào cả, c̣n dân Việt Thường mà Tư Mă Thiên nói đến th́ không ai biết họ ở đâu, kể cả Tư Mă Thiên.

*

*      *

Nước Tây Âu và nước Âu Lạc cũng nát bét v́ các ông Tàu, ông Việt, ông Tây.

(Thật ra th́ đó là các ông Tàu đời sau nói sai, chớ các ông đời Hán có cho biết đúng sự thật).

Dư địa chí của Cố Hy Phùng lại khẳng định rằng Tây Âu = Giao Chỉ.

Đại Việt Sử KưKhâm Định Việt Sử thấy cái gương Tượng Quận đă hoảng rồi, nên tránh nói đến địa danh Tây Âu, mặc dầu đó là quốc gia hùng mạnh nhứt ở đất Ngũ Lĩnh vào thuở ấy, đương đầu với quân nhà Tần suốt ba năm và làm cho nhà Tần điêu đứng và giết được Tổng tư lệnh của quân đội Tần nữa (Hoài Nam Tử).

Ngô Sĩ Liên hơi can đảm một tí, dám nói đến địa danh Âu Lạc nhưng lại cho đó là quận Thương Ngô, một quận mà các sách đời Hán đă cho biết một cách đích xác rằng nằm giữa Quảng Tây và Vân Nam, ở trên lằn mức Phiên Ngung, tức hoàn toàn ở bên Tàu, chớ không dính líu ǵ tới sông Nhị Hà và thành Cổ Loa cả. Nhưng sau khi nói như vậy, ông liền viết ngay tức khắc một điều rất là mâu thuẫn: Lộ Bác Đức để nguyên hai quận Giao Chỉ và Cửu Chơn (tức Âu Lạc) nhưng lại lập ra ngay một quận mới là Thương Ngô.

Cái mới là kỳ dị! Âu Lạc là Thương Ngô ở ḍng trên th́ tại sao ḍng dưới Âu Lạc c̣n nguyên vẹn, mà lập thêm được Thương Ngô, với đất nào? Nếu với đất khác th́ Âu Lạc không phải Thương Ngô, c̣n như xén đất của Âu Lạc, làm ǵ có được sự kiện để nguyên Âu Lạc?

Các sử gia ta xưa đều có đọc sử Tàu, cũng biết phê phán, biết sử dụng sử liệu khá đúng cách, nhưng không hiểu sao về giai đoạn Tần – Hán th́ các ông lại quá bê bối.

Thí dụ về đảo Hải Nam, năm 111 T.K., Lộ Bác Đức không bao giờ đánh chiếm được đảo Hải Nam cả, sử nhà Hán đă thú nhận như thế, đảo đó, sau năm 50 mới bị đánh lại lần nữa và mới chiếm được.

Ngô Sĩ Liên và Ngô Th́ Sĩ viết rằng nhà Hán diệt Triệu Đà rồi th́ chia phương Nam làm 9 quận, trong đó có Châu Nhai, Đam Nhỉ (Hải Nam).

Sự thật th́ nhà Hán chỉ chia phương Nam ra thành 7 quận mà thôi v́ Hải Nam chưa chiếm được, có đâu để làm 9 quận?

Tới cai trị ta, các nhà Nho Tây đọc sử Tàu và sử ta, quá nhức đầu về những cuộc trống đánh xuôi kèn thổi ngược về địa danh, nó rất trái với tinh thần thích biết đích xác của họ, nên họ đi t́m. Nhưng họ vẫn hoàn toàn thất bại, v́ hai nhà Nho Tây làm cái công việc đó, lại thiếu căn bản khoa học.

Sử gia Nguyễn Phương không hề có nói rằng ḿnh hiểu như các ông Tây. Nhưng ông trích câu sử của Tư Mă Thiên về việc trồng người làm ǵ? Nếu không có mục đích ngầm chứng minh bằng tài liệu Tư Mă Thiên, qua trung gian của H. Maspéro và L. Aurousseau.

Ở đây chúng tôi chỉ bác bỏ các ông Tây và các ông Tàu là đủ rồi, như sử gia Nguyễn Phương có hậu ư chứng minh qua trung gian hai ông Tây th́ sử gia sẽ bị bác bỏ gián tiếp vậy.

*

*      *

Tưởng nên nói đến ông H. Maspéro trước v́ ông là người phất cờ tiên khởi đi t́m Tượng Quận, Tây Âu và Âu Lạc năm 1918, rồi sau đó th́ một trận bút chiến nổi lên, vô cùng sôi động giữa các nhà bác học Pháp, Hoa, Nhật, Việt. Người xưa viết sai th́ êm rơ, c̣n người nay th́ bị rầy rà. Nhưng tất cả những ông kể trên đây, cự nhau dữ lắm mà rốt cuộc ông nào cũng sai, lại c̣n làm rối loạn hơn cổ nhân nữa, thế nên ta lại phải xét lại từ người cổ đến người kim.

Có đến hai Tượng Quận, Tượng Quận thứ nhứt do nhà Tần đặt ra, Tượng Quận thứ nh́ là Tượng Quận đời Hán, cũng đă tách làm đôi Tượng Quận đời Tần, phía dưới, vùng giáp ranh Giao Chỉ, đặt tên là quận Thương Ngô, phía trên, giữ tên cũ là Tượng Quận. Nhưng cái Tượng Quận đời Hán nầy th́ vài mươi năm sau bị nhập vào Quư Châu và Quảng Tây, tức bị bỏ luôn.

Ai muốn biết rơ những cổ thư nào đă cho biết đích xác như vậy, xin xem bộ tạp chí Lục đồng biệt lục xuất bản tại Tứ Xuyên, bộ 1946 th́ rơ.

Trong trận thế chiến thứ II, Tưởng Giới Thạch chạy vào đó để kháng Nhựt, trí thức Trung Hoa cũng chạy theo và những tạp chí văn hóa lớn đều xuất bản ở Tứ Xuyên. Nhà bác học Trung Hoa Lăo Cán đă nghiên cứu kỹ về hai Tượng Quận đó, bằng vào các cổ thư Trung Hoa đời Hán.

Thế mà các nhà nho ta, thuộc làu Bắc sử, sao cứ cho là Tượng Quận = Giao Chỉ.

Xét ra th́ lư do lầm lẫn nầy bắt nguồn ở hai nghĩa khác nhau của danh xưng Giao Chỉ. Lộ Bác Đức diệt nước Nam Việt của Triệu Đà rồi th́ gộp tất cả các thuộc địa mới ở vùng đó lại và gọi chung tất cả các nơi là Giao Chỉ.

Tượng Quận quả thật ở trong cái Giao Chỉ đó. Nhưng đến đời Tam Quốc th́ Tàu tách đặt Giao Chỉ ra làm hai, phần trên lấy tên là Quảng Châu, phần dưới là Giao Châu. Trong Giao Châu có Giao Chỉ (Bắc Việt), Cửu Chơn và Nhựt Nam.

Các sử gia nói rằng Tượng Quận ở trong Giao Chỉ th́ đúng, nhưng mà quên mất rằng cái Giao Chỉ ấy có cả Lưỡng Quăng và một phần Quư Châu trong đó, cứ bị ám ảnh rằng Giao Chỉ thứ nhứt ấy cũng cứ là Bắc Việt.

Có người c̣n có cảm giác rằng Lưỡng Quăng cũng là của Hùng Vương và An Dương Vương nữa th́ Giao Chỉ I hay Giao Chỉ II cũng đều là của ta. Nhưng rồi ta sẽ thấy rằng Lưỡng Quăng là của dân khác và danh xưng Giao Chỉ I không có trỏ Cổ Việt Nam.

Đời Tam Quốc tách rời ra làm hai, rất có lư do, v́ hai thứ dân khác nhau mà chịu chung một chánh sách th́ rất khó cai trị.

Tất cả lầm lẫn đều do hai cái Giao Chỉ khác nhau ấy mà ra.

Danh xưng Giao Chỉ I thọ không tới hai trăm năm, c̣n danh xưng Giao Chỉ II thọ quá lâu đời, nên tất cả đều cứ biết có Giao Chỉ II, và hễ nói đến Giao Chỉ là nghĩ ngay đến Bắc Việt.

Như vậy không hẳn là Cố Hy Phùng và Chu Khứ Phi đă lầm, v́ hai ông đó nói đến Giao Chỉ I, chính Tây và ta mới lầm khi tưởng Giao Chỉ I là Giao Chỉ II, và cứ cho rằng Tây Âu, Tượng Quận là đất của ta, quan niệm ấy chỉ đúng có non hai trăm năm, rồi khi không c̣n đúng nữa, hay nói cho minh bạch hơn, chỉ đúng vào thời mà tất cả thuộc địa mới của nhà Hán đều được gọi là Bộ Giao Chỉ, mà không đúng khi danh xưng mất nghĩa là BỘ, chỉ c̣n là QUẬN mà thôi, và quận ấy thu hẹp lại ở Bắc Việt chớ không gồm Tây Âu, Tượng Quận nữa.

Tưởng bài nghiên cứu của Lăo Cán là đủ lắm rồi, v́ ông ấy nói có bằng chứng hẳn ḥi, chớ không đoán ṃ, nhưng ta cũng cần xét qua các cuộc đoán ṃ của Tây, Tàu, Nhật, Việt v́ chúng tôi đă vạch ra sự khác biệt nhau về hai danh xưng Giao Chỉ rồi mà có người cứ c̣n tin rằng:

Cổ Việt = Tượng Quận

Cổ Việt = Tây Âu

Sự sai lầm, trong đoạn nầy, thật là rối như mớ ḅng bong v́ có nhiều sách ta vẽ một bức dư đồ mà trong đó từ Lưỡng Quăng cho tới Huế đều bị mang một cái tên độc nhứt là Tượng Quận.

Họ quên mất rằng Tượng Quận chỉ là một cái quận nhỏ trong vùng đất lớn ấy và nếu có lầm lẫn th́ chỉ nên lầm lẫn bằng cách nầy là gọi là vùng lớn đó là Giao Chỉ bộ, theo lối gọi sau năm 111 TK, chớ sử Tàu không có bao giờ mà định vị trí Tượng Quận kỳ khôi như vậy.

Họ Chu và họ Cố nói rằng Tượng Quận, hoặc Tây Âu ở trong Giao Chỉ là trong cái Giao Chỉ I đó, chớ không bao giờ nói rằng tất cả đều tên là Tây Âu, tên là Tượng Quận.

Sử Tàu xưa viết tắt rất nhiều sự kiện khiến người không nh́n kỹ vào đó, cứ gán chỗ nầy cho chỗ kia, họ không nói rơ là có đến hai danh xưng Giao Chỉ thuộc vào hai thời kỳ cách nhau ba trăm năm, và Giao Chỉ I và Giao Chỉ II khác xa nhau một trời một vực. Tuy nhiên, đọc kỹ vẫn thấy được sự thật ở đâu.

Xin nhắc lại là danh xưng Giao Chỉ I, liền sau 111 T.K. gồm có Tây Âu, Tượng Quận, c̣n danh xưng Giao Chỉ II th́ chỉ trỏ có Bắc Việt mà thôi. Khi sách vở nói Tượng Quận, Tây Âu nằm trong Giao Chỉ, là trỏ Giao Chỉ I đấy, nhưng ta lại cứ bị Giao Chỉ II ám ảnh, Tây cũng thế, nên mới rối ren hết về giai đoạn sử thời đó.

Sự lầm lẫn của ông H. Maspéro, mặc dầu quá rơ ràng, không thể chối căi được, nhưng không gây hại. Chính các ông khác, đặt Tượng Quận ở Việt Nam mới là làm xáo trộn tất cả.

Thật là khổ cho các ông Tây, theo Chu Khử Phi th́:

Giao Chỉ = Tượng Quận

Theo Cố Hy Phùng th́:

Giao Chỉ = Tây Âu

Như vậy, theo phép tam-đoạn-luận th́:

Tây Âu = Tượng Quận

Nhưng sử Tàu lại bảo rằng:

Tây Âu = Nam Hải + Quế Lâm + Tượng Quận th́ mới làm sao đây?

Vậy các ông chỉ c̣n một cách là cố nhét Giao Chỉ và Tượng Quận vào trong đám địa danh rối loạn ấy, bằng cách ngụy tạo sử liệu, chớ c̣n biết làm sao nữa bây giờ.

Chính tại L. Aurousseau mà rồi sau năm 1945 vài quyển sử Việt, dựa theo ông để cho rằng:

1.      An Dương Vương là tù trưởng Cao Bằng.

2.      Trạch Hu Tống là Hùng Vương thứ 16.

3.      Trạch Hu Tống là An Dương Vương.

Trước khi 72 trang bản thảo cứu của ông L. Aurousseau ra đời, sử ta tuy cũng có sai về đoạn đó, nhưng chưa bao giờ loạn như từ L. Aurousseau.

Người Âu châu họ không chịu được cái ǵ mơ hồ nên ông L. Aurousseau ư thức được tầm quan trọng của Tượng Quận, đả kích phái đối lập H. Maspéro bằng câu sau đây: “Nếu Tây Thiểm Tây của ông H. Maspéro về Tượng Quận mà được nhận th́ hậu quả trầm trọng của thuyết ấy đối với sử địa cổ thời Việt Nam thật tai hại”.

Ta cũng ư thức như ông L. Aurousseau, nhưng ta nói trái lại, ta thay tên ông H. Maspéro bằng tên của ông L. Aurousseau v́ thuyết của ông L. Aurousseau sai hơn và làm rối loạn cả đoạn cổ sử ấy của ta.

Ông H. Maspéro đặt Tượng Quận ở bên Tàu, th́ không có hại ǵ cho sự hiểu lầm về cổ sử Việt Nam hết, c̣n ông L. Aurousseau gọi Tượng Quận là Bắc kỳ th́ một sự kiện lịch sử lớn là nguồn gốc dân tộc Việt Nam phải bị sai lạc.

Thuyết L. Aurousseau nguy hiểm hơn những lời khẳng định sai của sử Tàu và Việt v́ Tàu và ta chỉ khẳng định suông, không được ai tin bao nhiêu, c̣n ông L. Aurousseau th́ có chứng minh, khiến người yếu bóng vía và thiếu phương tiện kiểm soát, có khuynh hướng tin theo.

Năm 1923, cũng cứ trong tập kỷ yếu BEFEO, mà ông H. Maspéro đă tŕnh bày năm 1918, ông L. Aurousseau bỏ ra đến 72 trang báo lớn để t́m Tượng Quận, Tây Âu và Âu Lạc, bằng cách ngụy tạo sử liệu:

Ông viết: “Mặt khác chúng ta biết rằng những cuộc Nam xâm của nhà Tần bắt đầu từ năm 221 T.K. bằng cuộc viễn chinh đi qua Ngũ Lĩnh và những cuộc Nam xâm ấy kết thúc năm 214 T.K. với sự thành lập ba quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận. Hai quận đầu đă được biết và được định vị trí tại tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây (ngày nay), chỉ c̣n quận thứ ba, tức Tượng Quận.

Người ta lại biết, nhờ các cổ thư như Sử Kư và Tiền Hán thư, thời điểm chinh phục những vùng đất Tây Nam (của Trung Hoa) như Quư Châu, Vân Nam v.v. xảy ra sau Tần Thỉ Hoàng đến một thế kỷ. Những vùng nầy phải được đặt ra ngoài vấn đề. Vậy th́, Tượng Quận chỉ có thể ăn vào những xứ Annam (ư tác giả muốn chỉ Bắc Việt và Bắc Trung Việt). Chính những xứ nầy, cũng cứ theo cái cổ thư trên, đă bị nhà Tần chinh phục vào thời 221-214.

Lối thấy trên đây được quyển Hoài Nam Tử, thế kỷ thứ Hai trước Tây lịch xác nhận, trong cổ thư đó có chép trận đánh 221-214 trong đó một lănh chúa Bắc Kỳ tên là Trạch Hu Tống tử trận. Vậy không thể c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Cái quận ở cực Nam mà Trung Hoa đặt ra năm 214 giống hệt như các xứ Annam bị chinh phục, cũng cứ bởi những người Tàu đó vào những năm 221-224. Thế th́ cái chữ Tượng chỉ cái quận đó, đích thị là cái tiếng Tàu đă được đặt cho các xứ Annam năm 214”.

Thoạt trông, coi có vẽ chặt chẽ lắm, chính v́ thế mà ông L. Aurousseau cứ nói măi là “chắc chắn như vậy”.

Nhưng thật ra th́ rất sai, bởi không hề có cổ thư Trung Hoa nào nói rằng “Các xứ Annam đă bị nhà Tần chinh phục vào thời 220-214” hết, như ông L. Aurousseau vừa nói. Riêng Lưu An, tác giả Hoài Nam Tử, th́ lại không bao giờ có nói rằng Trạch Hu Tống là lănh chúa của Bắc kỳ. Họ Lưu chỉ viết: “Người ta (tức quân Tần) giết được Trạch Hu Tống, vua của nước Tây Âu. Ông L. Aurousseau tự ư thêm hai chữ “Bắc Kỳ” sau địa danh Tây Âu, rồi nói: “Đó, Lưu An đă nói rằng Bắc Kỳ đă bị chiếm”. Đó là cuộc nguỵ tạo thứ nhứt, bằng chữ nghĩa, lại bằng “phụ đề”. Bằng chữ nghĩa là sự tự ư thêm hai tiếng “Bắc Kỳ”, c̣n bằng phụ đề là giải thích càn rằng giết lănh chúa, tức là chiếm nước. Giết lănh chúa, không bao giờ có nghĩa là chiếm nước, và sự thật th́ theo Hoài Nam Tử, vua Trạch Hu Tống bị giết rồi, dân chúng Tây Âu cứ tự động tổ chức để đánh lại Tần mà không cần ông vua nào nữa cả.

“Sát Tây Âu quận Trạch Hu Tống, nhi Việt nhơn giai nhập tùng bạc trung dử cầm thú xứ, mạc chỉ vi Tần cứ, tương trí kiệt tuấn dỉ vi tướng, vi dạ công Tần nhơn, đại phá chi, sát Uất Đồ Thư phục thi lưu huyết sổ thập vạn, năi phát trương tức dỉ bị chi…”.

Tạm dịch: “Quân Tần giết vua Trạch Hu Tống của người Tây Âu rồi th́ dân Việt bèn vào rừng sống với cầm thú, không theo Tần, lại cùng nhau tôn các tay anh hùng để cho làm tướng và về đêm ra đánh quân Tần, và thắng lớn, giết cả tổng tư lịnh Tần là Uất Đồ Thư, máu chảy, thây chất, có đến một trăm ngàn quân Tàu bị sát hại v.v.”.

Có lẽ ông L. Aurousseau ngỡ rằng quyển sách không danh tiếng và khó t́m là quyển Hoài Nam Tử, không ai có, không ai được đọc, ông tha hồ vẽ rắn thêm chơn. Chúng tôi đă phải nhờ người đi Đài Loan mua quyển Hoài Nam Tử để xem lại, v́ không t́m được sách ấy ở Sài G̣n. Làm ǵ có danh xưng Bắc Kỳ vào thế kỷ thứ II? Nhưng chung quy cũng chỉ v́ tất cả các ông và ông L. Aurousseau đều không biết địa lư cổ thời của vùng Ngũ Lĩnh và không biết chủng tộc học về các thứ dân ở vùng đó, nên mới gán liều lĩnh nơi nầy vào nơi khác.

Hai yếu tố quan trọng ấy, địa lư cổ thời và chủng tộc học cổ thời, sẽ được tŕnh bày vài trang sắp tới với cả những cổ thư Trung Hoa không viết liều.

Mặc dầu đă ngụy tạo hai lần, bằng chữ nghĩa và bằng giải thích, ông Aurousseau vẫn chưa hạ nổi Tây Âu. Ông tiếp tục tấn công thêm nước đó.

Và ông L. Aurousseau lại nguỵ tạo nữa. Trong câu sử trên, Lưu An nói rơ ràng là Vua Trạch Hu Tống, nhưng ông Aurousseau lại dịch ra là lănh chúa (chef féodal).

Ông là giáo sư Hán văn th́ không thể bảo rằng ông không hiểu danh từ Quân. Nhưng ông dịch sai là cố ư ngụy tạo vậy.

Tàu rất khinh man di. Nếu man di có vua, họ cũng t́m cách hạ vua man di xuống chức chúa, tức thấp hơn vua một bực. Khi mà một ông vua Tàu (Lưu An, tác giả Hoài Nam Tử là một ông vua đấy) nh́n nhận rằng nước Tây Âu có vua, th́ ta phải tin Lưu An một ngàn phần trăm.

Tưởng cũng nên định nghĩa rơ về các danh từ Vương, Quân, Chúa, Lănh chúa v.v.

Cho tới đời nhà Chu th́ chỉ có Vương, trên Vương không có ai cả. Đó là Vua. Nhưng các lănh chúa bên Tàu lại tự ư xưng Vương khi nhà Chu suy vi. Đó là vua tiếm xưng, nhưng vua thật sự là vua nhà Chu v́ quá yếu, đành để vậy. Hóa ra trong nước Tàu có lu bù Vương. Đó là h́nh thức ly khai thành nhiều tiểu bang vậy, và đă là tiểu bang th́ có quyền tự xưng Vương.

Thí dụ: An nam quốc vương.

Chợt Tần vương, một ông vua của tiểu bang Tần, đánh dẹp cả và thống nhứt nước Tàu. Đáng lư ǵ trở về chức Vương cũ, ông ta lại thấy Vương bị hoen ố rồi, nên xưng Đế, và chia nước Tàu ra thành nhiều tỉnh gọi là quận, không c̣n vua chư hầu nào hết.

Nhà Tần sụp, nhà Hán lên, thấy rằng nước Tàu quá lớn, nhiều tỉnh hóa ra ở quá xa trung ương không đủ sức tự vệ mà cũng không đủ quyền uy để trị dân, thế nên mới tái lập chế độ chư hầu nửa chừng, tức lập ra một số chư hầu lớn và một số tỉnh nhỏ, các tỉnh ấy cũng cứ được gọi là quận như đời Tần.

Đứng đầu chư hầu, không c̣n là Công, Hầu, Bá ǵ nữa, mà là Vương, v́ Vương đă lên Đế rồi.

Vậy Vương là vua chư hầu của một tiểu bang Tàu một trăm phần trăm. Thí dụ Lưu An, tác giả câu sử trên đây, là ông vua của vùng Nam sông Hoài, với chức Hoài Nam Vương, tác giả của sách Hoài Nam Tử.

Nhưng lại c̣n có những kẻ đứng đầu những nước ngoại chủng mạnh, th́ mới gọi bằng ǵ đây? Không thể gọi họ là Vương, v́ họ kém hơn Vương của Tàu về sự quan trọng, dưới con mắt người Tàu.

Danh xưng Quân được dùng để gọi những ông vua ấy. Thí dụ Tây Âu Quân là vua nước Tây Âu, một nước độc lập chớ không phải là chư hầu. Nhưng vua của người ta th́ Tàu lại không cho là xứng đáng tước Vương mà chỉ được gọi là Quân mà thôi.

Thật ra th́ trong nghĩa tổng quát ở bên Tàu, Quân cũng cứ là vua y như Vương, Đế, nhưng riêng trong giai đoạn sử nầy th́ Tàu phân biệt như thế đó và sau nữa, các vua đời sau cũng phân biệt như vậy.

C̣n Chúa? Chúa dùng để chỉ vua của những nước ngoại quốc xa lạ, nó có nghĩa là vua một nước mà quyền uy không được người Tàu biết rơ là to tới đâu, và người Tàu cũng không xem là đáng kể cho lắm.

ChúaQuân chỉ khác nhau có thế, dưới đời Tần cả hai đều được xem là vua, nhưng Tàu không xem trọng nên không gọi là Vương. Và Quân vẫn được xem hơn Chúa v́ có liên lạc với Tàu, có trao sử và có thể nộp cống nữa, nhưng vẫn không hề là vua chư hầu.

Lănh chúa th́ khác xa. Lănh chúa là chư hầu của bất kỳ nước nào, Tàu hay man di đều là lănh chúa. Nhưng lănh chúa lại có thể không phải là chư hầu của ai cả. Khi một quốc gia chưa thống nhứt, không có vương, quân, chúa ǵ hết th́ có thể có lu bù lănh chúa, mỗi ông cát cứ ở một vùng, như hồi Thập nhị sứ quân ở nước ta.

Vậy khi L. A. dịch quân ra là lănh chúa là ông ta đă hạ Trạch Hu Tống xuống đến hai cấp.

Với mục đích nào?

Ở mấy mươi trang trước ông vừa chứng minh rằng Cổ Việt chỉ có bộ lạc và tù trưởng, chớ không có vua Lạc Vương hay Hùng Vương ǵ hết. Nếu ông nhận Tây Âu có Vua, Chúa th́ ông không làm sao mà đồng hóa Tây Âu với Cổ Việt được, nên ông phải dịch sai một cách tri t́nh. Lănh chúa chỉ là một thứ tù trưởng quan trọng: Khi xứ chưa lập quốc th́ chỉ có thể có lănh chúa của các bộ lạc mà thôi.

Ông lại c̣n có mục đích thứ nh́ nữa trong cuộc ngụy tạo thứ nh́ đó. Thuở ấy, vùng đó, Tàu nói rằng đang có hai ông vua, ông Trạch Hu Tống làm vua Tây Âu, ông An Dương Vương làm vua Âu Lạc, mà ông đă trót nhập hai nước lại thành một, mà một nước không thể có hai vua th́ làm sao đây?

Nhưng nếu ông hạ Trạch Hu Tống từ vua xuống lănh chúa th́ ổn thỏa, bởi một nước có thể có hai, ba, bốn, năm, sáu lănh chúa. Chỉ phiền là sử Tàu gọi hai ông đó là Vua. Ông L. Aurousseau phải thủ tiêu bớt cái ông vua đă làm bối rối ông H. Maspéro, ông nầy quá bí, không buồn giải quyết bằng cách nào hết.

Khi ông sếp chỉ là lănh chúa, th́ nước Tây Âu, không có vua, không có chúa, và trái lại có hai, ba, bốn, năm lănh chúa. Thế th́ An Dương Vương có thể là lănh chúa thứ nh́, thứ ba, thứ tư, đồng hạng với Trạch Hu Tống.

Ông ta không bị thủ tiêu về thể xác, mà về chức vị.

Khi người Tàu nói đến hai ông vua là họ nh́n nhận có hai nước khác nhau. Ông L. Aurousseau không muốn có hai nước khác nhau, muốn hiểu rằng Tây Âu = Bắc Kỳ, th́ ông chỉ c̣n có một cách là thủ tiêu bớt một ông vua vậy, và hạ ông thứ nh́ xuống chức lănh chúa.

Nhưng tưởng nguỵ tạo thứ nh́ nầy là thừa, khi ông đă gán cho Lưu An mấy tiếng mà Lưu An không hề nói, th́ đâu có cần hạ Trạch Hu Tống nữa:

Tây Âu = Bắc Kỳ

Và v́ nguỵ tạo lung tung, nên ông lại mâu thuẫn với ông. Khi Tây Âu có hai, ba, bốn, năm lănh chúa th́ không có chúa, mà hễ không có chúa th́ không có nước, v́ các lănh chúa chưa thống nhứt, mạnh ai muốn hành động ra sao tuỳ thích.

Nhưng sử Tàu mà ông rất tin th́ lại nói rằng có nước, nước Tây Âu và nước Văn Lang, nước Âu Lạc th́ thật là bí quá đối với ông.

Ông L. A. bèn cho rằng sử ta và sử Tàu bịa khi nói đến nước Văn Lang và vua Hùng Vương hoặc Lạc Vương. Nhưng năy giờ, ta chỉ thấy có ông là bịa thôi.

Xem chừng không xong, sau khi nguỵ tạo đến hai lần, ông L. Aurousseau lại phải nguỵ tạo nữa về Lạc Vương bởi sử Tàu là cái ǵ rất thiêng liêng đối với ông, mà sử Tàu đă nói có Lạc Vương, ông không dám phủ nhận. Thế nên ông lại nguỵ tạo nữa, ở một nơi khác, trong lối dịch Giao Châu ngoại vực kư.

Cuốn sử độc nhứt có ghi chép về Lạc Vương là quyển Giao Châu ngoại vực kư mà không hề có ai được đọc, chỉ thấy trích dẫn ở quyển Thuỷ Kinh ChúQuảng Châu kư mà thôi:

“Thuở xưa, vào thời mà xứ Giao Chỉ chưa chia thành quận huyện, đất đă có ruộng Lạc, nước lên xuống sở ruộng tuỳ thuỷ triều. Dân làm ruộng đó mà ăn. V́ vậy mà người ta gọi dân đó là dân Lạc. Lập ra Lạc Vương, Lạc Hầu để coi quận huyện. Có nhiều Lạc Tướng mang ấn đồng giải lụa xanh.

Về sau, con vua nước Thục cầm đầu ba vạn quân, đến diệt Lạc Vương, Lạc hầu và chế phục tất cả các Lạc Tướng, rồi con của vua nước Thục tự xưng An Dương Vương. Đó là đất Âu Lạc vậy”.

Ngày xưa người Tàu nói tắt nên khó hiểu lắm. Ai đặt ra Lạc Vương?

Trong bản dịch chữ Pháp, ông L. Aurousseau tự ư thêm vào là “Chánh phủ Trung Hoa đặt ra Lạc Vương”.

Ông L. Aurousseau là giáo sư chữ Nho th́ không thể bảo rằng ông không biết ẩn chủ từ của động từ “Lập”. Lập, ở đây là dân chúng lập ra, hoặc ông ấy tự lập ḿnh làm Lạc Vương, sau khi chế phục được các tù trưởng chớ không thể nào mà là Tần Thỉ Hoàng mà ông gọi là “Chánh phủ Trung Hoa”. Ngày xưa, khi một đế quốc đánh chiếm một nước th́ họ diệt ông vua của nước đó ngay, chớ lẽ nào xứ đó đang không có vua họ lại điên rồ mà lập ra một ông vua?

Nhưng ông L. Aurousseau lại gặp rắc rối nữa. Giờ, chỉ có một nước, theo ông, mà lôi ra đến ba ông vua, chớ không phải hai ông. Ông đă hạ Trạch Hu Tống, nhưng xoay thế nào mà lại lôi ra thêm một ông thứ ba là Lạc Vương.

Thế th́ phải thủ tiêu nữa vậy, thế nào mà rốt cuộc chỉ c̣n có một ông là ông Trạch Hu Tống, lănh chúa Bắc Kỳ. Thật ra, ông L. Aurousseau không ghét ông nào cả, nhưng ai dễ thủ tiêu th́ ông thủ tiêu.

Ông thứ ba là Lạc Vương lại được thủ tiêu, không phải thủ tiêu thể xác, cũng không thủ tiêu chức vị như đối với Trạch Hu Tống, mà thủ tiêu uy tín. Ông ta chỉ là bù nh́n mà Tần Thỉ Hoàng mới lập ra sau cuộc chinh phục Bắc Kỳ.

Người ta tự hỏi Tần Thỉ Hoàng có mắc chứng điên hay không mà huy động đến nửa triệu quân, một số quân quá lớn vào thuở đó để giết ông tù trưởng Trạch Hu Tống rồi lại lập lên vua Lạc Vương, ông nầy chẳng có bà con ḍng họ ǵ với Tần Thỉ Hoàng hết.

Ông lại quên mất cả thời điểm. Khi Tần Thỉ Hoàng Nam xâm th́ Lạc Vương đă chết thành tro rồi v́ bị An Dương Vương diệt từ lâu, khi cướp nước Văn Lang, không cần phải thủ tiêu Lạc Vương làm chi nữa hết.

Nếu c̣n ai để cho ông bối rối th́ chỉ c̣n có Trạch Hu Tống và An Dương Vương mà thôi, không cần phải bắt Lạc Vương làm vua bù nh́n.

Ông lại thủ tiêu An Dương Vương một lần nữa không về mặt thể xác, mà cũng không về mặt uy tín, mà về mặt cho ông ta trễ đ̣. Ông lợi dụng hai tiếng “Về sau” để giải thích rằng Về sau có nghĩa rằng Tần Thỉ Hoàng chết rồi An Dương Vương mới thừa cơ hội đánh Bắc Kỳ rồi đặt tên cho nó là Âu Lạc.

Nhưng An Dương Vương vẫn không bị thủ tiêu, khi mà kẻ thủ tiêu chỉ dùng khoé nguỵ tạo. Tần Thỉ Hoàng chết rồi th́ Triệu Đà nổi loạn ngay, mà Triệu Đà th́ đang có binh mạnh trong tay, thử hỏi làm sao An Dương Vương phỗng tay trên Triệu Đà được?

An Dương Vương là ai mà nhiều binh lực hơn Triệu Đà? Vả lại v́ nói thế, nên ông chỉ cho An Dương Vương trị được có hai ba năm. Lại mâu thuẫn nữa! Hai ba năm th́ làm sao có đủ th́ giờ xây thành Loa.

Ông L. Aurousseau khi th́ nói rằng ông vua Thục là con của một tù trưởng của Cao Bằng, khi th́ nói rằng ông là dân của xứ “xứ Bắc kỳ”, và sau 1945, có vài quyển sử Việt lặp lại thuyết của ông.

Nhưng thử hỏi tù trưởng Cao Bằng làm ǵ huy động nổi ba vạn binh sĩ? Thử hỏi ông là dân của “xứ Bắc Kỳ” th́ khi ông mộ quân để làm loạn, sao vua Hùng Vương (mà sử Tàu gọi là Lạc Vương) lại để ông yên thân cho ông ta dấy binh diệt ḿnh? Toàn là chuyện vô lư.

Ông L. Aurousseau lại c̣n mâu thuẫn nữa là rồi ông lại giải thích tại sao An Dương Vương lấy “xứ Bắc kỳ” (mà ông cho là Tượng Quận) được. Ông nói ở đó có quá ít lính Tàu nên không chống nổi quân xâm lăng.

Sự mâu thuẫn và nguỵ biện ở đây quá thô lậu và rất vĩ đại. Ư ông muốn nói vua bù nh́n của Tần Thỉ Hoàng là Lạc Vương cai trị nhờ sức của lính Tàu, nhưng lính đó quá ít, thế nên khi Thục Phán xâm lăng, họ chống lại không được.

A)    Tần Thỉ Hoàng đă huỷ bỏ chế độ tiểu bang th́ không thể c̣n kẻ nào mang tước Vương được hết.

B)     Khi Tần Thỉ Hoàng chết rồi th́ nước Tây Âu, tức hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và một phần đất giữa Quảng Tây và Vân Nam (đó mới đích thị là Tượng Quận) đă lọt vào tay Tàu rồi từ lâu. Vậy Thục Phán ở đâu mà xâm lăng Cổ Việt được, v́ ở đâu cũng đă là của Tàu rồi.

C)    Nếu Thục Phán ở Cao Bằng th́ y là dân của nước Cổ Việt mà như vậy th́ làm thế nào mà có sự kiện xâm lăng khi dân Cần Thơ đánh lấy Sài G̣n. Đó là một nội loạn ấy chớ.

Tóm lại ngoài cái việc nói liều rằng An Dương Vương là Tù trưởng ở Cao Bằng, sau đó ông L. Aurousseau lại biến ông ấy thành người nước ngoài mà không chỉ được là ở đâu. Thế mà ông lại bác sử ta lung tung, bác cả niên đại của trào An Dương Vương mà không đưa ra một tài liệu nào hết, theo ông th́ An Dương Vương chỉ trị có 2, 3 năm chớ không phải là 49 năm như sử ta viết.

Thuyết L. Aurousseau có thể tóm lược như sau:

1)      Tần Thỉ Hoàng xua quân đánh nước Tây Âu, tức nước Bắc Kỳ (nguyên văn). Nhưng Bắc Kỳ đă có nước, mà lại không có vua, cũng không có chúa mà chỉ có lănh chúa là Trạch Hu Tống bị giết chết rồi. Tượng Quận là tên của xứ Bắc Kỳ, tức Tây Âu do Tàu đặt ra, sau khi chiếm lấy nước Tây Âu.

2)      Thắng xong, Tần Thỉ Hoàng giúp nước Bắc Kỳ tiến lên nhảy vọt, nước ấy từ bao lâu nay chưa tiến lên khỏi chế độ bộ lạc, được vua Tần ban cho một ông vua Lạc Vương. Thế là Tần Thỉ Hoàng không phải đế quốc mà là một bậc thánh hiền rồi đấy.

3)      Đến khi Tần chết rồi th́ một tay phiêu lưu vô danh là An Dương Vương lại bảnh hơn quan Giám (tức quận trưởng) Triệu Đà, cướp ngay xứ Bắc Kỳ, tức nước Tây Âu (nguyên văn của L. Aurousseau). Quân Tàu quá ít nên vua bù nh́n Lạc Vương phải thua An Dương Vương.

Thật là một thuyết động trời, thế mà lại được vài sử gia ta đă cóp theo.

Thử hỏi nếu Tây Âu là Bắc Kỳ, trong đó có quận Tượng, th́ hai quận kia nằm ở đâu? Một quận của Tàu thuở ấy to bằng toàn quốc Việt Nam ngày nay, làm ǵ Bắc Kỳ chứa nổi đến ba quận?

Ông L. Aurousseau đă bị Mă Viện đính chánh. Thật thế, Mă Văn Uyên có kiểm tra dân số cẩn thận. Kết quả cuộc kiểm tra nầy có chép trong Hán thư. Dân số của một phần Tây Âu là Nam Hải đông trên 190 ngàn nhà, c̣n dân số của cả Giao Chỉ có trên 90 ngàn nhà mà thôi.

Nếu Bắc Kỳ là Tây Âu như ông L. Aurousseau nói, th́ Nam Hải nằm trong Bắc Kỳ. Nhưng nó nằm trong đó mà sao dân số lại gấp đôi Bắc Kỳ được?

Nói tầm ruồng vài mươi trang, ông L. Aurousseau thu hẹp Tây Âu lại ở thượng du Bắc Kỳ, thế là c̣n nhỏ hơn nữa và mâu thuẫn càng lớn hơn v́ thượng du là đất không ở được để có thể chứa quá đông dân số như thế vào thời ấy, và để có thể được Tàu xem là ba quận của họ.

Có lẽ ông muốn nói thượng du là một phần của Tây Âu, như H. Maspéro, và ông linh cảm cho rằng Âu và Thái, mà thượng du nay th́ rơ ràng là đất Thái, nhưng ông lại không nói rơ ràng minh bạch được như ông H. Maspéro, thành thử c̣n sai hơn H. Maspéro nhiều. Nói minh bạch như H. Maspéro rằng Tây Âu chạy dài từ Quảng Tây đến tả ngạn Nhị Hà, tuy vẫn có lư mà c̣n sai, huống hồ ǵ L. Aurousseau chỉ hạn chế tất cả ở một vùng thượng du Bắc Việt.

Dầu sao ông L. Aurousseau cũng cố làm cho ta thấy rằng Cổ Việt có bị Tần Thỉ Hoàng chiếm.

Mà đó là sai sự thật.

Hết hai ông Tây, đến ông Tàu.

Giáo sư Trần Kinh Hoà, bị thuyết của giáo sư L. Aurousseau gợi ư, c̣n thu hẹp Tây Âu hơn. Ông viết trong tạp chí Đại học Huế năm 1960 rằng Tây Âu = Tây Vu.

Theo nghiên cứu của ông Madrolle, tác giả Le Tonkin ancien th́ huyện Tây Vu gồm các tỉnh sau đây của Bắc Việt: Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh, Sơn Tây, Phú Thọ. Nghiên cứu ấy đúng.

Thế nên ở đó có một tiểu vương quốc là Tây Vu dưới thời Triệu Đà.

Ta có thể suy luận mà đoán được rằng nơi đó là trung tâm văn hoá và hành chánh của Cổ Việt, bằng vào cái luật nầy là dân tộc nào cũng đặt trung tâm tại một vùng mà dân chúng sinh tụ nhiều nhứt.

Hà Nội ngày nay nằm trong tỉnh Hà Đông, nhưng xưa việc sinh tụ của dân khác nay.

Bắc Ninh vào đời Cao Biền trở về sau vẫn cứ c̣n là trung tâm văn hoá Hoa Việt, bằng vào quá nhiều di tích lịch sử lớn lao ở đó: Chùa Phật Tích, đền Phù Đổng, bao nhiêu mộ quan nhà Hán, miếu Sĩ Nhiếp, chùa Khang Tự, đ́nh Đ́nh Bảng. Cổ Loa thành và nhứt là thành Luy Lâu, kinh đô đầu tiên của thuộc địa Giao Chỉ, tại làng Lũng Khê ngày nay.

Vua An Dương Vương đă đóng đô ở đó, Thái Thú Giao Chỉ đă đóng đô ở đó, và trước nữa, Hùng Vương đă cũng đóng đô ở đó (Phú Thọ).

Đó là cái nôi của văn hoá, của văn minh, của chánh trị, của dân Lạc Việt, y như Paris là cái nôi của Pháp từ ba ngàn năm rồi.

Khi Mă Viện đánh thắng ta xong th́ y chạy sớ về Lạc Cương tâu xin chia huyện Tây Vu thành huyện Phong Khê và Vọng Hải, v́ huyện đó quá đông dân cư, có đến 32 ngàn hộ, tính trung b́nh th́ có đến 160.000 khẩu trong 32 ngàn hộ đó. Vào đầu Tây lịch mà một huyện chứa bấy nhiêu người như vậy là quá đông, sánh với ngày nay (1965) mà toàn tỉnh Châu Đốc chỉ có 90 ngàn người Việt Nam, mà đó là một tỉnh được xem là trù phú.

Chúng tôi thường khen các ông Tây đọc sử Tàu kỹ hơn ta và Tàu, và quả đúng như vậy. Đất Tây Vu và ông vua Tây Vu Vương đều do các ông Tây khám phá ra, qua cổ sử Trung Hoa.

Đó là một tài liệu phụ, âm thầm nằm riêng trong phụ lục của Hán thư trong biểu Công thần.

Vua Tây Vu Vương là phiên thần của Triệu Đà. Khi họ Triệu bị Lộ Bác Đức diệt th́ ông nầy toan nổi loạn, nhưng bị tuỳ tướng là Hoàng Đổng hạ sát, nên Hoàng Đổng mới được nhà Hán xem là Công thần. Chính cái biểu Công thần tăm tối ấy mà không ai buồn đọc, đă tiết lộ sự kiện mới lạ đó.

Hoàng Đổng là người Tàu, và đó là cán bộ nằm vùng mà Triệu Đà đặt ra để kiểm soát Tây Vu Vương, vốn là người Lạc Việt.

Nói Tây Vu Vương gồm 6 tỉnh, nhưng thật ra th́ chỉ có 4, v́ Việt Tŕ không phải là một tỉnh như các ông Tây đă viết c̣n Vĩnh Yên và Phú Yên th́ quá nhỏ bé, nên sau Pháp sáp nhập lại thành một, tỉnh Vĩnh Phúc.

Cái nước Tây Âu nhỏ xíu của giáo sư Trần Kinh Hoà lại c̣n không thể làm được một công việc tày đ́nh mà ông vua đất Giang Hoài là Lưu An đă chép trong sách Hoài Nam Tử: 30 ngàn nhà làm sao chống nổi với 500 ngàn lính Tần trong ba năm và giết tổng tư lệnh của họ?

Thế mà giáo sư họ Trần lại viết rằng dân số Tây Vu quá đông đảo đủ sức làm công việc đó. Cả Giao Chỉ mà chỉ có 90 ngàn nhà, th́ riêng Tây Vu, nằm ở tả ngạn Nhỉ Hà, làm ǵ quá đông đảo được?

Ông Trần Kính Hoà đưa ra những luận cứ sau đây. Chữ Vu đọc giống chữ Âu. Vậy Tây Vu và Tây Âu là một, chỉ v́ lầm mà người ta viết hai cách, khiến đời sau ngỡ là hai nơi.

Tây Vu lại có tên là Tây Lư và Tây Ngung để đối với Phiên Ngung.

Tây Ngung bị viết lầm ra Tây Lư, nên Tây Vu mới có hai tên là Tây Vu và Tây Lư.

Nhưng đó là nỗ lực tuyệt vọng của họ Trần.

Chữ Vu, Tàu đọc là Día, c̣n chữ Âu họ đọc là Ngê-U, theo Quan Thoại, làm thế nào mà ông Trần lại bảo rằng hai chữ đó đọc giống nhau mà có thể lầm âm với nhau?

Dầu sao thuyết Trần Kinh Hoà: Tây Âu = Tây Vu, cũng bất chấp lư trí v́ mấy lẽ sau đây:

Tây Âu gồm 190 ngàn nhà ở Nam Hải

90 ngàn nhà ở Giao Chỉ (nếu ta bằng ḷng theo ông ấy bỏ Giao Chỉ vào Tây Âu).

Và 100 ngàn nhà ở Quế Lâm.

Tổng cộng là 380 ngàn nhà.

Trong khi đó th́ Tây Vu chỉ có 30 ngàn nhà.

Thế th́ Tây Vu không làm sao mà là Tây Âu được hết.

Ông Trần Kinh Hoà, mặc dầu có Tây học, vẫn suy luận theo Tàu đời Đường, tức không theo sự hợp lư mà theo cảm giác riêng khi ông nhận thấy Tây Vu hơi giống Tây Âu về giọng đọc, c̣n về tự dạng nó không giống, nhưng ông lại tạo ra Tây Ngung để cho rằng có sự giống giữa Tây Ngung và Tây Lư, Tây Lư và Tây Vu.

Để chứng minh mạnh mẽ thêm rằng Tây Vu = Tây Âu, giáo sư Trần Kinh Hoà lại trích Sử Kư (Nam Việt liệt truyện): “Nhà Tần mất, Triệu Đà đánh lấy luôn Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương”.

Đây là một sai lầm lớn của Tư Mă Thiên mà giáo sư họ Trần cứ chép. Thật sự th́ Triệu Đà chỉ xưng hùng ở quận Nam Hải. Dân Tây Âu c̣n lại ở Quế Lâm và Tượng Quận rồi cũng nổi loạn và cũng xưng hùng. Ở Mân Việt cũng thế. Thấy ḿnh c̣n yếu, Triệu Đà đành phải nh́n nhận bọn nổi loạn ấy và thương thuyết với họ để ủng hộ ông ta. Cuộc thương thuyết có kết quả. Các sử Tàu khác đều chép như vậy. Nếu lấy luật đa số th́ Tư Mă Thiên phải thua, c̣n lấy lư mà suy th́ cũng thế, bởi Triệu Đà không có đủ quân mà tóm thâu hết các nơi được.

Rồi giáo sư họ Trần viết: “Triệu Đà tự lập làm vua, gồm thâu Quế Lâm, Tượng Quận th́ nước ấy (Tây Âu) chưa bị lệ thuộc vào nước Nam Việt”.

Ở câu trước th́ lấy xong Quế Lâm, Tượng Quận rồi mới lên ngôi, nhưng cách đó có một trang th́ ở đây “Tự lập làm vua rồi mới gồm thâu Quế Lâm, Tượng Quận. Thật là trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Nhưng sự xuôi ngược không hại ǵ. Hại lắm là ư nghĩa của câu thứ nh́ đó: Triệu Đà đă tự lập làm vua, gồm thâu Quế Lâm, Tượng Quận th́ nước Tây Âu chưa bị lệ thuộc vào nước Nam Việt.

Đây là một câu sử kỳ dị nhứt thế giới.

Để xem:

Tây Âu = Nam Hải + Quế Lâm + Tượng Quận

Mà sử Tàu th́ đă đồng thinh, và chính giáo sư họ Trần cũng đă đồng thinh với họ mà nói rằng Triệu Đà xưng hùng tại huyện Long Xuyên, thuộc quận Nam Hải.

Thế th́ đă xưng hùng tại Nam Hải lại c̣n chiếm luôn Quế Lâm, Tượng Quận nữa, mà nước Tây Âu chưa bị lệ thuộc là làm sao, khi ta nh́n lại phương tŕnh trên đây?

V́ mâu thuẫn như thế nên giáo sư họ Trần phải dời Tây Âu xuống Tây Vu để cho ổn cái vụ Triệu Đà, Triệu Đà xưng hùng ở trên, nên Tây Âu ở dưới chưa lệ thuộc.

Chỉ phiền là sử Tàu lại chép quá đích xác là Triệu Đà xưng hùng tại trung tâm văn hoá của Tây Âu, v́ huyện Long Xuyên, nơi Triệu Đà nổi lên là đất dân Tây Âu sinh tụ đông đảo nhứt, v́ đó là đồng bằng ph́ nhiêu nhứt của nước Tây Âu.

Ấy, ông đă chủ trương rằng Tây Âu = Tây Vu, nên ông mất sự thật trên kia đă được tất cả mọi người công nhận, kể cả ông nữa (ở một nơi khác).

Thế rồi ông lại dựa vào tài liệu Nhựt Bổn để viết:

Nhựt Nam = Tượng Quận = Giao Chỉ

Giáo sư Trần Kinh Hoà dẫn giáo sư Nhật Sugimoto Naojiro cho rằng ông R. A. Stein nói: “Hải Vân Quan là Nam giới của Tượng Quận”.

Thật ra th́ R. A. Stein không hề nói như vậy. Tài liệu về vị trí của huyện Tượng Lâm dữ dội nhứt là tài liệu của R. A. Stein, trích một số tạp chí Hán học, xuất bản tại Bắc Kinh năm 1948. ông R. A. Stein nghiên cứu về nước Lâm Ấp chớ không phải về Tượng Quận, nhưng dân Lâm Ấp đă dựng nước ngay trong ḷng thuộc địa Trung Hoa ở cái huyện cuối cùng là huyện Tượng Lâm (chớ không phải quận) thành ra ông ấy phải nghiên cứu vị trí của huyện Tượng Lâm không ăn thua ǵ đến Tượng Quận cả. Ông R. A. Stein không bao giờ có nói đến Tượng Quận hết.

Giáo sư Trần Kinh Hoà chuyên môn trích sách mà không hề kiểm soát. Đáng lư v́ nghe người Nhật nói thế, ông nên t́m tạp chí Hán Học ở Bắc Kinh, kinh đô của ông để mà đọc.

Nhưng đọc không chưa đủ, c̣n phải phê b́nh R. A. Stein.

Đây lại cũng cứ là nguỵ tạo. R. A. Stein chỉ nói đến huyện Tượng Lâm, thế mà người ta đảm bảo rằng R. A. Stein nói đến quận Tượng.

Ta trở lại với kẻ phất cờ ban đầu là H. Maspéro, ông nầy cũng nguỵ tạo sử liệu như ông L. Aurousseau.

Nguyên trong một bức thư mà Triệu Đà gởi cho nhà Hán có câu: “Kỳ đông, Mân Việt thiên nhơn chúng, hiệu xưng vương, Kỳ tây, Âu lạc lơa quốc, diệt xưng vương”.

Ai cũng thấy rơ rằng “Kỳ tây” được viết ra để đối với “Kỳ đông” và những ǵ sau “Kỳ tây” phải được tách rời ra khỏi “Kỳ tây”. Nhưng ông H. Maspéro lại viết chữ Tây hoa rồi tách ra khỏi chữ Kỳ thứ nh́, và hơn thế lại nhập chữ Tây vào hai chữ Âu Lạc, tân tạo một danh xưng mới là Tây Âu Lạc mà cổ sử Trung Hoa không có ghi chép bao giờ trừ Tư Mă Thiên và Cố Hy Phùng mà ta đă và sẽ thấy hai ông đó viết càn. Tân tạo xong th́ ông có thể đồng hoá Tây Âu và Âu Lạc được rồi.

Xin nói rơ hơn, câu chữ Nho đúng là thế nầy:

Kỳ đông, Mân Việt…

Kỳ tây, Âu Lạc…

Ông H. Maspéro sửa lại câu thứ nh́:

Kỳ, Tây Âu Lạc…

Thế là danh xưng Tây Âu Lạc thành h́nh một cách quái dị, bởi chữ Kỳ thứ nh́, nằm không một ḿnh như vậy, c̣n có nghĩa ǵ nữa hở quư vị nhà Nho? Vậy mà ông cứ kết luận rằng có một nước mới được thành lập tên là Tây Âu Lạc. Và cắt nghĩa rằng đó là Tây Âu + Lạc Việt, để rồi kết luận rằng hễ nhà Tần chiếm lấy Tây Âu th́ phải có chiếm Lạc Việt v́ sự sáp nhập đă xảy ra rồi với An Dương Vương. Câu chuyện kết luận sai, v́ lối đọc chữ Nho sai.

(Có một nhà bác học Nhựt Bổn, nhân đọc đoạn sử đó, nói rằng thuở đó ở cạnh nước ta có một nước tên là Lơa Quốc. Một ông Tây lầm chữ Nho th́ c̣n cho qua được, chớ một nhà bác học Nhựt Bổn mà như thế th́ thật là phi Á Đông).

Danh xưng Tây Âu Lạc là một danh xưng không bao giờ có, thế mà nó được hai nhà trí thức Trung Hoa thời cổ nói đến.

Trong Sử Kư, thiên Nam Việt liệt truyện, Tư Mă Thiên viết: “Triệu Đà xưng hùng tại Nam Hải rồi lấy tài vật đút lót cho các nước Mân Việt và Tây Âu Lạc để làm nước phụ thuộc.

Thấy quá rơ là Tư Mă Thiên đă viết sai. Thật thế, sau khi xưng hùng, Triệu Đà không đủ quân chiếm hết 3 quận của nước Tây Âu, đành phải bằng ḷng với quận Nam Hải nhỏ hẹp. Phần Tây Âu c̣n lại, được chính dân Tây Âu tự động xưng hùng và quản trị. Triệu Đà đă đút lót cho cấp lănh đạo của cái phần Tây Âu mà lăo ta chưa đủ quân để chiếm. Như vậy họ Tư Mă chỉ có quyền đồng hoá cái phần c̣n lại đó với cả nước Tây Âu mà thôi, chớ không có quyền nói đến một nước Tây Âu Lạc, v́ cái nước đó sẽ được chúng tôi chứng minh rằng không bao giờ có.

Sự cẩu thả của Tư Mă Thiên, về sau được Cố Hy Phùng phổ biến rộng răi thêm, thành thử danh xưng không có, lại hoá ra có.

Nhưng là nhà khoa học, H. Maspéro thấy rơ đó là sai lầm. Nhưng ông cũng lại rất cần danh xưng đó, thế nên ông nguỵ tạo sử liệu, để cho nó có vẻ khoa học hơn Tư Mă Thiên và Cố Hy Phùng. Hễ có địa danh Tây Âu Lạc th́ nghĩa là Tây Âu đă được nhập lại với Cổ Việt Nam (Âu Lạc), và điều đó rất cần cho các thuyết sai lầm của các ông là Tần có chiếm Cổ Việt Nam, và rất cần cho sử gia Nguyễn Phương là Tần có trồng người ở Cổ Việt Nam.

Hiện tượng Tây Âu sáp nhập với Lạc Việt là một quái thai, nhưng không hiểu sao đa số sử gia Tây, Tàu, Nhật, Việt đều bảo là có.

Quả thật thế, Tây Âu là tên nước, Lạc Việt là tên dân. Nếu quả có sự sáp nhập tưởng tượng đó th́ người ta ghép hai tên nước lại:

Tây Âu + Văn Lang

Hoặc Tây Âu + Âu Lạc

chớ không bao giờ lại ghép một tên nước với lại một tên dân.

Mà khi Tây Âu được ghép với Âu Lạc th́ nó phải biến hoá ra là Tây Lạc, chớ không bao giờ là Tây Âu Lạc cả v́ cái lẽ giản dị là cả hai bên đều phải hy sinh một chữ trùng nhau là chữ Âu, chớ không bên nào được phép giữ nguyên tên ḿnh, bắt bên kia phải chịu lép vế giữ có một chữ.

Âu Lạc nhứt định không cho phép Tây Âu giữ nguyên Tây Âu, c̣n ḿnh th́ chỉ được góp phần một chữ Lạc, c̣n Tây Âu cũng nhứt định không cho phép Âu Lạc giữ nguyên Âu Lạc, c̣n ḿnh th́ chỉ được góp phần có một chữ Tây mà thôi.

Sự sáp nhập đó, do người Tàu làm chớ không phải Âu Lạc hoặc Tây Âu làm ư? Đồng ư, nhưng chính người Tàu mới là có thói quen ngàn đời của họ.

Nhưng rơ ràng Tư Mă Thiên đă viết ra cái địa danh đó th́ tính sao đây? Rất dễ hiểu. Trọn bộ Sử Kư, Tư Mă Thiên chỉ viết có một lần cái địa danh đó mà thôi, c̣n th́ họ Tư Mă phân biệt hẳn hoi Tây Âu và Âu Lạc.

Đó là một sự bịa càn, chớ các văn kiện chính thức không có địa danh ấy, và v́ bịa càn một cách kỳ khôi, nên họ Tư Mă chỉ viết có một lần địa danh ấy mà thôi. Kỳ khôi v́ không ai ghép tên nước (Tây Âu) và tên dân (Lạc Việt) để làm một địa danh bao giờ. Có lẽ họ Tư Mă cũng thấy được rằng là vô lư, nhưng không thể bôi, v́ sách Tàu được viết trên một tập giấy in sẵn có ḍng có khuôn, hễ bôi th́ phải bỏ hết cả cuốn, chớ không thể xé bỏ một tờ như bản thảo của ta, mà xé bỏ cả quyển th́ quá mất công.

Tuy nhiên, sự ghép chữ có sai nguyên tắc, nhưng nội dung của sự gán ghép của Tư Mă Thiên không phải là không có lư do, và ta sẽ thấy lư do đó lát nữa đây.

Chương nầy có vẻ như là dư, nhưng thật ra th́ không. Then chốt của thuyết Nguyễn Phương là Tần đă trồng người ở Cổ Việt và Hán đă tiếp tục. Rồi lại có di cư ồ ạt, thế nên rồi “man di” Lạc Việt lớp bị tàn sát, lớp bỏ nước mà đi hết, và người Tàu tự xưng là Việt Nam.

Trước khi trưng ra vài trăm trang bằng chứng Việt Nam là một, Lạc Việt cũng thế, và họ cứ c̣n giữ từ đấy những nay, chúng tôi phải bác bỏ tất cả những ǵ của bất kỳ ai mà có tánh cách xuyên tạc hay cố ư cho rằng ba sự kiện dưới đây đă xảy ra:

-  Tần có chiếm Cổ Việt, có trồng người ở đó.

-  Hán có tiếp tục chánh sách trồng người (vốn không có xảy ra).

-  Có di cư ồ ạt.

Thành thử thoạt trông, người đọc thấy chương II quá dài nầy như là lạc đề, nhưng quư vị sẽ không c̣n cảm giác đó nữa, khi rơ được ư định của chúng tôi.

Vậy theo H. Maspéro th́ Tây Âu và Âu Lạc là một, và khi Âu Lạc là Bắc Kỳ th́ Tây Âu cũng thế và Tần Thỉ Hoàng đă chiếm Tây Âu, tức là chiếm “xứ Bắc Kỳ”.

Nhưng việc tân tạo danh xưng một cách bất chấp thành văn chữ Nho để rồi đồng hoá, không có giá trị khoa học nào hết.

Cả ba thuyết đều đưa đến đẳng thức:

 

Tây Âu = Bắc Kỳ

 

Cả ba thuyết trên đều sai. Và Tần Thỉ Hoàng không có chiếm đất và “trồng người” ở Bắc Kỳ ǵ hết.

Ông L. Aurousseau, sau khi xoay đủ cách để chứng minh rằng: Tây Âu = Bắc Kỳ (nhưng thật ra th́ thâm ư của ông là muốn chứng minh một điều mà ai cũng bí là Tượng Quận = Bắc Kỳ. Tượng Quận là một phần của Tây Âu, hễ chứng minh được rằng Tây Âu = Bắc Kỳ, th́ Tượng Quận phải đương nhiên được nằm trong Bắc Kỳ). Sau khi làm thế rồi, ông c̣n thu hẹp Tây Âu lại ở Thượng du Bắc Việt.

Cái Thượng du Bắc Việt nầy lại c̣n bị thu hẹp hơn nữa là tả ngạn Nhị Hà chớ không có hữu ngạn.

Theo cả hai ông H. Maspéro và L. Aurousseau th́ Lạc Việt là từ Nhị Hà trở xuống phía Nam, ở trên là Tây Âu.

Các ông quên mất rằng chính sử Tàu mà các ông rất tin, thú nhận rằng đạo binh viễn chinh của Tần đă thất điên bát đảo tại Tây Âu. Đạo binh đó đông 500 ngàn người. Thượng du tả ngạn có mấy người?

Hiện nay dân ta 30 triệu, thuở ấy non một triệu tức 30 lần ít hơn. Thượng du tả ngạn hiện nay có lối 1 triệu tám, th́ thuở ấy hẳn chỉ có 60 ngàn. Bắt được bao nhiêu lính trong 60 ngàn người? Nhiều lắm là 10 ngàn lính. Mười ngàn chú lính Thái làm thế nào để làm khổ 500 ngàn binh Tần và giết được tổng tư lệnh của họ, theo Lưu An đă ghi chép trong Hoài Nam Tử?

Thật là không có một chút xíu sự thật nào hết.

Vả lại hồi cổ thời, người Thái không hề có mặt ở Thượng du Bắc Việt.

Quả thật thế, cổ vật Đông Sơn đă đào được ở Đồng Văn gần biên giới Việt - Quảng Tây, ở Đán Lầu (trên Lào Kay), ở Lạng Sơn, ở Bắc Cạn, ở Tuyên Quang, ở Thái Nguyên, gần đồng tuổi với đồ Đông Sơn, nhưng lại khác loại với đồ đồng của Thái vào thời đó.

Và sử Tàu chép rằng dưới đời Đường, một quan Đô hộ Tàu gốc Nhựt Bổn, phục vụ tại Giao Chỉ, đă chống được cuộc xâm lăng của người Thái vào Thượng du Bắc Việt.

Như thế th́ bằng vào sự có mặt ngày nay của người Thái ở Thượng du để bảo rằng nước Tây Âu ăn uống tới tả ngạn Hồng Hà như các ông Tây, ông Tàu đă viết th́ thật là không đúng với sử liệu chút nào hết.

Chỉ có cuộc xâm lăng vào thế kỷ 13 là người Thái thành công, v́ vua chúa ta bận việc nội bộ, đành phải chịu vậy, nhưng rồi vẫn khắc phục họ được, xem họ là thần dân và họ nh́n nhận chủ quyền của ta dưới sự cai trị của các quan thổ ti người Việt.

Tóm lại, có quá nhiều huyền thoại Tây, Tàu về Tượng Quận, Tây Âu và Âu Lạc, đó là chưa kể huyền thoại Nguyễn Siêu mà chúng tôi không nói tới nhiều v́ huyền thoại nầy không được các sử gia chép theo.

Trong Phương Đ́nh Dư địa chí (trang 168) Nguyễn Siêu cho rằng Tượng Quận là nước Phù Nam ở mũi Cà Mau!!!

Nguyễn Siêu nổi danh là một nhà nho đọc sách Tàu nhiều nhứt nước, nhưng ông không biết những quyển sách mà Lăo Cán đă đọc để truy nguyên Tượng Quận. Nhưng ta không nên trách Nguyễn Siêu, v́ giáo sư Trần Kinh Hoà, đáng lư phải biết rộng hơn Nguyễn Siêu, thế mà cũng chẳng biết Tây Âu và Tượng Quận ở đâu.

Từ năm 1918 đến nay, các nhà học giả bàn căi với nhau không thôi về nước Tây Âu và Tượng Quận, không bao giờ mà hai nơi chốn lịch sử ở Á Đông, lại được các nhà bác học t́m ṭi nhiều cho bằng Tây Âu và Tượng Quận, không phải chỉ là ṭ ṃ của những người hiếu học, mà hai nơi đó là hai nơi then chốt, hai cái ch́a khoá mở cửa cho thấy rơ những sự kiện lịch sử về trước và về sau, nếu định vị trí sai về hai nơi đó th́ những ǵ xảy ra về sau sẽ hỗn loạn, không c̣n biết đâu mà theo dơi nữa.

Chung quy chỉ v́ các ông không thuộc sử và nhứt là không biết ǵ hết về địa lư cổ thời, như chúng tôi đă nói. Giờ muốn biết sự thật chúng ta cần nhắc sử lại, và cần viết lại địa lư cổ thời, bằng vào những tài liệu tản mác đó đây, viết cho thật đúng, không được phép mơ hồ nữa.

Ta cần ngược ḍng thời gian, đi về lối Khổng Tử, rồi từ đó thả xuôi ḍng cho đúng nẻo, mới mong khỏi lầm lạc.

Ở đây, chúng tôi trích một câu Xuân Thu của Khổng Tử, câu nầy sẽ được khai thác lại ở chương khác, cho một vấn đề khác.

Theo Xuân Thu th́ năm 317 T.K. Ngô Khởi, một phản tướng của nước Nguỵ, xuống đầu nước Sở, nước nầy bấy giờ đă nuốt mất nước Ngô và nước Việt Cối Kê rồi. Tướng họ Ngô thực thi một chánh sách mới là kư hiệp ước thân hữu với các quốc gia Bách Việt ở phía nam Cối Kê.

Đó là những quốc gia nào, ta chưa cần biết ngay tức th́ và ta cần xét lại việc khác nữa, cấp bách hơn.

Bẵng đi 99 năm, sử Tàu không buồn nói đến các quốc gia Bách Việt đó nữa.

Sự rối loạn bắt đầu, sau 99 năm im lặng ấy, chỉ rối loạn ở phía vùng Bách Việt chớ chuyện bên Tàu th́ rất rơ: Chư hầu Tần lớn mạnh, nuốt cả Hoa Bắc, rồi nuốt luôn Sở trong ḷng nước Sở vốn đă có nước Ngô, nước Việt, binh Tần chỉ đánh tới huyện Cối Kê rồi thôi.

Khổng Tử viết sử có đúng hay không? Nếu không, ta cũng chẳng làm sao được, v́ đó là tài liệu độc nhứt, và phụ đề của Tả Khâu Minh cũng là tài liệu độc nhứt. Nhưng nếu cho rằng Khổng Tử bóp méo sự thật th́ ngài bóp méo các việc khác, chớ chẳng bóp méo làm ǵ biên giới cực Nam của nước Trung Hoa vào thời đó.

Thế th́ ta có thể tin rằng Khổng Tử viết đúng.

Vậy vài quyển sử Tàu mà sử ta cóp lại viết rằng Dương Việt ăn xuống tới Phúc Kiến (có người viết rằng ăn xuống tới Giao Chỉ) đều sai.

Khổng Tử mà có sai, chúng tôi cũng ít lắm có dựa vào Khổng Tử, c̣n những quyển sách khác th́ không có dựa vào đâu hết, hoặc dựa vào những quyển sách đời Tống về sau, những tác giả ấy không làm sao mà biết sự thật lịch sử thời Xuân Thu cho bằng Khổng Tử.

V́ đây là biên giới thật đúng ở cực Nam Trung Hoa dưới đầu đời Tần. Đó là Ngũ Lĩnh, tên của năm dăy núi lớn và cao, có đèo (passes). Năm dăy núi đó ở đâu và tên ǵ?

Ông H. Maspéro, L. Aurousseau và R. A. Stein với một ông Việt là sử gia trào Nguyễn, Nguyễn Siêu, đă phải dày công làm con mọt sách mới t́m được vị trí của năm dăy núi đó, v́ sử Tàu xưa lộn xộn như một trận thế tru tiên. Mặc dầu có vài quyển cổ thư Trung Hoa viết sai quá xa, các ông trên đây vẫn loại lần để t́m biết đúng sự thật. Nhưng nếu chúng tôi kể lại đây, chắc người đọc sẽ chóng mặt và nhức đầu lắm trong mớ ḅng bong hỗn độn mà sử Tàu xưa chồng chất lên nhau.

Thế nên chúng tôi nhờ một hoạ sĩ cóp theo hai quyển sách địa lư, một của Pháp, một của Trung Hoa dân quốc, và quư vị nh́n vào là thấy ngay. Năm dăy núi đó, chạy từ Đông sang Tây Nam, từ Ninh Phố đến Nam Tứ Xuyên, và tên là Ngũ Lĩnh.

Trong Việt Nam Văn Học toàn thư, tác giả là ông Hoàng Trọng Miên, có cho vẽ một bức dư đồ Ngũ Lĩnh. Theo bức dư đồ đó th́ Ngũ Lĩnh là một dăy núi độc nhứt có năm đèo, trong khi sự thật nó là năm dăy núi kế tiếp nhau, và chỉ có bốn đèo thôi.

Lĩnh là núi, ngũ lĩnh là năm núi, không thể là năm đèo được. Mà giữa năm núi, chỉ có thể có bốn đèo mà thôi.

Làm thế nào để có năm đèo được giữa năm dăy núi kế tiếp nhau? Làm một bài toán nhỏ th́ đủ thấy là chỉ có bốn đèo. Hoặc cứ vẽ ra một bức hoạ thô sơ, th́ ta cũng thấy được là chỉ có bốn đèo chớ không thế nào mà có năm đèo.

Đất ở phía Nam của năm dăy núi ấy cũng lại được đặt tên là đất Ngũ Lĩnh.

Nhưng đất Ngũ Lĩnh có biên giới phân minh, chớ không phải là vô bờ bến như các sử gia Pháp và Việt hiểu lầm.

Phía Bắc là nước của Tần Thỉ Hoàng, phía đông là biển cả, phía Tây là Ba Thục, tức cũng là đất của nhà Tần, phía Tây Nam là đất Chơn (Vân Nam), phía Nam vô cùng quan trọng, v́ sự ngộ nhận xảy ra ở đó, và sự rối loạn bắt đầu ở đó.

Phía Nam là một thứ Ngũ Lĩnh loại bỏ túi, tức là những dăy núi tại biên giới Hoa Việt ngày nay mà quư vị thấy rơ trong bức dư đồ, những dăy núi nầy tuy không quá hiểm trở như Ngũ Lĩnh chớ cũng là một chướng ngại đáng kể và được người xưa xem là biên giới tự nhiên cho một vùng đất: vùng Ngũ lĩnh (xin xem lại dư đồ nước Tàu).

Thấy rơ là đất Ngũ Lĩnh đích thị là địa bàn của những quốc gia Bách Việt mà Khổng Tử đă nói đến trong Xuân Thu, nhưng không có cổ Việt Nam, tức không có Âu Lạc.

Bức dư đồ cho thấy như vậy, sách địa lư Tàu ngày nay cho biết như vậy, mà cổ sử Tàu cũng xác nhận như vậy. Quả thật thế, trong quyển thứ ba của Đại Việt Sử Kư toàn thư ngoại kỹ, Ngô Sĩ Liên viết “Năm Bính Tư (136 S.K.), năm đầu hiệu Vĩnh Hoà đời Hán Thuận Đế, Thái thú Chu Xưởng cho Giao Châu là ở xa 9 châu, ở ngoài Bách Việt, dưng biểu xin lập ra Phương Bá.

Thế là thật rơ, về mặt chủng tộc học, ta cứ là Bách Việt, nhưng người Tàu từ Ngô Khởi cho tới Chu Xưởng, hiểu Bách Việt theo lối khác. Bách Việt đối với họ thuở đó, là dân của đất Ngũ Lĩnh, không có cổ Việt Nam trong ấy.

Tần không kể Cổ Việt vào Bách Việt không phải v́ ngỡ rằng Cổ Việt là dân khác, mà v́ nó quá xa, chưa liên lạc với Tàu, Tàu không thèm biết tới nó là một cơi giang san riêng, cách Ngũ Lĩnh bằng cái tiểu Ngũ Lĩnh loại bỏ túi nói trên.

Đất Ngũ Lĩnh được xem là một vùng đất có biên giới rơ rệt ở cả phía Nam nữa.

Thế mà rồi v́ vài quyển sách Tàu, v́ vài ông Tây lầm mà rồi bao nhiêu sử gia ta đều cho rằng nhà Tần đă đánh chiếm ta, Tây Âu và Tượng Quận ǵ cũng đều nằm trong nước ta cả th́ thật khó chấp nhận.

Danh xưng Bách Việt, nghe tưởng nhiều lắm th́ có thể có ta trong đó. Mà quả thật có ta trong đó về mặt khoa học. Nhưng nhà Tần chỉ đánh chiếm được có đất Ngũ Lĩnh mà thôi. Chúng tôi sẽ có nhiều chứng minh vững hơn chứng minh trên đây nhiều lắm, rằng nước ta không nằm trong đất Ngũ Lĩnh và nhà Tần không hề có đánh chiếm nước ta, v́ họ đuối sức, hay v́ lẽ ǵ không rơ. Có vài quyển sử Tàu viết rằng v́ An Dương Vương đầu hàng nên được để yên. Nhưng có lẽ v́ Tần đuối sức và sự đầu hàng của An Dương Vương chỉ là một dịp để Tần rút quân mà không mất mặt, chỉ có thế thôi.

Nhưng riêng chúng tôi lại hiểu hơi khác. Hạ Chí Tuyến (tropiques du Cancer) nằm ngang Phiên Ngung. Dân Tàu chưa chịu đựng nổi khí hậu ở dưới Hạ Chí Tuyến là khí hậu nhiệt đới, thế nên họ mới bằng ḷng nhận sự đầu hàng của An Dương Vương và dừng bước lại ở Tây Âu mà không tiến xuống nữa, chớ không phải v́ họ đă thật kiệt quệ sau khi bị Tây Âu đánh rát quá.

Cứ theo vào Hoài Nam Tử th́ dân Tây Âu đă giết hết 100 ngàn quân Tàu, nhưng họ vẫn c̣n tới 400.000 quân, tức thừa sức đánh hoài, nhưng họ không đánh v́ họ biết là lính Hoa Bắc chịu đựng không nổi khí hậu ở dưới Hạ Chí Tuyến.

Ba quốc gia Bách Việt ở đó mà Khổng Tử đă chép 99 năm trước, cũng được sử nhà Hán kể tên thật rơ, đó là Đông Âu, Mân Việt và Tây Âu mà bức dư đồ của ông Hoàng Trọng Miên lại bỏ Đông Âu và Mân Việt ở trên Ngũ Lĩnh, trong khi sử Tàu chép rằng đánh Ngũ Lĩnh xong họ mới cướp được cả ba nước Đông Âu, Mân Việt và Tây Âu. Cho đến tên vua của ba quốc gia ấy cũng được chép, và những cuộc rối loạn nội bộ của họ, th́ quân, chúa ǵ, đều được Tàu biết rơ và ghi chép đủ cả, trong khi đó th́ họ tuyệt đối không biết ǵ hết về đất Âu Lạc, trừ cái tên An Dương Vương, và hoàn toàn mù mịt về Văn Lang, trừ nhà vua mà họ không biết cả quốc hiệu, chỉ gọi là vua của dân Lạc (Lạc Vương).

Sự kiện mù tịt của Tàu về Cổ Việt thời đó đă cho thấy rằng Tần không có đánh Cổ Việt, v́ cái lẽ giản dị rằng không có đạo quân xâm lăng nào mà lại dám đánh một nước mà họ không thạo sử địa và t́nh h́nh dân chúng, địa h́nh, địa thế cả.

Tuy bao nhiêu đó đă đủ, nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục chứng minh để không c̣n ai căi được nữa cả.

Biết địa lư ở đó rồi, biết sử thời đó rồi, th́ tưởng không c̣n làm sao mà cho rằng cổ Việt Nam đă bị chiếm và được đặt tên là:

1.      Tượng Quận

2.      Tây Âu

Xin nhấn mạnh một lần nữa rằng sử chép rơ là binh Tần đánh đất Ngũ Lĩnh, chớ không có nói mơ hồ là đánh phương Nam. Và sử lại chép rơ rằng Tần chỉ chia thành quận huyện có ba quốc gia mà ai cũng biết, chớ không có chia một quốc gia thứ tư nào hết.

Đây là một điều kỳ dị đến khiến ta muốn phát khùng. Sử Tàu chép rơ ràng là họ đánh chiếm được có ba quốc gia, và chia ba quốc gia ấy thành quận, huyện. Cả ba quốc gia đó đều có tên, và không có tên nào trùng với quốc gia của ta cả, thế mà rồi hàng trăm sử gia Tàu đời sau, và Tây, Nhật, Việt đều cứ hiểu là có ta trong đó là thế nào?

Tuy nhiên, sự ngộ nhận của họ, xét kỹ ra, cũng có căn cứ chớ không phải là họ điên khùng và hiểu bậy bạ như kẻ mất trí đâu. Ngộ nhận xảy ra là v́ vụ Thục Phán xuất binh từ Tây Âu đến diệt quốc Văn Lang, rồi đặt quốc hiệu của Văn Lang lại là Âu Lạc.

Họ tưởng Âu Lạc bị sáp nhập với Tây Âu, mà sở dĩ họ tưởng như vậy v́ Tư Mă Thiên đă viết liều là có một nước tên là Tây Âu Lạc, cái địa danh không bao giờ có, được Tư Mă Thiên bịa ra, khiến cho thiên hạ ngỡ là có sáp nhập.

Nhưng nếu học sử thật kỹ về đoạn đó rồi th́ ta thấy ngay là Tư Mă Thiên đă viết liều, địa danh ấy không có bao giờ và sự kiện sáp nhập Tây Âu với Âu Lạc không bao giờ có xảy ra.

Đây là dịp mà ta cần biết Thục Phán là ai, mà từ xưa đến nay không sử gia nào tin là tên Phán ấy là con của vua Thục, mặc dầu thiên hạ tôn kính sử Tàu đến mê muội, nhưng trường hợp nầy, sử Tàu viết đúng lại bị họ nghi ngờ.

Cách đây không lâu, một nhà bác học Trung Hoa, ông La Hương Lâm, có nghiên cứu một nhóm người thiểu số ở Quảng Tây mà Tàu gọi là Khách Gia và khám phá ra rằng Khách Gia đích thị là người Ba Thục di cư xuống nước Tây Âu, sau khi bị Tư Mă Thác diệt quốc.

Chúng tôi không có tài liệu đó để xem ông ấy trưng bằng chứng cách nào, nhưng đồng thời với ông ấy, chúng tôi cũng nghiên cứu về người Khách Gia, ngay tại Chợ Lớn.

Từ Quảng Tây sang Chợ Lớn, người Khách Gia (Quảng Đông đọc là Hạc Cá) được Pháp gọi là Hakkas, nhưng Nam Việt gọi là Hẹ, v́ họ tự xưng là Hẹcka, tức họ nói tiếng Tàu sai giọng, Hẹcka bị thu lại thành Hẹ.

Như đă nói, để làm chương Ngôn ngữ tỷ hiệu, chúng tôi phải học tất cả ngôn ngữ Á Đông. Ban đầu chúng tôi ngỡ họ là người Tàu ở Quảng Tây, tức người Tây Âu xưa bị đồng hoá, nhưng hỏi họ, và tra lại sử Tàu, th́ không phải thế, mà lại đúng y như nhà bác học Trung Hoa trên kia đă nói. Họ c̣n nhớ là tổ tiên của họ đă từ Ba Thục đi xuống, mặc dầu câu chuyện đă cũ hơn hai ngàn năm rồi.

Hiện họ nói tiếng Tàu, sai giọng cố nhiên, nhưng y như người Quảng Đông, người Mân Việt, người Triết Giang, họ c̣n giữ được non một trăm danh từ của họ mà ở chương Ngôn ngữ tỷ hiệu chúng tôi c̣n gọi là cổ ngữ Ba Thục. Cổ ngữ Ba Thục, xem ra chỉ là ngôn ngữ Mă Lai, y hệt như cổ ngữ Tây Âu, cổ ngữ Mân Việt, kim ngữ Chàm chớ không có ǵ lạ hết.

Cái nhóm Hẹ nầy tưởng phải được nghiên cứu tỉ mỉ hơn các nhóm khác, v́ họ có dính líu với cổ sử của ta và ta đă ngộ nhận rối ren về đoạn sử nước nhà, chỉ v́ bọn nầy.

Cho tới ngày nay, không ai tin rằng con của vua Thục (Thục vương tử) lại đi xa đến thế để đánh chiếm nước Văn Lang và tự xưng là An Dương Vương, mặc dầu sử Tàu có chép như vậy.

Nhưng sau cuộc khám phá của các nhà chủng tộc học Tây phương rằng cổ Ba Thục là dân Thái, rồi tiếp theo đó, nhà bác học Trung Hoa La Hương Lâm xác nhận khám phá trên, không c̣n chối căi được rằng quả An Dương Vương là con vua Thục.

Nhưng tưởng cũng nên nói rơ thêm vài chi tiết mà các ông Tây và La Hương Lâm không biết, khiến có người c̣n hồ nghi.

Những sự kiện lịch sử trên đây không phải là do La Hương Lâm khám phá ra được. Chính ta cũng biết, nếu ta đọc kỹ cổ sử của Tàu.

Quả thật thế, Tả Truyện chép rằng sau khi Tư Mă Thác diệt nước Thục th́ dân Thục (có lẽ chỉ là quư tộc Thục) bỏ xứ, sang nước Ba, rồi tràn vào nước Sở, nhưng không phải là xâm lăng, mà là để đi đâu nữa đó không biết.

Nước Ba đồng chủng Thái với họ, tuy đă bị Tàu trị rồi, nhưng đa số dân chúng chưa bị Tàu đồng hoá vào thuở ấy, vả lại nó quá nhỏ nên không có ngán (hay ngăn không được) cuộc đi qua ấy. Nhưng Sở th́ ngăn quyết liệt, đánh bật họ ra.

Sở, vào thuở đó, hết là Kinh Man rồi, tự xưng là nước Sở, tức là bị đồng hoá sâu đậm và đă văn minh cao rồi. Một nước văn minh và cường thịnh th́ không thể chấp nhận một cuộc đi qua của ngoại chủng.

Hẳn đó là một cuộc đi qua, chớ không cố ư xâm lăng, v́ họ quá ít, Sở chỉ phái một toán quân nhỏ là đánh bật họ ra được rồi.

Nhưng họ đi đâu?

Dĩ nhiên là họ đi ở trọ với một cường quốc đồng chủng với họ là nước Tây Âu chớ không phải là đi Quư Châu, mặc dầu ở Quư Châu cũng là đất của người Thái, v́ Quư Châu là đất núi non nghèo khó, khí hậu lại xấu.

Sử Tàu chép chuyện Con của vua Thục cướp nước của vua Lạc Vương, sử ta xưa chép lại nhưng không tin là con của vua Thục lại có thể đi xa đến thế, từ Tứ Xuyên xuống Cổ Việt Nam, nhứt là nước Thục đă bị diệt hàng trăm năm rồi, c̣n làm sao mà c̣n con vua Thục được. Chép lại nhưng không tin, các ông (như Ngô Sĩ Liên) cho rằng ông ấy họ Thục chớ không phải con vua Thục ở đâu dó, phía Bắc nước ta.

Ta c̣n nghi ngờ, v́ cái sự kiện quá xa, và sự so le thời điểm gần một trăm năm. Nhưng cả hai yếu tố ấy đều có thể giải thích rơ ràng.

Ta đă và sẽ thấy rằng dân Thái có địa bàn liên tục từ Tứ Xuyên đến Quảng Đông và Quư Châu, v́ đất xấu, nên chỉ được xem là một hành lang liên lạc giữa hai đại quốc đồng chủng: Thục và Tây Âu.

Khi mất nước, người Thục hẳn phải chạy xuống Tây Âu chớ không thể chạy vào một quốc gia khác chủng được. Mà muốn tới Tây Âu họ chỉ phải đi qua có hành lang Quư Châu, chớ không có quá xa như ta tưởng tượng. Mà họ cũng khỏi phải đi bộ, nhờ con sông Tường Kha, sông nầy dùng được từ Quư Châu tới biên giới Quảng Đông nay. Theo Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sỹ th́ khi bà Lữ Hậu muốn đánh Triệu Đà, bà không biết làm thế nào để tiến quân v́ không có con đường đi, con đường mà quân của Tần Thỉ Hoàng đă dùng, không tiện và rất là mạo hiểm.

Một ông vua Thái ở Vân Nam, tên là Đường Mông vốn ghét Triệu Đà đă cướp đất Thái Tây Âu, bèn mách cho bà ấy con sông nói trên.

Các sử gia ta cứ nói Tứ Xuyên và Việt Nam quá xa, không thể đi được vào thời đó, nhưng thật ra th́ con vua Thục đâu có đi thẳng từ Thục tới Văn Lang, mà ông ấy chỉ đi từ Thục tới Quảng Tây, qua hành lang Quư Châu nhờ sông Tường Kha.

Sở dĩ thoạt tiên họ mượn đường của nước Sở để bị đánh bật ra là v́ hành lang Quư Châu có những nơi phải đi bộ, trèo núi cực nhọc, chớ không phải sông Tường Kha là con sông suôn sẻ từ đầu đến cuối. Nhưng rốt cuộc rồi họ cũng phải dùng cái hành lang Quư Châu đó v́ bị Sở ngăn cản.

Rồi từ Quảng Tây đến Cổ Việt Nam t́nh h́nh chỉ là chuyện vượt biên giới.

Nhưng phải tốn thời gian, năm bảy mươi năm, và cái thời gian nầy làm cho các sử gia ta không hiểu được tiếng con vua Thục của sử Tàu, bởi năm bảy mươi năm qua th́ con vua Thục phải đă chết già rồi.

Khi chúng tôi đi học cổ ngữ Ba Thục để viết chương Ngôn ngữ tỷ hiệu cho sách nầy, chúng tôi càng thấy rơ hơn là An Dương Vương quả đúng là con của vua Thục, v́ Thục ngữ, Thái ngữ, Việt ngữ đều do Mă Lai ngữ mà ra cả.

Xin nhắc lại rằng nước Thục rất văn minh, ít lắm cũng bằng Trung Hoa vào thuở đó và có vài nét, họ hơn hẳn Trung Hoa v́ thuở mất nước, họ đă biết nghề sơn mài, c̣n Trung Hoa th́ chưa biết món tương Tàu, thật ra là phát minh của dân Thục. Đất Cao nguyên của họ là quê hương của đậu nành chớ không phải đất Tàu.

Di cư đến Hoa Nam, họ hoạt động rất mạnh, lập ra một thành phố lừng danh vào thuở ấy là Đại Phố, và hoạt động được nhờ sự kiện đồng chủng đồng ngôn ngữ với dân Tây Âu.

Họ tài ba lắm, nhưng không lấy nước lại được bao giờ v́ khí hậu của Thục hợp với người Trung Hoa thuở ấy nên Hoa chủng di cư vào Thục rất đông, nên ảnh hưởng Trung Hoa ở đó quá mạnh, địa phương bị diệt quá nhanh chóng.

Ở Sài G̣n, họ cũng tài giỏi hơn tất cả các nhóm Trung Hoa khác, nhứt là về văn hoá. Trong 10 tờ báo hằng ngày, có đến sáu bảy tờ là của người Hẹ và tờ báo mạnh nhứt ở Chợ Lớn là của người Hẹ.

Muốn hiểu Con vua Thục, ta cần lập ra giả thuyết sau đây:

La Hương Lâm nói chuyện tổng quát, chớ thật ra th́ chỉ có quư tộc Thục mới di cư c̣n dân Thục th́ không. Một dân tộc đă văn minh cao, không hề bỏ nước khi bị xâm lăng. Họ ở lại để chờ dịp khởi nghĩa. Chỉ có dân kém mở mang mới tự thấy bất lực, bỏ nước đi t́m đất mới mà thôi.

Tả Truyện có chép chuyện đám di cư nầy bị nước Sở đón đánh tại Hồ Nam là đất Nam Sở. Đó là tài liệu cổ nhứt về con vua Thục di cư nhưng ít ai chú ư tới. Họ chọn đường Hồ Nam cho dễ đi. Nhưng gặp người Tàu lai Việt ở đó là Sở, khác giống, họ bị đánh bật ra, mà đành phải dùng con đường khó đi hơn là đường Quư Châu.

Quư tộc Thục hẳn đông hàng ngàn lại có thê tử và nô bộc và một mớ quân sĩ trung thành nữa, thành thử họ tuy không phải là dân, họ cũng có thể đông đến vài ba ngàn.

Nhưng Vua, Hoàng hậu, Hoàng tử và các Thế tử Thục đều bị tướng Tư Mă Thác của Tần giết chết rồi th́ làm sao mà c̣n con vua Thục được?

Ta giả thuyết rằng một bà thứ phi Thục thoát nạn. Thứ phi th́ dễ thoát, không như Hoàng hậu. Bà phi ấy đang mang thai. Tới Tây Âu một ít lâu, bà hạ sanh một đứa con trai.

Đó là con người rất quư báu mà quư tộc Thục rất cần để dựng lại cơ nghiệp về sau. V́ thế mà chú bé ấy không được xem là Con Vua Thục mà được tôn làm Vua Thục trong cộng đồng lưu vong Thục. Đó là Vua lưu vong bé tí hon.

Mặc dầu tài giỏi, bọn lưu vong vẫn chưa đủ sức vẫy vùng, nhứt là Tần lại quật cường, làm bá chủ Trung Hoa và mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Vậy họ âm thầm đợi. Ông vua Thục lưu vong ấy chết đi, có thể để lại một đứa con trai, có thể quả thật tên là Phán như Ngô Sĩ Liên đă chép, nhưng không phải họ Thục như họ Ngô đă lầm. Hắn ta đích thị là con vua Thục, một từ ngữ có vẻ bí hiểm của cổ sử Tàu mà ta không tin, v́ biết cha con của vua Thục đă bị giết từ năm 316 T.C. rồi. Nhưng vua đây, chỉ là ông vua lưu vong, chớ không phải là ông vua vong quốc và con là con của vua lưu vong đó, tức cháu nội của vua vong quốc.

Thế th́ mấy tiếng “Thục Vương tử” đă được giải thích ổn thoả.

Năm mà kẻ tên Phán ấy 23 tuổi là năm 268 trước Tây lịch. Mười một năm sau, tức năm ông ấy 34 tuổi, ông ấy mới cất quân đánh Hùng Vương thứ 18. Đó là vào năm 257 T.K.

Năm ấy nhà Chu chưa bị diệt và chư hầu Tần vừa bị thua một trận lớn do Tin Lăng Quân của nước Nguỵ chủ phá.

Nhưng thời cuộc ở nước Tàu thật ra th́ không liên hệ tới thời cuộc của vùng dưới nầy.

Do đâu mà Thục Vương tử mộ quân Tây Âu được? Bọn quư tộc có thoát được đông hàng ngàn, cũng chỉ là sĩ quan. Lính phải là người bản xứ.

Sự kiện những vua lưu vong được các nước tiếp khách giúp đỡ cho, không thiếu, trong lịch sử thế giới. Phương chi như đă nói, dân Thục lưu vong lại tài ba, hoạt động nhiều để được sự giúp đỡ ấy bằng cách giúp cán bộ cho cái nước Tây Âu ở Lưỡng Quảng. Nước Thục là nước phát minh nhiều thứ công nghệ như đă nói th́ hẳn họ có nhiều cán bộ để cho vua Trạch Hu Tống mượn hầu đổi lấy quyền mộ binh.

Sự giúp đỡ của Tây Âu thật ra chỉ là việc nhắm mắt cho họ mộ quân bằng vàng mà họ mang theo.

Thục Vương tử đánh Hùng Vương để chi?

Nói nước Thục văn minh và hùng cường, nhưng dầu sao họ cũng đă bị Tần cướp nước, tức Tần c̣n giỏi hơn họ nữa. Trong t́nh thế đó, họ không hy vọng khôi phục lại cơ đồ th́ chỉ c̣n cách cướp nước khác, vẫn hơn là ở trọ nước Tây Âu măi. Cũng nên biết rằng người Hẹ được người Hoa Nam gọi là Khách từ thuở ấy cho tới bây giờ. Đó là khách được ưu đăi, nhưng vẫn cứ là Khách, không có quyền như chủ nhà.

(Dân ta cũng có danh từ “Khách” nhưng chắc chắn là danh từ của ta trỏ người Tàu mới đến sau khi Đinh Bộ Lĩnh thu hồi độc lập, c̣n người Khách của Tây Âu th́ đă đến xứ ta với tư cách kẻ xâm lăng mà có lẽ tổ tiên ta phải gọi họ là chủ chớ không phải khách).

Vậy Thục Vương tử đă mộ quân được và sử liệu về sự thù hiềm hỏi vợ thất bại của Thục Phán, cũng là sự thật… ở bên ngoài. Kẻ tên Phán ấy chỉ mượn cớ đó để đánh Hùng Vương mà thôi.

Đó là một cuộc xâm lăng, nhưng kẻ xâm lăng, từ thủ lĩnh (Thục) đến lính (Tây Âu) đều đồng chủng với ta, chủng Mă Lai tức Âu, tức Thái, thế nên kẻ xâm lăng thắng trận rồi, không diệt Lạc Hầu, Lạc tướng hai cấp cán bộ của vua Hùng Vương, v́ họ cũng có chế độ y như vậy và rất cần hai cấp đó. Họ cũng không đặt tên nước một cách mới lạ, mà đặt là Âu Lạc, tức nước mà dân Âu lănh đạo dân Lạc, chớ không phải nước Tây Âu nhập với dân Lạc Việt. Nhưng chỉ có họp tên mà không có sáp nhập đất như H. Maspéro đă viết v́ ông Phán không dại mà đi cướp đất để dâng cho Trạch Hu Tống hưởng.

Nếu có sáp nhập đất đai th́ chỉ có một ông vua là vua Trạch Hu Tống, c̣n tên Phán thắng trận chỉ là tướng mà thôi. Nhưng sử Tàu chép rằng có hai ông vua cai trị song song với nhau vào thời ấy th́ không làm sao có sáp nhập đất đai được.

Các sử gia, bắt đầu từ Tư Mă Thiên, đều hiểu lầm một cách vô lư rằng có sự sáp nhập đất đai, nhưng nếu có sáp nhập th́ làm sao mà có hai ông vua cai trị song song với nhau tại hai nơi, và ông An Dương Vương vẫn toàn quyền độc lập chớ không hề là phó vương của Trạch Hu Tống.

Cổ sử Tàu xét ra th́ rất rơ, chỉ tại các ông sử gia về sau suy luận tầm ruồng nên mới tưởng tượng ra sự sáp nhập đó, và Tư Mă Thiên lại đi xa hơn, tưởng tượng xong, họ Tư Mă lại bịa thêm một địa danh là Tây Âu Lạc để ngầm nói là có sáp nhập (nhưng lại bịa sai nguyên tắc là lấy tên một nước ghép với tên một dân tộc, chớ nếu bịa đúng th́ phải là Tây Lạc mới được).

Có lẽ họ Tư Mă cho đó là đất man mọi, đă thành các quận huyện của Tàu rồi th́ viết sao cũng được, có sai chút đỉnh cũng chẳng việc ǵ, bởi những nơi ấy sẽ là đất của Tàu một trăm phần trăm với các tên khác, chẳng ai buồn biết tới sử của các nơi ấy mà chi. Không dè nó lại không thành đất Tàu, và trái lại, nó có tham vọng biết chắc về nguồn gốc của nó, nó ṭ ṃ, lần ḍ, lục lạo tỉ mỉ, và làm cho ḷi ra cái sự viết liều của ông ta.

Cũng xin nhắc lại rằng trong chương đó Tư Mă Thiên cũng chỉ dùng có một lần cái danh xưng bịa kỳ khôi ấy mà thôi, c̣n th́ ông tiếp tục gọi đất phía Tây của Triệu Đà là Âu Lạc, chớ không nói lần thứ nh́ là Tây Âu Lạc nữa, v́ lẽ ǵ th́ chúng tôi đă giải thích rồi: ông ta chợt thấy ḿnh ghép chữ sai, nhưng không thể bôi xoá được mà cũng lười bỏ cả để viết lại trọn quyển.

Và cũng xin nhắc rằng Ban Cố th́ lại khác, gọi phía Tây của Triệu Đà là Tây Âu. Nhưng hai ông đó không có sai, cũng không có mâu thuẫn với nhau.

Họ chỉ hai nơi khác nhau chớ không phải một.

Tư Mă Thiên: “Kỳ Tây, Âu Lạc…”

Ban Cố: “Tây hữu Tây Âu…”

Họ nói đến các vùng phía Tây của quận Nam Hải, các vùng đó giống nhau về phong tục, về y phục, Tây Âu và Âu Lạc đều có thói ăn, nếp ở như nhau, th́ chỉ nước nào cũng được, cũng đúng cả, chớ không phải là họ xem hai địa danh đó đồng nghĩa, cùng chỉ một nước.

Và cũng xin nói rơ là Triệu Đà chỉ chiếm được có quận Nam Hải. Phần đất c̣n lại của nước Tây Âu được chính dân Tây Âu quật cường, quản trị và lănh đạo. Ban Cố gọi các phần đất c̣n lại đó là Tây Âu, là gọi đúng chớ không phải sai. Như ở nước ta hiện nay ta mất hết miền Bắc, nhưng phần c̣n lại ở miền Nam cũng cứ được ta và các nước khác gọi là Việt Nam.

Mà cả ở miền Bắc họ cũng xưng họ là Việt Nam và các nước bạn của họ cũng gọi miền Bắc là nước Việt Nam.

Nhiều sử gia không hiểu cái lẽ đó nên quá bối rối về địa danh Tây Âu. Tây Âu đă bị Tần diệt rồi, rồi lọt vào tay Triệu Đà, cớ sao lại cứ c̣n Tây Âu măi, khiến họ nghĩ Tây Âu là nước khác, mà cái nước khác đó chỉ có thể là Cổ Việt Nam.

Họ quên mất rằng Tây Âu của Tàu chỉ lọt vào tay Triệu Đà có 1/3, 2/3 c̣n lại được chính dân Tây Âu quật cường và lănh đạo hoặc bị hai ông quận trưởng (Giám) ở đó lănh đạo, cũng đồng cách với Triệu Đà là nổi loạn với chính quốc của họ, và cũng cứ c̣n được gọi là Tây Âu, v́ Triệu Đà không có cướp địa danh, mà lấy địa danh khác là Nam Việt, tại huyện Long Xuyên.

V́ Tư Mă Thiên tiền hậu bất nhứt nên H. Maspéro thấy rằng danh xưng Tây Âu Lạc của Tư Mă Thiên không thể dùng làm chứng tích được, nên ông phải viết chữ nho kỳ dị:

Kỳ, Tây Âu Lạc…

để cho danh xưng đó xuất hiện một cách mà ông ấy tưởng là ổn thoả hơn.

Nhưng nếu ổn thoả tạm th́ Tư Mă Thiên mới là ổn thoả, họ Tư Mă đưa ra cái danh xưng không có ấy là nói tắt theo Tàu rằng có sự sáp nhập đất đai của hai nước đó, sự kiện đúng hay sai không chưa biết, nhưng lối nói tắt của Tàu là như thế đó.

Người Tàu không ưa cắt nghĩa dài ḍng. Đưa ra một danh xưng mới là đă nói thầm lên rất nhiều việc, không riêng ǵ Khổng Tử đă làm như vậy trong Xuân Thu, mà tất cả các tác giả Tàu xưa đều làm như vậy hết. Cả dân chúng cũng làm như vậy nữa.

Chẳng hạn dân chúng có lối tả kỳ dị như sau đây: Tỵ ẩm = Uống bằng mũi. Nhưng làm thế nào để uống bằng mũi được kia chớ?

Đó là họ tả người man di chưa biết dùng chén bát, cúi mặt xuống ḍng nước để uống bằng… miệng, nhưng mũi chạm phải nước luôn luôn.

Kể ra th́ họ cũng giỏi lắm, bởi không thể diễn cách nào khác hơn được để nói ra 24 tiếng mà chỉ phải dùng có hai chữ.

Ông H. Maspéro không biết lối ăn nói co rút như vậy nên ông không dám dùng danh xưng mà Tư Mă Thiên đă đưa ra, nhưng họ Tư Mă có đầy đủ lư do để tạo một danh xưng, chỉ có điều là lời giải thích thầm lặng, chứa đựng trong đó, không đúng với sự kiện mà thôi.

Đây là một điểm sử cần được phanh phui, v́ có quá nhiều cuốn sử của Tàu và ta nói rằng có sự kiện sáp nhập đất đai giữa Tây Âu và Âu Lạc. Nhưng hai lư do mà chúng tôi đă đưa ra, đính chánh mạnh sự ngộ nhận đó. Xin nhắc lại hai lư do:

A)    Tên Phán không dại mà chinh chiến khó nhọc để dâng kết quả cho Trạch Hu Tống, khi y chỉ là thường dân ở trọ, chớ không hề là quan là tướng của Trạch Hu Tống.

B)     Sử Tàu nói là y xưng Vương và toàn quyền độc lập, không hề là phó vương của Trạch Hu Tống, như vậy th́ không có thể có một cuộc sáp nhập lỏng lẻo nào hết.

Ta lại cần phanh phui điểm sử nầy v́ bao nhiêu ngộ nhận về Âu Lạc và Tây Âu đều do danh xưng bịa càn Tây Âu Lạc của Tư Mă Thiên mà ra cả.

Nếu không có danh xưng bịa đó th́ đâu đă ra đấy, ông H. Maspéro, ông L. Aurousseau, ông Trần Kinh Hoà, v.v. sẽ không hiểu lầm Tây Âu là Âu Lạc, là Tây Vu, là Thượng du Bắc Kỳ, v.v, và v.v.

Nhưng Tư Mă Thiên không là chánh phạm, tại các sử gia ấy thiếu tinh thần khoa học đó thôi, v́ sử Tàu chép rơ rằng họ chỉ chinh phục được có ba nước chớ không phải bốn, rơ như ban ngày, thế mà các ông lại đưa một quốc gia thứ tư vào là Âu Lạc.

Mà cũng có ông hiểu rằng Tây Âu đích thực là Âu Lạc mới chết chớ. Nhưng hiểu như thế làm sao được, nước Âu Lạc chỉ nhỏ bằng bàn tay (nguyên văn của vua trào Trần) th́ làm sao mà chứa nổi ba quận, mỗi quận lớn hơn cả toàn quốc Việt Nam ngày nay nữa.

(Một vài sử gia ta và Pháp cho rằng sử Tàu bịa ra An Dương Vương. Thử hỏi các sử gia Trung Hoa bịa ra An Dương Vương để làm ǵ? Và một nhơn vật chỉ xuất hiện một vài năm, c̣n có thể bịa được chớ một nhơn vật đă cai trị nửa thế kỷ th́ không sao bịa mà khỏi bị người đồng thời hoặc các sử quan khác tố cáo.

Hơn thế, cái nhơn vật An Dương Vương đó không hề giúp cho Trung Hoa hănh diện chút nào về phương diện nào hết th́ họ không có lư do bịa ra ông ấy).

Thuyết về An Dương Vương trên đây không ổn nếu tin theo Tư Mă Thiên. Tác giả Sử Kư viết rằng Triệu Đà diệt An Dương Vương năm 180 T.K.

Thế th́ vua An Dương Vương đă 100 tuổi rồi vào năm đó, th́ c̣n làm sao mà đánh giặc được? Nhưng Tư Mă Thiên đă viết sai sự thật. Quả thật thế, Triệu Đà đă qua đời năm 137 trước Kitô kỷ nguyên. Ông ta ở ngôi được 70 năm. Đó là hai điểm chắc chắn. Như vậy năm ông ta diệt An Dương Vương và lên ngôi phải là: 137 + 70 = 207 trước Kitô kỷ nguyên. Năm 180 th́ Triệu Đà chưa làm tri huyện (Uư).

Sai lầm rơ ràng nầy của Tư Mă Thiên, cho thấy rằng không phải luôn luôn Sử Kư viết đúng sự thật như nhiều sử gia đă tin và lấy Sử Kư làm tài liệu căn bản.

Xin “biên niên” lại tất cả mọi sự kiện để kiểm soát thử xem:

Nước Thục bị diệt                                        năm 316 trước T.K.

Thục Vương tử lưu vong thứ nhứt sanh   năm 315       -

Thục Vương tôn mà cũng cứ được gọi là

Thục Vương tử, tên là Phán sanh              năm 290       -

Phán hưng binh để diệt Hùng Vương 18             năm 257       -

Phán lên ngôi lấy hiệu An Dương Vương            năm 257       -

An Dương Vương bị Triệu Đà diệt                        năm 207       -

 

Nhưng không nên quên sự kiện nầy là Phán chỉ đặt lại tên của nước Văn Lang mà không bao giờ có sáp nhập Văn Lang vào Tây Âu.

Ta nên thử tưởng tượng ra điều nầy. Sau khi An Dương Vương diệt Hùng Vương 18 rồi th́ chưa có danh xưng Âu Lạc mà cũng cứ chỉ có danh xưng Văn Lang mà thôi, và trong giây phút mà An Dương Vương nghĩ ra một danh xưng mới, cũng chưa có danh xưng Âu Lạc th́ làm sao mà có được Tây Âu + Âu Lạc.

Trong cái giây phút đó th́ An Dương Vương nghĩ đến hai giải pháp:

1.      Nhập tên hai nước lại. Mà như vậy th́ phải là Tây Văn hoặc Tây Lang.

2.      Nhập tên hai dân lại. Như vậy th́: Âu + Lạc.

Ông đă chọn giải pháp thứ nh́ v́ giải pháp thứ nhứt ông không có quyền dùng cũng không được phép lạm dụng tên của một cường quốc đă cho ông ở trọ.

Không thể có giải pháp thứ ba là Tây Âu + Âu Lạc v́ trong giây phút đó chưa hề có danh xưng Âu Lạc kể cả trong ư nghĩ thầm kín của ông ấy nữa.

Có thế nào mà cải Văn Lang lại thành Âu Lạc rồi mới có việc sáp nhập tên hay chăng? Không. V́ không có lư do, vả lại nếu có th́ phải:

Tây Âu + Âu Lạc = Tây Lạc

chớ không không làm sao mà Tây Âu Lạc được cả.

Chúng tôi c̣n nhớ khi làng của chúng tôi là làng Tân Uyên nhập với làng quá nhỏ ở liên ranh, tên là làng Hiệp Hưng, hương chức hội tề của hai làng đă căi nhau đến một năm mới xong cái tên mới của làng, khiến hành chánh tỉnh đă phải sốt ruột và thúc giục, cảnh cáo nhiều phen.

Người ta chọn năm tên tất cả:

1.      Tân Uyên + Hiệp Hưng = Tân Hiệp

2.      Tân Uyên + Hiệp Hưng = Tân Hưng

3.      Tân Uyên + Hiệp Hưng = Hiệp Tân

4.      Tân Uyên + Hiệp Hưng = Hưng Tân

5.      Tân Uyên + Hiệp Hưng = Hiệp Uyên

Rốt cuộc danh xưng Uyên Hưng ra đời, từ 40 năm nay, v́ dân làng Tân Uyên bám níu vào chữ Uyên quan trọng, nó tả địa h́nh của làng cạnh bên bờ vực cao của sông Đồng Nai.

Nhưng Hiệp Uyên th́ không ổn v́ dân làng Hiệp Hưng bám níu vào chữ Hưng của họ. Các tên khác th́ quá xoàng như Tân Hiệp, Tân Hưng, v.v.

Tên của một làng tăm tối mà c̣n như thế đó, th́ tên nước không phải muốn đặt sao th́ đặt mà không kể đến quá nhiều yếu tố chống chọi với nhau. Phương chi Trạch Hu Tống lại là vua của một đại cường quốc đă hạ sát được tổng tư lịnh của đạo binh viễn chinh của Tần Thỉ Hoàng, th́ ông ta hẳn có nhiều đ̣i hỏi, c̣n An Dương Vương vừa thắng trận, vừa có nước, không phải là dễ sai khiến.

Chỉ vào lúc Triệu Đà diệt An Dương Vương rồi th́ mới có sáp nhập, nhưng lại sáp nhập dưới một cái tên mới lạ hoàn toàn: Nam Việt.

Ở đây, vấn đề Tượng Quận lại bỗng hoá ra hết quan trọng nếu chứng minh được rằng Tần không có chiếm Âu Lạc th́ thuyết Tượng Quận là Cổ Việt Nam tự nhiên phải đổ vỡ, bởi hễ không chiếm Âu Lạc th́ không làm sao mà biến Âu Lạc thành Tượng Quận được cả.

Nếu Âu Lạc có đầu hàng nhà Tần như vài quyển sử đă nói và An Dương Vương chịu làm quan Giám quận để được yên thân th́ hẳn sử có chép đến quan Giám An Dương Vương, cai trị Tượng Quận, đằng nầy sử cứ tiếp tục gọi ông là vua nước Âu Lạc th́ cũng không có vấn đề Tàu biến Âu Lạc ra Tượng Quận, không bằng chiến tranh, mà bằng sự ưng thuận của An Dương Vương.

Tưởng như thế, đủ chứng minh rằng Tây Âu hay Tượng Quận ǵ cũng không hề dính líu đến cổ Việt Nam.

Nhưng, như đă nói, Lăo Cán đă trưng ra đầy đủ văn kiện cổ để chỉ Tượng Quận là ở đâu rồi th́ suy luận nữa cũng bằng thừa.

Chúng tôi chỉ đưa thêm chứng tích để củng cố thêm tài liệu của Lăo Cán mà thôi, v́ tài liệu đó ít ai có để mà đọc, nhưng đọc chứng tích của chúng tôi tưởng cũng đủ, hơn thế nó lại mới lạ hơn của Lăo Cán, Lăo Cán chỉ chép tài liệu cổ trực tiếp c̣n chúng tôi th́ tŕnh tài liệu cổ gián tiếp, tuy là gián tiếp, nhưng rất vững.

Chúng tôi lại đi xa hơn Lăo Cán là chứng minh được về sự kiện Âu Lạc và Tây Âu là hai nước khác nhau, và Tần không có bao giờ đánh Âu Lạc cả, trong khi Lăo Cán chỉ chứng minh được về Tượng Quận mà thôi.

 

Bằng chứng thứ nhứt

Trước khi t́m được tài liệu cổ kim đính chánh Tượng Quận là cổ Việt Nam, và Tây Âu là Âu Lạc, chúng tôi có thử t́m, bằng toán pháp, và nay so lại th́ kết quả của sự t́m ṭi của chúng tôi ăn khớp với sự thật ḷi ra ở những bằng chứng sử liệu Tàu.

Chúng ta nên viết tắt các tên quận đời Tần và các quận đời Hán đợt đầu như sau đây, các quận nầy đều ở Hoa Nam và trong đó có nước Tây Âu.

                           Nam Hải           = NH

Tần                     Quế Lâm           = QL

                           Tượng Quận     = TQ

 

                           Nam Hải           = NH

                           Uất Lâm            = UL

                           Thương Ngô     = TN

Hán đợt I           Giao Chỉ            = GC

                           Cửu Chơn         = CC

                           Nhựt Nam        = NN

                           Hợp Phố            = HP

Nói đời Hán đợt đầu v́ ở đợt đầu, Hán chưa chinh phục Hải Nam và chưa có hai quận Châu Nhai, Thiềm Nhĩ, nên mới có 7 quận thôi, chớ không phải 9 như Ngô Th́ Sĩ đă chép sai.

Ta đặt ra phương tŕnh sau đây:

TẦN                                                     HÁN

 NH + QL + TQ        =     NH + UL + GC + CC + NN + HP + TN

Ta loại lần các quận trùng nhau ở cả hai vế. Ṿng loại đầu, ta bỏ Nam HảiQuế Lâm ở cả hai bên v́ hai quận đó giống nhau ở cả hai đời Tần và Hán. Ta c̣n:

TQ = GC + CC + NN + HP + TN

Ta lại bỏ GC + CC + NN là đất cổ Việt vừa được tướng Hán là Lộ Bác Đức mới chiếm, đời Tần chưa có, ta c̣n:

TQ = HP + TN

Biết rằng Hợp Phố là quận đặt sau, cắt bớt đất Giao Chỉ và Nam Hải mà lập ra, ta bỏ HP. Vậy ta c̣n:

TQ = TN

Tượng Quận = Thương Ngô

Bài toán trên đây rất phù hợp với sử liệu đời Hán, v́ sau cuộc thắng trận của Lộ Bác Đức th́ Tượng Quận biến mất ở vùng đó mà Thương Ngô lại xuất hiện. Nếu không ai biết Tượng Quận và Thương Ngô ở đâu th́ Thương Ngô là tên mới của Tượng Quận rồi, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Đành rằng Giao Chỉ, Cửu Chơn, Nhựt Nam cũng mới xuất hiện, nhưng ai cũng biết đó là đất mới chiếm và ta biết vị trí, c̣n Thương Ngô th́ tại không biết ở đâu th́ Thương Ngô là Tượng Quận vậy. Hán không có chiếm đất nào mới hơn là Giao Chỉ, Cửu Chơn, Nhựt Nam, th́ một danh xưng mới, phải là tên mới của một đất cũ mà danh xưng biến mất.

Lại xin nhắc rằng cái Tượng Quận bị cắt làm hai nhập vào Uất Lâm và Tràng Sa về sau đó là Tượng Quận đời Hán, không dính líu ǵ đến Tượng Quận đời Tần là Thương Ngô. Nhưng cả hai Tượng Quận nầy đều không khác nhau bao nhiêu như ta đă thấy ở ám chỉ về nghiên cứu của Lăo Cán.

Nay truy ra th́ Thương Ngô nằm giữa Vân Nam và Quảng Tây ở sát Hạ chí Tuyến; về mặt Bắc của Hạ chí tuyến.

Thương Ngô sản xuất rất nhiều voi, mà nếu quả Tượng Quận là quận có nhiều voi th́ Thương Ngô không trái với sự kiện voi.

Toàn thể các nhà bác học đều bị ám ảnh v́ loài voi, nhưng chưa chắc nhà Tần đặt tên như thế là v́ loài thú đó. Dưới thời Xuân Thu, ở nước Vệ có Tượng Ấp, nhưng nước Vệ ở măi tận Hoa Bắc, nơi đó không có con voi nào cả th́ bảo sao?

Nhưng nếu muốn voi, cứ được voi, v́ dầu sao Thương Ngô cũng vẫn là nơi sản xuất voi chớ không riêng ǵ “Bắc Kỳ”, mà c̣n trái lại nữa. Bắc Việt chưa bao giờ có nhiều voi, từ cổ đến kim, nơi đó không hề nổi danh v́ voi.

Nhưng một tài liệu cổ Trung Hoa mà chúng tôi moi ra, cho biết Tượng là ǵ. Đó là một điều mà không ai chú ư đến cả.

Sách Lễ Kư, chương Vương Chế, cho biết rằng người Tàu các đời Hạ, Thương, Chu, gọi

phương Đông là       Kỳ,

phương Nam là        Tượng,

phương Tây là          Đích Đề,

phương Bắc là          Dịch.

Lễ Kư lại c̣n cho biết thêm rằng dưới đời Chu có một chức quan tên là Tượng , quan ấy có nhiệm vụ trông nom việc bang giao với các man di ở phương Nam.

Vậy Tượng Quận chỉ có nghĩa là một quận ở phương Nam, chớ chẳng liên hệ ǵ tới voi cả mà bao nhiêu học giả cứ nói đến voi măi.

C̣n cái huyện Tượng Lâm của quận Nhựt Nam (Huế) th́ mới có thể là huyện Rừng Voi, v́ quả ở đó có voi nhiều và nghĩa cũ của chữ Tượng = Phương Nam cũng đă mất rồi vào năm nhà Hán đặt tên cho huyện Tượng Lâm.

Tới đây th́ các ông quả quyết rằng Tượng Quận là Nhựt Nam, v́ ở đó có huyện Tượng Lâm, là những ông quả quyết liều.

Viết sử bằng cảm giác Tượng là voi không có ǵ nguy hiểm bằng.

Danh từ Tượng bị hiểu lầm là voi, giống tiếp đầu ngữ Austro bị hiểu lầm là Úc Châu, nhưng cả hai chỉ có nghĩa là Phương Nam.

 

 

Bằng chứng thứ II

Bằng chứng nầy của ông L. Bézacier, nguyên quản thủ các di tích lịch sử Việt Nam cho tới năm 1944: “Tất cả những ngôi mộ cổ của quan Tàu ở Đông Dương, toàn là mộ đời Hậu Hán về sau (tức từ sau Mă Viện). Không hề có mộ Trung Hoa cổ từ thời Mă Viện về trước”.

Thế nghĩa làm sao? Rất dễ thấy sự thật. Từ đời Tần cho đến Mă Viện, không có quan Tàu sang nước ta. Nếu nước ta là Tây Âu, là Tượng Quận như các ông nói th́ họ đă có chiếm, đă có quan của họ chết và được chôn ở đó, và mộ quan phải c̣n.

Cũng không hề có dân Tàu di cư như các ông O. Jansé và Nguyễn Phương đă quả quyết rằng có, mà đừng tưởng rằng v́ dân di cư nghèo làm mộ đất mà không có dấu vết. Chính ông O. Jansé đă quả quyết rằng họ là rể của Lạc Tướng, Lạc Hầu, th́ họ phải là những nhơn vật Hoa Kiều rất quan trọng.

Suy luận viển vông, dựa vào sử liệu gián tiếp không sao thắng nổi khoa khảo cổ. Nhưng buồn cười lắm là chính ông O. Jansé làm công việc đào mồ cuốc mả, nhưng ông lại không biết thấy sự thật lịch sử ở đó, để cho người khác thấy là ông L. Bézacier, ông O. Jansé đă không thấy lại c̣n kết luận ngược lại là từ đời Chu đă có người Tàu đến làm rể của các lănh chúa (chefs féodaux) ở cổ Việt Nam rất đông. Có lẽ là Thi Sách, chồng bà Trưng chăng?

 

Bằng chứng thứ III

Bằng chứng nầy lại càng mạnh hơn v́ đó là sử của Tư Mă Thiên.

Chúng tôi thấy là Tư Mă Thiên viết sai sự thật rất nhiều. Tuy nhiên, cũng có vài điểm họ Tư Mă viết đúng, chớ không phải điểm nào cũng sai hết.

Về việc Tần đánh Ngũ Lĩnh tới đâu th́ ta có thể tin Tư Mă Thiên được v́ ta kiểm soát chặt chẽ th́ thấy ở đoạn đó Tư Mă Thiên không vô lư ở điểm nào hết.

Thế nên vừa công kích mạnh Tư Mă Thiên ở các trang trước ở đây chúng tôi lại đưa Tư Mă Thiên ra để làm nhân chứng với tinh thần vô tư và không thành kiến với sử gia đó, cái nào ông ấy sai th́ cứ công kích thẳng tay, nhưng cái nào ông ấy đúng th́ cần nghe theo ông ấy, không sợ bị mắng là khen chê bất nhứt.

Một người viết một bộ sử dày hàng ngàn trang, tất nhiên cũng viết đúng được chút ít, ta không nên thấy người ấy sai nhiều điểm quá rồi gạt quyển sử của người ấy ra một cách bất công.

Câu sử quan trọng chỉ đích xác Tượng Quận ở đâu, do chính ông L. Aurousseau t́m ra, nhưng ông lại không dùng câu ấy được, đúng theo nghĩa của nó, v́ ông không hiểu câu đó muốn nói ǵ.

Sử Kư của Tư Mă Thiên có một câu ngắn khẳng định về biên giới cực Nam của Ngũ Lĩnh dưới đời nhà Tần. Theo Sử Kư th́ sau khi chiếm xong Ngũ Lĩnh, biên giới cực Nam của nhà Tần là nơi mà thiên hạ cất nhà day cửa về hướng Bắc.

Tư Mă Thiên đă dùng từ ngữ bí hiểm là “Bắc Hộ” để diễn cái ư trên đây. Ông L. Aurousseau là giáo sư chữ Nho, ông hiểu “Bắc Hộ” là cất nhà day cửa về hướng Bắc, nhưng ông lại không biết cái thiên văn sai lầm mà Tư Mă Thiên đă biết. Hơn thế, ông không hề nghe nói có một nơi nào mà dân chúng cất nhà kỳ dị như vậy, nên ông cho là Tư Mă Thiên bịa, nên ông bỏ qua, đi phỏng đoán cho sai sự thật.

Theo khoa thiên văn thật đúng th́ trên trái đất, vào những giờ trưa và vào vài ngày nào đó trong một năm, nói đích xác là vào những ngày Hạ chí (Soistice d’été) có những nơi mà con người thấy mặt trời nằm ở hướng Bắc của họ.

Người Tàu đă biết điểm thiên văn ấy rồi, vào thuở đó. Nhưng những nơi ấy là những nơi nào th́ người Tàu chỉ bắt đầu biết chắc vào đời Tần mà thôi, bằng cách đặt Nhật Khuê (Ngomon) tại Phiên Ngung, sau khi chiếm trọn Ngũ Lĩnh. Có lẽ đó là lư thuyết thiên văn của Hy Lạp mà người Tàu học được, nhưng họ có kiểm soát lại, không biết họ bắt đầu kiểm soát từ thời nào, nhưng họ chỉ thành công sau cuộc chinh phục của Tần Thỉ Hoàng mà thôi và họ thấy rằng lư thuyết ấy đúng, v́ khi đặt nhật khuê tại Phiên Ngung th́ họ thấy hiện tượng đó xảy ra.

Đó là nơi mà ngày nay khoa thiên văn gọi là Hạ chí Tuyến Bắc (Tropiques Nord du Cancer). Hạ chí Tuyến Bắc chạy ngang thành Phiên Ngung, ở dưới Quảng Đông tỉnh lỵ ngày nay chừng một cây số.

Tư Mă Thiên chỉ mới biết tới đó mà thôi rồi ông chết đi. Những kiểm soát về sau, do Mă Viện thực hiện, ông không được hưởng.

Đám trí thức Tần nằm nhà, nghe tin sự thành công khoa học ấy, bày ra cái huyền thoại nầy là dân ở đó cất nhà day mặt hướng Bắc v́ họ suy luận theo lối Tàu rằng hễ khi mà mặt trời nằm ở hướng Bắc của con người th́ hẳn con người phải day cửa hướng Bắc để hưởng mặt trời. Họ không biết rằng hiện tượng ấy chỉ xảy ra có vài ngày trong một năm, và có vài giờ trong vài ngày đó, th́ dân không dại ǵ mà cất nhà như vậy.

Huyền thoại “Bắc Hộ” chắc không phải do Tư Mă Thiên bịa ra, nhưng ông đă dùng huyền thoại đó trong Sử Kư.

Tư Mă Thiên không phải là một người nằm nhà, ông đă đi nhiều nhứt trong các sử gia Tàu, nhưng ông tự thú rằng về phía Nam, ông chỉ đi tới Giang Hoài (Sử Kư). Như vậy, ông dùng huyền thoại là chuyện dĩ nhiên, bởi ông không thấy cảnh vật Phiên Ngung.

Soạn giả Sử Kư chết đi với cái huyền thoại thứ nhứt đó.

Rồi Mă Viện lớn lên, đi viễn chinh, kiểm soát lại, và một huyền thoại thứ nh́ lại ra đời.

Xin nhắc rằng sử nhà nước của Tàu chép rằng Mă Viện đuổi theo tàn quân của hai bà Trưng đến Cư Phong diệt được họ rồi thôi.

Nhưng những quyển sử không chính thức, thí dụ quyển Thủy Kinh Chú, th́ lại chép tỉ mỉ rằng Mă Viện c̣n đi nữa, đi cho tới cực Nam của quận Nhựt Nam mới thôi, cái phần sau đó Thủy Kinh Chú viết rất dài, chớ không phải chỉ có 6 chữ như Hậu Hán thư.

Tác giả Thủy Kinh Chú, Lệ Đạo Nguyên, là một thứ sử Giao Chỉ. Suốt nhiệm kỳ của ông ấy, ông không có làm ǵ quan trọng cả, mà dân ta cũng không có nổi loạn, nên sử Tàu không hề nói đến tên ông, sau sắc phong thứ sử. Nhưng ông có viết một quyển sách rất quan trọng đối với dân ta, đó là quyển Thủy Kinh Chú, trong đó việc Mă Viện đi xa xuống phương Nam, được ghi chép tỉ mỉ từng li, từng tí, khó có thể nói rằng ông bịa. Sở dĩ sử nhà nước không chép đoạn sử ấy v́ một bí mật quốc gia của Tàu sẽ được tiết lộ ở chương Bí mật Mă Viện.

Mă Viện không có đánh ai cả, từ Cư Phong đổ xuống, nhưng ông có hai sứ mạng khoa học mà chúng tôi chỉ kể ra đây sứ mạng thứ nhứt mà thôi, là đặt nhật khuê để kiểm soát thêm về lư thuyết thiên văn nói trên.

Mă Viện đă đặt thêm hai nhật khuê, một ở Giao Chỉ và một ở Huyện Tỵ Ảnh, quận Nhựt Nam.

Vài quyển sử ta viết về phong tục người Chàm, thường nói đến vụ cất nhà day mặt hướng Bắc của người Chàm. Họ viết theo các sử gia Tàu sai lầm, chớ sự kiện ấy không hề có bao giờ.

Sự thật khoa học nầy, Mă Viện chỉ biết có 1 phần 10, v́ hiện tượng ấy kéo dài cho đến đường xích đạo, tức cách Phiên Ngung 5 ngàn cây số, cách Nhựt Nam 4.000 cây số.

Mă Viện rất cẩn thận, và ông biết rằng hiện tượng mặt trời ở hướng Bắc của con người vào buổi trưa, chỉ xảy ra có vài giờ trong vài ngày của một năm mà thôi.

Thấy rơ là sự hiểu biết về thiên văn của người Tàu vào thuở đó c̣n thô sơ lắm; và chính v́ thế mà ông L. Aurousseau cho rằng Tư Mă Thiên bịa nên không dùng câu đó làm tài liệu, bởi trên thực tế, không ai lại dại mà cất nhà day mặt hướng Bắc để chỉ hưởng lợi được có mấy tiếng đồng hồ trong vài ngày của mỗi năm.

Mà cũng tại ông L. Aurousseau không biết cái tŕnh độ kém về thiên văn của Tư Mă Thiên, chớ nếu ông biết, ông đă cố t́m hiểu Tư Mă Thiên.

Mă Viện chợt thấy Tư Mă Thiên sai:

1.      Không có ai cất nhà day mặt về hướng Bắc cả, bất kỳ ở đâu.

2.      Nhiều nơi khác cũng đồng tánh cách với Phiên Ngung. Họ Mă đă đặt Nhật Khuê ở Giao Chỉ và Tỵ Ảnh. V́ thế mà chỗ đó mới được đặt tên là huyện Tỵ Ảnh. Tỵ Ảnh là trốn h́nh bóng của ḿnh hoặc bóng của ḿnh trốn mất, hoặc ḿnh che bóng của ḿnh vào giờ Ngọ v́ ở Hoa Bắc vào giờ Ngọ th́ bóng của con người ngă dài ra về hướng Bắc tức mặt trời ở hướng Nam con người chớ không có t́nh trạng Đứng bóng như ở Việt Nam. Tỵ Ảnh dịch thật đúng từ ngữ Đứng bóng của ta.

Cái quận Nhựt Nam (gồm huyện Tỵ Ảnh) sở dĩ trước kia được Lộ Bác Đức đặt tên như vậy v́ họ Lộ nghe đồn ở đó con người ở phía Nam của mặt trời c̣n nhiều hơn ở Phiên Ngung nữa.

Lộ Bác Đức cũng là một viên tướng nằm nhà. Diệt Triệu Đà xong, ông ta tiếp tục chánh sách của Triệu Đà, tức gởi đại diện Tàu xuống cai trị vùng dưới, vùng Cổ Việt, mà không hề dám ra khỏi thành Phiên Ngung v́ sợ cái nóng nhiệt đới.

Thế nên đặt tên quận, huyện, ông ta phải căn cứ trên lời đồn. Ông nghe đồn rằng ở dưới Cửu Chơn, hiện tượng mặt trời lại c̣n ở phía Bắc con người nhiều hơn ở Phiên Ngung nữa, nên ông tách quận Cửu Chơn quá dài thành hai quận, phía dưới là Nhựt Nam, có nghĩa là mặt trời của phương Nam rất độc đáo, chớ không phải là mặt trời nằm ở phía Nam con người, v́ như đă nói, càng đi xuống, mặt trời càng ở phía Bắc của con người vào mùa Hạ chí.

Tóm lại, Tư Mă Thiên chỉ biết có t́nh h́nh khí tượng Phiên Ngung là nơi mà nhà Tần đă thí nghiệm xong. Nhưng nếu họ Tư Mă biết nhiều hơn th́ ông ấy cũng sẽ nói Phiên Ngung là nơi “Bắc Hộ”, v́ biên giới là một lằn mức mỏng như sợi chỉ, chớ không thể là một phần đất dài 5.000 cây số được. Như vậy muốn lấy thiên văn để chỉ cái lằn mức đó, người viết sử chỉ có thể dùng hai nơi là nơi bắt đầu và nơi cuối cùng v́ hai nơi đó có tánh cách tiêu biểu, tánh cách tượng trưng. Nơi cuối cùng là đường xích đạo, nơi bắt đầu là thành Phiên Ngung.

Ngày xưa ở Trung Hoa (mà cho cả ở Địa Trung Hải cũng thế) những nhà sử địa thường dùng thiên văn để định vị trí của những nơi xa xôi đối với xứ của tác giả.

Như vậy Tư Mă Thiên không có làm việc trái đời chút nào hết, mà làm đúng theo phương pháp thuở đó khi lấy hai tiếng “Bắc Hộ” để chỉ biên giới cực Nam của nước Tàu dưới đời Tần, sau trận Ngũ Lĩnh.

Chỉ rắc rối là cái khoa thiên văn ấy chỉ mới được kiểm soát lần đầu vào nơi bắt đầu của vùng nhiệt đới dài mười ngàn cây số mà thôi, vùng nầy chạy từ Phiên Ngung cho đến đường xích đạo là lên tới cực điểm rồi hạ xuống lần lần cho tới Nam Chí Tuyến (tropiques du Capricorne), chạy ngang giữa xứ Úc Đại Lợi, tổng cộng là 10 ngàn cây số là hết và phiền nữa là sự kiểm soát ấy lại bị huyền-thoại-hoá với vụ “Cất nhà day mặt hướng Bắc” ly kỳ ấy.

Chúng tôi nói rằng chỉ có thể dùng hai nơi là Hạ Chí Tuyến Bắc (tropiques Nord du Cancer) và đường xích đạo để làm nơi tiêu biểu cho lằn ranh giới. Nhưng có thế nào mà Tư Mă Thiên lại làm sai phương pháp, lấy một lằn mức ở Giao Chỉ hay không?

Không, bởi v́ sử Tàu chỉ nói đến việc đặt nhựt khuê tại Phiên Ngung dưới đời Tần mà không nói đến việc đặt ở nơi khác như đă nói vào thời Mă Viện.

Câu sử trên đây giải quyết một lượt đến hai vấn đề: Tượng Quận và Tây Âu. Khi biên giới cực Nam của Tàu mà nằm tại Hạ chí tuyến Bắc th́ Tần không có chiếm Âu Lạc, v́ Hạ chí Tuyến Bắc là Phiên Ngung.

Người đặt tên cho quận Nhựt Nam cũng bí hiểm không kém Tư Mă Thiên v́ Nhựt Nam cũng gây ngộ nhận.

Thứ nhứt, hai tiếng Nhựt Nam đă làm cho nhiều người hiểu sai rằng ở đó mặt trời ở phía Nam con người, mà thật ra th́ ở đó mặt trời ở phía Bắc của con người vào mùa Hạ chí.

Đă bảo Nhựt Nam là Mặt trời phương Nam độc đáo. Nhưng làm sao mà hiểu như vậy cho được chớ?

Các ông Tàu dùng chữ quá bí hiểm như vậy đó. Chính ở Hoa Bắc th́ hiện tượng Nhựt Nam mới xảy ra hằng ngày, nếu hiểu theo nghĩa thông thường Nhựt Nam là mặt trời ở phía Nam của con người.

Cũng như hiện tượng ban ngày mặt trời bị mặt trăng che, họ gọi là Nhật thực tức Mặt trời ăn. Sự thật th́ chính mặt trăng ăn mặt trời ấy chớ, và phải gọi là Nguyệt thực mới đúng cho. C̣n như muốn dùng chữ Nhật th́ phải nói Nhật bị thực mới ổn.

Lại c̣n Tỵ Ảnh nữa. Thật ra th́ chỉ có tại đường Xích đạo mới có thể đặt tên là Tỵ Ảnh, c̣n đứng về mặt tương đối th́ chính huyện Tượng Lâm tỵ ảnh nhiều hơn huyện Tỵ Ảnh, bởi huyện Tỵ Ảnh ở trên Tượng Lâm khá xa, tức ít Tỵ Ảnh hơn Tượng Lâm nhiều lắm.

Thấy rơ là họ đặt địa danh bậy bạ hết, và ai tin rằng Việt Thường là đất của dân Việt Thường đời Chu Công Đán là lầm to.

Thứ hai, lối đặt tên bậy bạ như vậy đă gây ngộ nhận cho vua Tàu một cách buồn cười và ngộ nghĩnh.

Sử Tàu chép rằng một ông quan ở Nhựt Nam được sang Tàu, được chầu vua, và vua Tàu hỏi có phải ở Nhựt Nam thiên hạ cất nhà day cửa hướng Bắc hay không? Người Nhựt Nam trả lời rằng làm ǵ có cái việc kỳ lạ như vậy, mỗi người day cửa theo hướng tiện lợi thôi chớ, như ở gần sông day cửa xuống sông, gần biển day cửa ra biển mà biển th́ ở hướng Đông.

Ở đây sự ngộ nhận lại chạy sang nẻo khác nữa và người ḿnh lại hoan hô ông Nhựt Nam ấy dữ lắm. Nguyên vua Tàu có tục bắt các phiên thần day về hướng Bắc để tỏ ư thần phục v́ hướng mà Trung Hoa cho là tốt, là đáng nh́n, là hướng Nam. V́ vậy mà người ḿnh ngỡ câu hỏi của vua Tàu có ẩn ư muốn biết người Nhựt Nam quả có thần phục nước Tàu đến mức mà cả toàn dân đều thực hiện cái lịnh day mặt hướng Bắc hay không, c̣n câu đáp của ông Nhựt Nam cũng có ẩn ư rằng dân Nhựt Nam không thần phục Trung Hoa.

Đó là một ngộ nhận, chớ thật ra, vua Trung Hoa chỉ hỏi thật t́nh v́ kém thiên văn và địa lư, c̣n ông Nhựt Nam cũng chỉ đáp thành thật mà thôi.

Ta lại ngộ nhận một lần thứ ba nữa, ta khen người Nhựt Nam đó biết binh vực cho tinh thần bất khuất… Việt Nam. Nhưng thật ra th́ Nhựt Nam là đất Chàm, mà ai cũng cứ tưởng là đất Việt. Ta sẽ thấy rơ ở chương Chàm. Nếu có kẻ nào binh vực cho nước nào th́ cái nước được binh vực là nước Chàm chớ không phải là nước Việt.

Nhưng không có ai binh vực ai cả, v́ kẻ đó là người Tàu.

Cái ông Nhựt Nam đó tên là Trương Trọng, không phải là người Việt Nam hay người Chàm. Ông ta là người Tàu và được bổ nhiệm làm quan ở Nhựt Nam. Có dịp về Lạc Dương chầu vua Tàu, nên mới có câu chuyện trên đây.

Như vậy th́ không có vấn đề “ái quốc”, vấn đề “binh vực thể thống quốc gia” như vài nhà học giả ta đă đưa ra để ca ngợi Trương Trọng. Đó chỉ là một ngộ nhận của vua Tàu, cả vua Tàu và Trương Trọng đều thành thật. Chỉ có ta là ngộ nhận thêm rằng vua Tàu quá tin nơi sự thần phục của “man di”, c̣n “man di Trương Trọng” th́ lại biết binh vực màu cờ xứ sở Việt Nam. Trương Trọng là người Tàu đi trị man di, c̣n Nhựt Nam cũng không phải là đất của Việt Nam vào thuở đó, hay nói cho đúng ra đó là thuộc địa mới của vua Hùng Vương, người Chàm c̣n đông đặc ở đó.

Người Tàu Trương Trọng binh vực màu cờ Việt Nam làm ǵ, khi ông là người Tàu di cư đến Hợp Phố và đi trị Chàm?

Kết luận: Nhà Tần không bao giờ có đánh chiếm đất Bắc Việt ngày nào hết, câu sử của Tư Mă Thiên đă đính chánh mạnh tất cả mọi thuyết.

Chúng tôi không hề nhắm mắt mà tin Tư Mă Thiên như có một số sử gia đă tin, nhưng riêng câu sử trên kia th́ Tư Mă Thiên phải được tin bằng lời bởi chúng tôi đă đưa ra nhiều sự kiện khác để chứng minh rằng nhà Tần không hề có chiếm Cổ Việt, tức Tư Mă Thiên bị kiểm soát cẩn thận.

Theo Ngô Sĩ Liên th́ vào đời Đường và đời Tống, Trung Hoa lại kiểm soát lại một lần nữa tại Giao Châu và Lâm Ấp. Và đây là nguyên văn họ Ngô:

“Tống dựng nêu (ngomon) tại Lâm Ấp th́ nh́n thấy mặt trời ở phía Bắc cây nêu 9 tấc 1 phân. Ở Giao Châu th́ bóng ở phía Nam cây nêu 3 tấc 3 phân.

Nhà Đường đo bóng mặt trời ngày Hạ chí. Ở Giao Châu th́ bóng ở phía Nam cây nêu, y như vào đời Tống”.

Nên biết rằng Ngô Sĩ Liên viết chữ Tàu nên phần trên của câu chuyện nầy có thể gây ngộ nhận, v́ chữ Tàu là một thứ văn tự nói không rành mạch. Làm thế nào mà người đời Tống có thể thấy mặt trời ở phía Bắc cây nêu 9 tấc 1 phân được? Nói như ở phần sau là thấy bóng mặt trời (ở phía Nam) tức thấy bóng cây, th́ ai cũng hiểu được hết.

Hễ bóng cây ở phía Nam (theo đoạn sau) th́ mặt trời phải ở phía Bắc, nhưng sự kiện mặt trời ở phía Bắc không thể thấy được th́ không nên viết như thế ở đoạn trước. Mà Tàu th́ lại viết như thế về đủ cả vấn đề, khiến ta đọc sách Tàu nhức đầu lắm.

*

*       *

Ở chương sau chúng ta sẽ biết thật rơ hơn nước Tây Âu về mặt chủng tộc học. Ở đây, chỉ tạm khẳng định rằng nước ấy chẳng dính líu ǵ hết đến Cổ Việt tức đến Âu Lạc.

Dầu sao đất của An Dương Vương cũng c̣n ở ngoài ṿng đô hộ của nhà Tần, và nước Trung Hoa không bao giờ có chiếm Cổ Việt trong cuộc viễn chinh của Đồ Thư như bài nghiên cứu dài 72 trang khổ lớn của ông L. Aurousseau đă muốn chứng minh, và nhiều sách ta chép theo.

Đây chỉ là sự thật lịch sử chớ không v́ tự ái quốc gia hay ǵ ǵ khác, bởi vua Tần Thỉ Hoàng vẫn hănh diện cho ta hơn là thua An Dương Vương. Nhưng ta đă nhận có bị An Dương Vương chinh phục vào thuở đó là v́ sự thật mà thôi.

Bị Tần Thỉ Hoàng chinh phục, không xấu hơn là bị Thục Phán chinh phục chút nào, trái lại, c̣n vinh diệu hơn, v́ Tần sử dụng đến nửa triệu quân c̣n Thục Phán th́ chỉ dùng có ba mươi ngàn. Nhưng chúng tôi cứ nỗ lực phủ nhận cuộc chinh phục của Tần Thỉ Hoàng là chỉ v́ sự thật.

 

Bằng chứng thứ IV

Đây là bằng chứng cuối cùng và quyết định, có giá trị hơn cả vụ Bắc Hộ huyền hoặc của Tư Mă Thiên nhiều lắm.

Quyển sách độc nhứt có tả rơ chiến trường Ngũ Lĩnh của Tần Thỉ Hoàng là quyển Hoài Nam Tử của Lưu An, và câu sử quan trọng nhứt cho biết Tần Thỉ Hoàng đánh tới đâu, nằm rơ trong đó.

Câu sử ấy đă được hầu hết các sử gia ta trích dẫn, nhưng họ chỉ dùng về mặt khác mà không bao giờ chú ư đến chiến trường, thế nên họ trích sót cái đoạn quan trọng nhứt mà chúng tôi sẽ trích ra đây. (Một ngày trước khi đưa cho nhà xuất bản tập bản thảo nầy th́ tôi thấy có một vị có trích đoạn đó, đó là giáo sư Nguyễn Đăng Thục trong tạp chí Sử Địa cuối năm 1970. Nhưng giáo sư lại có chú thích. Giáo sư trích đoạn đó, nhưng chẳng dùng nó để chứng minh cái ǵ, có lẽ v́ lúc dịch, tiện tay dịch hết câu vậy thôi, nhưng lời chú thích lại khiến người muốn dùng sẽ hiểu khác. Chúng tôi viết những ḍng nầy khi rượt theo nhà xuất bản để ghi thêm vào, và để nói rơ rằng chúng tôi chú thích khác và câu sử đó quan trọng lắm, khi chú thích đúng).

Đây, mấy chục chữ tối quan trọng đối với lịch sử ta: “Sai Uất Đồ Thư xuất 50 vạn quân, chia làm 5 đạo, một đóng ở Đàm Thành, một đóng ở Cửu Nghi, một đóng ở Phiên Ngung, một chận ở đất phía Nam, một đóng ở sông Dư Can”.

Những địa danh ở câu trên đây đều được ta biết, đại khái Dư Can ở Quảng Tây, Phiên Ngung ở Quảng Đông, Cửu Nghi ở Hồ Nam, Đàm Thành th́ có tự điển cho rằng cách phía Tây Phiên Ngung không xa nhưng giáo sư Nguyễn Đăng Thục cho rằng Đàm Thành ở tận măi trên núi Ngũ Lĩnh th́ hơi khả nghi v́ từ Ngũ Lĩnh đổ lên là đất của Tần, man di Việt có thua cũng không dám chạy lên đó mà phải đóng quân nơi đó. Nhưng Đàm Thành ở đâu, chú thích sai hay đúng không quan trọng.

Quan trọng nhứt là đất phía Nam mà trong nguyên văn là Nam .

Ông Nguyễn Đăng Thục chú thích rằng Na