Nguồn gốc  MĂ LAI của dân tộc VIỆT NAM

 

B́nh-nguyên Lộc

 

 

Với hơn hai trăm biểu đối chiếu sơ về ngôn ngữ Việt-Mă và nhiều khám phá mới lạ về thượng cổ 5000 năm của dân tộc Việt Nam.

 


Không có nền văn hóa nào nên tự thẹn, cũng không có nền văn hóa nào được phép khinh bỉ các nền văn hóa khác. Cũng như các sinh vật, các nhóm dân tộc đă trải qua nhiều giai đoạn tiến triển y hệt như nhau. Đôi khi chỉ nhờ những nguyên nhơn địa phương và ngẫu nhiên nó giúp vài dân tộc trội hẳn các dân tộc khác. Nhưng luôn luôn, ở tỷ độ lịch sử, những thành tích ấy, lớn hay nhỏ, dài hay ngắn hạn, không bao giờ ổn cố, và những nền văn minh tàn lụn, không c̣n làm sao mà đếm cho xiết nữa.

Vậy, người ta đi đến cái quan niệm là có một sự đồng đẳng căn bản nào ban đầu, chung cho cả nhân loại, đó là cái thực thể hạ tầng của những chênh lệch phụ thuộc khác.

Ở đây, cũng như ở các vấn đề khác, tự ty hoặc tự tôn mặc cảm đều không chính đáng.

Bác sĩ P. HUARD

Giáo sư Y khoa Hà Nội (Tiền chiến)

(Les chemins du raisonnement et de la logique en E.O.)

 

 

Nguyên văn:

 

Aucune culture ne doit avoir honte d’elle-même, pas plus qu’elle ne saurait mépriser les autres. Comme les êtres vivants, les groupes ethniques ont passé par les mêmes phases de développement. Souvent, ce sont des causes locales et fortuites qui ont permis à certains de dépasser franchement les autres. Presque toujours, à l’échelle historique, cette performance, plus ou moins réussie, ou plus on moins longue, ne s’est jamais definitivement stabilisée et on ne compte plus les civilisations mortes.

On arrive donc à la notion d’une certaine égalité de base, commune à tous les hommes, substrat sous-jacent à une foule d’inégalités.

Le complexe d’infériorité, ici comme ailleurs, n’est donc pas plus justifié que le complexe de supériorité.




Ngữ vựng riêng của sách nầy

 

Về vài danh từ, mỗi sách mỗi dùng khác nhau, nên chúng tôi xin tŕnh ra những danh từ của chúng tôi và đối chiếu với danh từ Pháp, Anh, Mỹ, Đức nếu cần, để khỏi gây ngộ nhận.

 

Ấn học:                      Hindianisme

Trung Hoa học:         Sinologie

Chủng tộc học:          Anthropologie physique và Raciologie (thay cho danh từ Nhân chủng học dùng hồi tiền chiến).

Dân tộc học:               Ethnologie, Ethnographie, Social anthropology - Cultural anthropology - Volkskunde (thay cho danh từ Nhân chủng học tiền chiến).

Nhơn thể tính:          Caractères anthropologiques

Thị tộc:                       Clan

Bộ lạc:                        Tribu

Chỉ số sọ:                   Indice crânien

Dung lượng sọ:         Capacité crânienne

Giả thiết:                    Conjecture

Giả thuyết:                Hypothèse

T.K.:                           Trước Kitô kỷ nguyên

S.K.:                           Sau Kitô kỷ nguyên.

 


Nguồn gốc Mă Lai của dân tộc Việt Nam

Chương I

Ba cuộc sa lầy

tinh thần khoa học

và ba chứng tích chủ lực

Công tŕnh khảo cứu về địa chất và tiền sử ở Việt Nam đă được các nhà bác học Âu Mỹ làm xong.

Về địa chất, những công tŕnh ấy được ba nhà trí thức Việt Nam là quư vị Trần Kim Thạch, Lê Quang Sáng và Lê Thị Đính rút tỉa đại cương để soạn thành một quyển sách mà chắc không có quyển nào khác nữa thay cho, tuy quá sơ lược, và có nhiều điểm không đúng lắm, nhưng vẫn giúp người đọc có ư niệm tổng quát và đại khái về đất đai của nước Việt Nam từ thời Hồng hoang đến ngày nay.

Đó là quyển Lịch sử thành lập đất Việt, phát hành đầu năm 1971. Đọc quyển sách ấy, ta thấy đất nước ta cổ hàng tỷ năm.

Đất th́ đă được biết đích xác, c̣n người?

Ḷng đất của ta xưa đă được biết rơ. Người xưa cũng được biết rơ không kém, nhưng nguồn gốc của tổ tiên ta th́ lại chưa thể biết được, v́ tổ tiên ta ở nơi khác mà đến (mà tổ tiên của dân tộc nào hiện nay cũng thế cả), hơn thế, chưa từng có nhà bác học nào ráp nối được những cái sọ cổ và đồ vật cổ với sọ của ta và đồ vật của ta, để chỉ người cổ nào là tổ tiên của ta v́ trong ḷng đất có hàng chục thứ người cổ khác nhau.

Muốn biết tổ tiên ta là ai th́ chỉ có một phương pháp độc nhứt mà khoa học nh́n nhận, đó là đối chiếu các thứ sọ người cổ và sọ của ta hiện nay.

Đó là công việc của sử gia chớ không phải của nhà khảo tiền sử, nên chi mặc dầu công việc khảo tiền sử đă xong, nhưng cũng chưa ai biết ǵ hết, v́ không có sử gia nào làm cái công việc đối chiếu đó, bởi phải biết rằng đó là phương pháp độc nhứt rồi c̣n phải đo sọ của ta ngày nay nữa, hai yếu tố căn bản ấy, không được các sử gia kể đến.

Sách nầy có tham vọng là sách chuyên môn, nhưng chúng tôi lại làm một công việc trái lẽ là phổ thông vài điểm về khoa chủng tộc học (Raciologie – Anthropologie physique).

A) Chỉ có cái sọ mới giúp ta phân biệt chủng nầy với chủng khác.

B) Cái sọ của các chủng, qua 7, 8 ngàn năm không hề thay đổi.

C) Nếu có lai với chủng khác, mà lai một lần hay cứ lai đi lai lại măi, khoa chủng tộc học cũng biết được v́ hai yếu tố chủng tộc cứ tồn tại măi trong những cái sọ ấy.

Trong khi đó th́ dưới ḷng đất ta có 7, 8 loại sọ cổ khác chủng với nhau, mà sử gia lại không đo sọ để đối chiếu th́ làm thế nào để biết tổ tiên ta là ai vào thời thượng cổ?

Cả các nhà bác học Âu Mỹ làm việc cho ta hồi tiền chiến, cũng đă quên mất phương pháp đó, trừ một người độc nhứt là ông Madrolle, nhưng ông ấy chỉ mới đo bề cao, rồi kết luận ngay, mà chưa kịp đo sọ, hay tưởng rằng không cần đo sọ th́ ta không rơ được.

Ta đă tiếp tục công tŕnh của Âu Mỹ đang làm dở dang, cả Bắc lẫn Nam đều có tiếp tục, nhưng ta vẫn bất kể cái căn bản khoa học đó, tức là ta đă đi t́m giờ Ngọ hồi 14 giờ (nói theo Pháp).

Viết thượng cổ sử khác xa với viết sử. Viết sử chỉ cần sử liệu, c̣n viết thượng cổ sử th́ lại cần rất nhiều khoa học khác mà không cần sử liệu, bởi làm ǵ mà có sử liệu vào thời tổ tiên ta c̣n ăn lông ở lổ.

Thế mà các sử gia Pháp Việt lại dùng sử liệu của một nước văn minh trước ta là sử Tàu. Kể ra th́ cũng tạm được. Nhưng sử Tàu lại mù mờ, và chỉ có thể dùng được để kiểm soát lại coi nó có ăn khớp với các khoa học căn bản hay không mà thôi.

Phương chi ta chỉ đọc tới Sử kư của Tư Mă Thiên rồi thôi. Mà tổ tiên ta th́ lâu đời hơn Tư Mă Thiên đến ba ngàn năm, th́ làm thế nào mà biết được sự thật.

Chúng tôi làm việc lại, khác hơn tất cả mọi người, là dùng khoa khảo tiền sử và khoa chủng tộc học, mà là khoa khảo tiền sử đúng, chớ không phải là khảo tiền sử dở dang của Colani, Mansy, Golubew, Jansé, những vị ấy đă đưa các sử gia Pháp và ta đến những sai lầm không lối ra từ nửa thế kỷ nay.

Ngày nay, trên thế giới không c̣n chủng tộc nào là thuần chủng nữa hết. Trên Cao nguyên của ta có những người Thượng mà ta cứ ngỡ là thuần chủng được, v́ họ sống biệt lập bộ lạc nầy với bộ lạc khác, vậy mà họ vẫn bị lai giống đến ba bốn lần rồi.

Xin lấy thí dụ người Bà Na Hơ Roy. Họ là người Bà Na, nhưng họ lại lai giống người Gia Rai. Những người lai giống ấy, lại lai giống một lần nữa với người Chàm. Thế là đă ba lần lai giống. Nhưng chưa chắc cái gốc Bà Na đă là gốc thuần của Bà Na, v́ họ lại nói tiếng Cao Miên, chớ ít dùng ngôn ngữ riêng của họ là Mă Lai ngữ.

C̣n các thành kiến cho rằng chủng nầy tài giỏi hơn chủng khác cũng đă bị xô ngă từ lâu rồi.

Như vậy trong thời đại ta, chỉ có vấn đề dân tộc mới là đáng kể, c̣n vấn đề chủng tộc, chỉ là chuyện phù phiếm.

Tuy nhiên, sử học cứ tiếp tục t́m ṭi về các chủng tộc, v́ không sao phân biệt được dân tộc nầy với dân tộc khác bằng các bằng chứng thật khoa học, th́ đành phải ngược nguồn về tới chủng tộc vậy, v́ chủng tộc th́ phân biệt được, bằng một khoa học chính xác, mà ở đây, chúng tôi gọi là Chủng tộc học (Anthropologie physique), thay cho danh từ nhân chủng học mà nhiều vị giáo sư đại học cho là không đúng và muốn thay đổi như thế đó.

Dân Việt Nam hơi giống dân Tàu chẳng hạn, mà họ có phải là người Tàu hay chăng, th́ chỉ có chủng tộc học mới trả lời đích xác được.

Ông H. Maspéro, một nhà bác học mà chúng tôi rất khâm phục, đă phất cờ đi trước hơn hết để về cái nguồn ấy, vào năm 1918.

Nhưng vào năm đó, khoa khảo tiền sử và khoa chủng tộc học lại làm việc chưa xong ở Á châu, thành thử ông và bao nhiêu ông Tây, ông Tàu, ông Việt khác đều sa lầy, cho tới năm nay là năm 1970.

Ông L. Anrousseau làm lại cái công việc đó năm 1923, nhưng vẫn cứ thất bại.

Có thể hai nhà bác học ấy, thuở đó, chưa biết cái căn bản nầy cũng nên, là muốn phân biệt các chủng tộc th́ chỉ có việc đo sọ mới cho biết rơ cái ǵ, nên quư vị ấy mới làm việc với chỉ độc một nguồn tài liệu là cổ sử Tàu.

Năm 1923 th́ ông Aurousseau đă bốn năm mươi tuổi rồi, bởi một người Pháp mà leo lên tới địa vị Giáo sư Hán văn cũng phải mất vài mươi năm học hỏi sau cái bằng Tú tài hoặc Cử nhân.

Như vậy, quư vị đó thuộc vào trường phái thế kỷ 19 mà việc đo sọ là căn bản phân biệt chủng tộc, chưa được khoa học xác nhận một cách quả quyết vào thế kỷ 19 đó.

Người Tàu, măi cho đến nay, viết về nguồn gốc của chính họ, họ c̣n chưa biết sử dụng chủng tộc học, th́ dùng sử Tàu cách đây hai ngàn năm, hẳn là không thể đi tới đâu hết.

Những sai lầm của quư vị đó, mặc dầu là sai lầm, cũng cần được nhắc lại, để so sánh với sự thật tŕnh bày trong sách nầy, có thế mới rơ trắng đen.

Năm 1923, ông L. Aurousseau, giáo sư Hán văn, đă viết: “Lịch sử của nguồn gốc dân tộc Việt Nam, c̣n phải viết. Nếu những ǵ xảy ra sau cuộc chinh phục của Lộ Bác Đức vào năm 111 T.K. có thể dễ dàng sắp xếp, th́ trái lại cho tới nay (1923) chưa có công tŕnh nghiên cứu nào về những việc xảy ra trước đó, được thực hiện với tinh thần có tính cách phê phán (Aucun travail critique n’a été effectué).

Và ông L. Aurousseau bắt đầu, ngay sau câu đó. Than ôi, chỉ là hoài công, bởi mặc dầu ông làm công việc ấy với tài liệu lạ của Trung Hoa mà các sử gia ta chưa đọc vào năm đó, nhưng có đủ đâu nào. Ông chỉ hơn các sử gia ta ở cái chỗ có nghĩ đến, và có làm việc cho thượng cổ sử Việt Nam, nhưng sự thành công rất ít v́ mặc dầu chúng tôi khen các ông Tây đọc sử Tàu nhiều hơn ta nhưng quả thật họ vẫn đọc chưa đủ.

Hơn thế, sử Tàu lại mơ hồ và xuôi ngược, rất khó dùng nó để t́m ra một sự thật chắc chắn.

Nói về một nước kia, Sử kư của Tư Mă Thiên gọi là Âu Lạc, Hàn thư của Ban Cố gọi là Tây Âu, rồi ông H. Maspéro lại hiểu lầm chữ nho, tân tạo ra một danh xưng mới nữa là Tây Âu Lạc th́ tưởng cũng khó biết đích xác cái nước đó tên thật là ǵ lắm thay, và nhứt là khó biết vị trí của nó lắm thay!

Ông L. Aurousseau, chắc có ư ám chỉ ông H. Maspéro hơn là ám chỉ các sử gia ta là những người chưa khảo cứu ǵ cho thượng cổ sử Việt Nam cả vào năm đó, mà chỉ chép lại truyền thuyết dân gian mà thôi. Ông H. Maspéro đă bắt đầu từ năm 1918 nhưng xem ra th́ cái tinh thần có tánh cách phê phán của ông L. Aurousseau lại kém hơn của ông H. Maspéro.

Và chính ông L. Aurousseau lại đă làm cho rối nùi thêm những ǵ xảy ra sau năm 114 T.K. mà ông cho là dễ dàng sắp xếp.

Sự thật th́ đoạn sử sau Lô Bắc Đức vốn đă rối ḅng bong rồi lại bị ông làm rối thêm cái nữa th́ chẳng c̣n ai biết đường đâu mà ṃ nữa.

Nhưng dầu sao ta cũng phải nh́n nhận rằng những ông H. Maspéro và L. Aurousseau đọc cổ sử Trung Hoa nhiều hơn và kỹ hơn các sử gia từ xưa đến thời của các ông và phải nh́n nhận rằng các ông có sáng kiến nghĩ đến công việc t́m nguồn quan trọng đó.

Sử Tàu thiếu sót, mơ hồ và bí hiểm, lắm câu các ông Nghè của ta cũng không hiểu th́ các ông Tây làm thế nào mà hiểu được.

Thế nên cả hai ông Tây có công lớn là ông L. Aurousseau và ông H. Maspéro đều sa lầy trong cái đầm cổ sử Trung Hoa, không thoát được mà cũng không giúp chúng ta thoáng thấy được sự thật nào đáng kể.

Cuộc sa lầy thứ nh́, xảy ra từ năm 1920, kể từ biến cố Đông Sơn, biến cố ấy lại là một vũng lầy thứ nh́ nó làm cho các nhà bác học Âu Á mất đến 50 năm mà cũng chẳng biết được ǵ hết.

Năm 1920, những cuộc phát kiến ngẫu nhiên của dân chúng ở Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa bỗng làm cho các nhà bác học Pháp chú ư đến. Ở đó có nhiều cổ vật lạ lùng bằng đồng thau, không giống của ta hay của Tàu ǵ hết.

Mấy năm sau, vùng Đông Sơn được xem xét kỹ và từ năm 1925 đến năm 1970, nhiều cuộc khai quật kế tiếp nhau, ở các lưu vực những con sông Nhật Lệ, sông Gianh, sông Cả, sông Mă, sông Đà, sông Nhị, sông Đáy, đă cho giới khảo cứu thu lượm được vô số cổ vật bằng đồng pha.

Nghiên cứu sơ khởi cổ mộ Đông Sơn, người ta thấy người chết có đồ tùy táng nhứt là trống bằng đồng thau khá rực rỡ. Đó là người thời xưa được chôn trước hai bà Trưng năm 32 năm, và cái thời xưa ấy, được định tuổi thật đích xác là 1915 tuổi, tính đến năm 1924.

Tuy nhiên, vẫn chưa chắc lắm là người dưới mồ lại là người bổn xứ, theo khoa học th́ phải dè dặt như vậy, bởi họ có thể là chiến sĩ của nước ngoài, thua trận chạy sang xứ ta rồi bỏ ḿnh v́ chết bịnh hay tử thương trễ muộn.

Trong lần khai quật thứ nh́ t́m được một sườn nhà bằng gỗ và tre đă hóa thạch. Nhà ấy có lối kiến trúc giống như h́nh nhà khắc nơi trống đồng. Bấy giờ th́ đă chắc một trăm phần trăm là người có trống chôn theo, là đồng bào với người có nhà, nghĩa là tất cả đều là người bổn xứ.

Y là người bổn xứ, vâng, nhưng cổ vật mà y có, y mua của nước nào, hay do chính y chế tạo? Người ta phân chất một mảnh đồng thau của cổ vật và thấy đó là một hợp kim đặc biệt, chắc chắn của bổn xứ, bởi nó khác hẳn hợp kim của Tàu hay của Ấn Độ, của Tây phương thời đó.

Hợp kim đồng thau (bronze) của Tàu, đă được tả rơ trong cổ thư Chu Lễ, c̣n hợp kim của Hy Lạp, La Mă, Ấn Độ cũng được tả rơ trong cổ thư của các dân tộc ấy, nhờ thế mà so sánh, đối chiếu được.

Thế là đă rơ. Người ta vừa phát kiến được một trung tâm của một nền văn minh mới lạ.

Trước đó một trăm năm, người ta đă t́m được trống ở nhiều nơi tại Đông Nam Á, kể cả ở Việt Nam nữa, nhưng người ta chưa hề biết chắc một trung tâm nào cả của nền văn minh đó, nó nằm trong một khu vực rộng lớn từ sông Dương Tử cho đến quần đảo Nam Dương, v́ trống t́m thấy, nằm trên mặt đất, có thể ở nơi khác lưu lạc tới, lại không có những món khác như cổ tiền chẳng hạn để chứng minh tuổi và nguồn gốc của trống, nhứt là không có ngôi nhà cổ hóa thạch nói trên.

Đông Sơn là trung tâm chắc chắn được phát kiến lần đầu, v́ không phải chỉ có trống, mà có bao nhiêu vật khác nữa, đồng tánh cách, và v́ đó là cổ vật không bị di chuyển bởi đó là đồ đào được trong cổ mộ, người ta biết chắc rằng nó vẫn nằm tại đó từ xưa đến nay, chớ không phải lượm được trên mặt đất, hay đào thấy nằm riêng rẽ một ḿnh như bao nhiêu trống đă t́m thấy, mà nghĩ rằng nó lưu lạc, không thể biết chắc từ đâu trôi dạt đến nơi lượm được.

Nhưng nguồn gốc của dân tộc Việt Nam làm thế nào mà nằm ở gần giai đoạn Đông Sơn được kia chớ, nếu quả người Đông Sơn là tổ tiên của ta (nhưng các nhà bác học Âu Mỹ chưa nh́n nhận, chỉ trừ có ông O. Jansé là nh́n nhận mà không chứng minh được).

Đó là thời mà dân ấy đă có vua chúa, có Lạc Tướng, Lạc Hầu, đă biết kỹ thuật đồng pha, và giỏi nghệ thuật chế tạo đồ đồng pha, tức đă văn minh rồi.

Nguồn gốc của dân tộc phải cổ hơn giai đoạn ấy hai ba ngàn năm, vào thời mà ta c̣n sống dưới kỹ thuật cựu thạch và tân thạch kia.

Sự thật sơ đẳng ấy, không hiểu v́ lư do nào mà cho đến cả các nhà bác học Âu Mỹ cũng không biết mà tất cả đều sa lầy tại đó, cứ cố t́m nguồn gốc dân tộc ta ở đó mà thôi, nó làm cho ta mất th́ giờ đến nửa thế kỷ (1920-1970).

Giáo sư Kim Định đă mắng bọn nghiên cứu Đông Sơn bằng một giọng tự thị: “Thế là giới tân học đă ùa theo mấy nhà khảo cổ, nghĩa là căn cứ trên mấy nắm xương của người Mă Lai Á, Anh Đô Nê-Diêng đi nhận họ máu hàng dọc chủng tộc, lẫn hàng ngang văn hóa với mấy thổ dân nầy. Văn minh Mă Lai Á là cái chi, nó nói lên được những ǵ với tâm hồn người Việt? Nó giải nghĩa thế nào cả một khối văn chương b́nh dân…”

Thấy rơ là giáo sư đại học Kim Định chưa học khoa khảo tiền sử về Á Đông mà chỉ học vụ Đông Sơn là một cuộc sa lầy, nên ông mới quả quyết rằng ta không phải là Mă Lai mà đích thị là Tàu. Theo giáo sư th́ ta lập ra nền văn minh Tàu ở bên Tàu rồi bị người Tàu cướp đi nói là của họ. Ta văn minh lắm, chớ không kém như mấy thổ dân đó mà ông gọi là Mă Lai Á = Malaiaie (!)

(Với danh xưng Mă Lai Á, thật không biết giáo sư muốn chỉ ai, v́ Mă Lai là một chủng tộc rất lớn, c̣n Mă Lai Á là một quốc gia nhỏ xíu, hơn thế các nhà bác học nghiên cứu Đông Sơn cũng chẳng bao giờ thốt ra ba tiếng Mă Lai Á cả.)

C̣n chủng Mă Lai th́ chính những nhà bác học đó phủ nhận rằng dân Việt Nam là hậu duệ của chủng Mă Lai Đông Sơn, không hiểu do đâu mà bao nhiêu trí thức ta đều cho rằng họ bảo rằng dân ta là Mă Lai.

Đó là một bí mật mà chúng tôi t́m măi mà không vỡ lẽ.

Vậy xin mời giáo sư học khoa khảo tiền sử đúng, chớ không phải sai như bọn học về Đông Sơn và ông sẽ thấy cái ǵ khác hơn ông tưởng tượng nhiều lắm.

Ông sẽ thấy văn b́nh dân ta đầy dẫy tiếng Mă Lai mà ông không hiểu.

Thí dụ:

Tua Rua đă xế ngang đầu

Em c̣n đứng đó làm giàu cho cha.

Tua Rua là tiếng Mă Lai đó ông ạ.

Ông không biết rằng thành ngữ “Tay chơn bộ hạ” của ta là thành ngữ Mă Lai, họ nói Tay cẳng bộ hạ đấy. Ông không biết:

Bắc thang lên hỏi ông Trời

Thang = Tangga (Mă Lai), và Trời cũng là tiếng Mă Lai mà cả Mă Lai và Phù Tang Nhựt Bổn cũng c̣n dùng hiện nay.

Dưới đây là một câu 8 từ, gồm toàn từ Mă Lai:

Hắn lấy ná (nỏ) bắn chim làm rụng lá

Không có lấy một danh từ, động từ nào mà là danh từ, động từ của chủng Viêm, hay chủng Hoa trong đó hết. Toàn là tiếng Mă Lai.

Và điều chắc chắn hơn hết là ông không biết Mă Lai chủng phát tích tại đâu, nên tưởng rằng nó phát tích tại Mă Lai Á (Malaisie) nên khuyên ta đừng t́m nguồn gốc dân tộc ở phương Nam. Nó đă tự xưng là Mă Lai cách đây 5 ngàn năm tại Hoa Bắc và Ấn Độ, được Tàu phiên âm là Ló (Lạc) nhưng với bộ , tức Mạ Ló, c̣n Aryen th́ phiên âm là Mlech’a.

Ông bảo bọn cựu học quá tin vào truyền thuyết, c̣n tân học không tin ǵ cả. Ông sẽ thấy rằng bọn tân học tin toán học và về thượng cổ sử Việt Nam, họ sẽ viết đúng 2 + 2 = 4, y như toán học, chớ không ghép đủ thứ tài liệu hỗn loạn để mà đoán ṃ.

Nhưng bọn nghiên cứu nền văn minh Đông Sơn bị ông mắng thật là đáng đời, đă bảo nguồn gốc của một dân tộc không làm sao mà nằm tại giai đoạn đồng pha được, mà phải nằm trước giai đoạn tân thạch lận kia.

Hơn thế, đồ vật không cho ta biết đích xác được cái ǵ, mà chỉ có sự đối chiếu sọ của dân ta ngày nay với sọ của đủ thứ người cổ đào được ở Bắc Việt mới giúp ta biết được ta là hậu duệ của chủng nào mà các nhà bác học Âu Mỹ ở Đông Sơn lại không có ông nào nghĩ đến sự thật căn bản đó hết.

Nói ông L. Aurousseau thuộc trường phái thế kỷ XIX, các nhà bác học Đông Sơn trẻ hơn, nhưng vẫn không hơn L. Aurousseau một gờ ram.

 

*

*      *

 

Biến cố Đông Sơn lại xô thiên hạ vào một cuộc sa lầy phụ thuộc mà chúng tôi tạm đặt tên là cuộc sa lầy II bis. Trước hết v́ một danh từ bác học mà cả một số nhà bác học Âu Mỹ cũng không hiểu. Đó là danh xưng Indonésien.

Nghiên cứu h́nh khắc ở các cổ vật đó, và kiến trúc của ngôi nhà đào được, biết rơ tánh cách của nó, người ta kết luận rằng người chết chôn dưới mồ thuộc một chủng tộc mà danh xưng khá bí hiểm đối với người Việt, danh xưng đó là danh xưng Indonésien.

*

*      *

Các nhà bác học vẫn tiếp tục gọi họ là người Anh-Đô-Nê-Diêng, nền văn minh của họ là nền văn minh Đông Sơn, mặc dầu nhiều dân tộc khác cũng có cổ vật cùng tách cách, trong một địa bàn rất lớn ở Đông Nam Á, từ Hoa Nam, cho tới Nam Dương quần đảo. Nếu đó là duy vật Việt Nam đi chăng nữa th́ nền văn minh đó không riêng ǵ là của Việt Nam.

V́ đó là công việc khoa học, mà khoa học th́ phải chính xác, mà một yếu tố chính xác là sự chính danh, thành thử các nhà bác học đó bắt buộc phải dùng một thuật ngữ quá chuyên môn là danh xưng Anh-Đô-Nê-Diêng.

Anh-Đô-Nê-Diêng, một thuật ngữ của khoa chủng tộc học (raciologie) chỉ có nghĩa là Cổ Mă Lai, chớ không có ǵ lạ. Là nhà chuyên môn, các nhà bác học ấy phải dùng danh từ chuyên môn, mặc dầu đă có danh từ thường. Danh từ thường là Proto-Malais.

(Quyển sách nhỏ nầy có tham vọng là sách chuyên môn, nhưng chúng tôi dùng danh từ thường là Cổ Mă Lai, chớ không nói Anh-Đô-Nê-Diêng là một danh từ mà đại đa số dân ta chưa quen). Danh xưng Anh-Đô-Nê-Diêng được chúng tôi dịch ra là Cổ Mă Lai, chớ nhiều học giả khác c̣n dịch khác nữa, chẳng hạn ông Phạm Việt Châu dịch là Cựu Mă Lai, có ông khác lại dịch là Tiền Mă Lai. (Sau sẽ có thống nhứt, và Cổ hay Cựu, hay Tiền ǵ, c̣n tùy ở đa số nhà chuyên môn).  

 

 

 

1.      H́nh nhà khắc ở trống đồng Đông Sơn, nóc oằn, mái túm.

 

 

2.      H́nh thuyền khắc ở b́nh đồng Đào Thịnh.

3.      Thuyền của người Mă Lai Nam Dương hiện kim.

Hai đầu nóc nhà và hai đầu của hai thứ thuyền giống nhau.

4.      Nếp nhà hóa thạch đào được ở Đông Sơn, cổ gần hai ngàn năm, được ông V. Goloubew hồi phục lại theo tưởng tượng với vật liệu chưa mục nát. Mái nhà xuống tới sàn tre nên phải trổ cửa vách hồi.

5.      Ngôi nhà ấy nh́n thấy dưới một khía cạnh khác.

6.      Một nếp nhà của người Mă Lai sơn cước hiện kim ở Nam Dương, mái cũng xuống tới sàn và cửa cũng trổ vách hồi, cả ba nếp đều nóc oằn và mái túm.

7.      Nhà của người Mă Lai hiện kim, tiến bộ hơn và mái không xuống tới sàn, nên trổ cửa dưới mái được.

8.      Nhà của người Mă Lai hiện kim, y như nhà số 7, cả hai đều c̣n nóc oằn, nhưng ở đây có thêm điểm mái cong quớt lên, chớ không túm lại.

9.      Một kiểu nhà tranh của Nhựt Bổn (gốc Mă Lai) nhưng nóc nhà mô chớ không thẳng. Mô là biến dạng của oằn, hễ không oằn th́ mô, chớ không ưa thẳng.

10.  Kiểu cổng nhà điển h́nh của Nhựt Bổn (gốc Mă Lai) nhại theo nóc nhà oằn của chủng tộc. Tóm lại tánh cách Mă Lai thật rơ rệt nơi các cổ vật Đông Sơn.

 

Danh xưng quá chuyên môn Indonésien, chẳng những làm rối trí người thường mà c̣n làm cho cả đến học giả lầm lẫn nữa.

Nhưng chẳng những ta lầm lẫn về cái danh xưng gây ngộ nhận là danh xưng Indonésien, ta lại c̣n lầm lẫn về một danh xưng khác, không có gây ngộ nhận, đó là danh xưng Mélanésien. Thế nên những sách khảo cứu của ta rất xuôi ngược về mặt chủng tộc học. Ở cái điểm ấy, ta hiểu lầm người Âu châu, rồi ta lại hiểu lầm ta.

Một vài học giả của ta lầm lẫn chủng Mă Lai với chủng Mê-la-nê-diêng (Mélanésien) chẳng hạn như sử gia Nguyễn Phương và học giả Lê Văn Siêu, có lẽ v́ từ Mă Lai hơi giống từ Mê La về giọng đọc.

Trong Việt Nam thời khai sinh, trang 46, sử gia họ Nguyễn viết: “Như thế chủ trương rằng giống Mê-la-nê đă từ miền biển du nhập vào vùng cổ Việt, không phải là không có lư. Chẳng những họ đă từ đại dương tràn vào cổ Việt, mà c̣n tràn vào cả lục địa Trung Hoa nữa. Ngày nay sử sách Trung Quốc vẫn nói rằng “Mă Lai chủng” đă chiếm nước đó trước khi ṇi giống Trung Hoa bắt đầu xuất hiện”.

Câu trên đây cho thấy rơ rằng sử gia Nguyễn Phương hiểu rằng Mê-la-nê = Mă Lai chủng.

Nhà học giả Lê Văn Siêu, trong Việt Nam văn minh sử cương, trang 17 viết: “Căn cứ vào những đồ đá trau để dấu vết ở Ḥa B́nh và Bắc Trung Việt, Lào, Thái Lan, Mă Lai, và những xương sọ người đào thấy ở hang động Ḥa B́nh và Bắc Sơn có nhiều triệu chứng đó là giống Úc châu và Mă Lai (Papou-Mélanésien), th́ nhiều nhà bác học lại cho rằng giống dân ở hải đảo Mă Lai đă di cư lên đất liền”.

Sự sai lầm, trong câu trên đây, không phải ở lời phỏng đoán của các nhà bác học được ám chỉ đến trong câu văn đó, mà là ở lối dịch:

Papou Mélanésien = Úc Mă Lai

Danh xưng Mê-La-Nê-Diêng gốc Hy Lạp, chỉ có thể dịch là hắc-nhân-đảo (Homme noir des iles), nhưng v́ không đúng nên không ai dịch làm ǵ. Đó là dân thuộc chủng da đen hoàn toàn và tóc quăn quíu, c̣n chủng Indonésien tức Mă Lai không thuộc chủng da đen c̣n tóc th́ dợn sóng chớ không quăn quíu.

Về mặt chủng tộc học, Mélanésien chỉ có một nghĩa: đó là Mê-la-nê-diêng, không dịch ra tiếng Việt được, ngoài ra, không có nghĩa nào khác hơn, nhứt là không có nghĩa là Mă Lai bao giờ.

Cũng cứ về mặt chủng tộc học th́ Indonésien (Anh-Đô-Nê-Diêng) cũng có một nghĩa duy nhứt: đó là Proto Malais, nên dịch là Cổ Mă Lai hơn là Tiền hay Cựu Mă Lai như đă có người dịch. Cổ, ở đây là có vóc dáng văn hóa thời kỳ đầu của một chủng tộc, chớ không phải là sống vào thời cổ, Tiền Mă không ổn, bởi chưa có Hậu th́ không thể nói đến Tiền. Cựu có thể, không có Tân th́ không nên nói đến Cựu.

Một nhà chủng tộc học Mỹ cho biết rằng hiện nay những người mà ta gọi là Kim Mă Lai đều là người đă bị lai giống với các chủng khác hết cả rồi, mà có đến 70 nhóm bị lai giống khác nhau, lai Tàu, lai Ấn, lai da trắng, nhưng lai Tàu là phần đông.

Người Kim Mă Lai thuần chủng chỉ có thể thấy được lần cuối cùng vào thế kỷ thứ 10 S.K. mà thôi.

Nhưng những Mă Lai thuần chủng hiện c̣n sống sót, đang sống vào thời kỳ cổ, tức họ là Cổ Mă Lai (Indonésien) đấy.

Tuy nhiên, theo riêng chúng tôi th́ c̣n người Kim Mă Lai thật sự. Theo chúng tôi th́ người Gia Rai ở Cao nguyên ta là Kim Mă Lai. Ngôn ngữ của họ rất thuần Mă Lai, họ có kết hôn với các dân tộc khác, nhưng cũng là Mă Lai với nhau cả, như Chàm chẳng hạn, chớ không phải là khác chủng. Và họ không sống theo Cổ Mă Lai v́ họ đi lính cho Tây rất đông trước năm 1945, họ biết mặc Âu phục, biết địa lư, biết đó biết đây, chớ không phải chỉ biết có cái địa bàn nhỏ hẹp của họ, và tuy cứ giữ phong tục của họ, họ vẫn biết có nhiều dân khác có phong tục khác, tôn giáo khác, tóm lại họ không sống vào thời kỳ cổ sơ, mà vóc dáng của họ cũng không cổ sơ. Ta nh́n vào một anh địa phương quân ở Phú Bổn, ta cứ ngỡ anh ấy là người Việt Nam.

Nhưng họ quá ít, nên không ai biết họ, trừ các nhà chủng tộc học có làm việc ở “Đông Pháp”, nên thế giới kể như không c̣n Kim Mă Lai.

Nhưng Cổ Mă Lai th́ lại c̣n nguyên vẹn ở khắp Đông Nam Á, trong núi rừng.

Thật ra th́ danh xưng Indonésien rắc rối nầy có hai nghĩa, một nghĩa thông thường, có ghi trong các từ điển ngôn ngữ: đó là dân của xứ Indonésien (Nam Dương quần đảo).

Nhưng trong khoa chủng tộc học, nó lại mang nghĩa khác là Cổ Mă Lai. Ngộ nhận xẩy ra v́ hai nghĩa khác nhau đó.

Và vài ông Tây kém khoa học lại nói đơn sơ rằng Anh-Đô-Nê-Diêng là người “Mọi” trên cao nguyên.

Họ nói đúng, nhưng không rành mạch khiến ta ngộ nhận và giẫy nẩy lên, chối bây bẩy rằng tổ tiên ta là “Mọi”.

Nhưng thử hỏi có tổ tiên của dân tộc nào lại không trải qua thời kỳ dă man, rồi thời kỳ kém cỏi hay không chớ?

Các ông Tây đó là các ông Tây dốt khoa chủng tộc học, chẳng biết Indonésien là ǵ hết, nghe các ông Tây không dốt, nói người Thượng là Indonésiens, các ông bèn hiểu rằng Indonésiens = Mọi.

Nhưng người Thượng, y hệt như người Jarai, là Kim Mă Lai đấy, v́ họ đă tiến đến thời đại sắt, c̣n Cổ Mă Lai khi di cư đến Đông Nam Á chỉ mới tiến tới thời đại tân thạch thượng.

Vậy các ông Tây không dốt vẫn ăn nói hàm hồ. Không phải hễ biết mặc Âu phục mới được gọi là Kim Mă Lai mà hễ bước sang thời đại sắt rồi th́ phải được xem là Kim Mă Lai.

Dụng cụ sắt của người Thượng, không phải là được chế tạo bằng sắt mà họ mua được của Ai Lao, Cao Miên hay Việt Nam đâu. Người Sơ Đăng tự lực đi t́m quặng sắt trong các núi của tỉnh Kontum rồi nấu thành sắt, rồi luyện sắt đó thành thép, một công việc mà chính người Việt Nam đă quên mất rồi v́ ta đă quen mua sắt và thép trên thị trường thế giới từ một trăm năm nay.

Nếu v́ một lư do nào mà ta bị cô lập, không hiểu ta c̣n nhớ kỹ thuật nấu quặng nữa hay chăng? Nhưng người Sơ Đăng th́ lại rất thạo kỹ thuật đó.

Nhưng v́ nông nghiệp của người Thượng c̣n ở giai đoạn hỏa canh và luân canh nên tạm gọi họ là Cổ Mă Lai cũng chẳng sao, nhưng xin đừng tưởng rằng Anh-Đô-Nê-Diêng = Mọi.

Cổ Mă Lai đă là tên của một chủng tộc rồi th́ c̣n đặt tên nào khác cho họ nữa làm ǵ? Và Mọi là ǵ? Danh xưng Mọi hoàn toàn vô nghĩa về khoa chủng tộc học mà tưởng sách khoa học không được phép dùng.

Trong ngôn ngữ Việt Nam, Mọi tương đương với Man di của Tàu, với Yuavana của Phạn ngữ, chỉ bất kỳ chủng nào mà c̣n kém mở mang đến mức chưa biết cất nhà. Như thế th́ Papou, Négrito ǵ cũng là Mọi được hết, chớ không riêng chủng nào, c̣n riêng chủng Mă Lai th́ bọn Cổ vẫn biết cất nhà.

Người thường muốn dùng danh từ bậy bạ thế nào cũng được, chớ khoa học th́ không. Khoa học phải gọi đúng tên chủng tộc, gọi đúng tên dân tộc.

Như đă nói, các ông Tây không dốt khoa học, gọi người Thượng là Cổ Mă Lai, chớ không bao giờ gọi họ là Mọi. Nhưng khi họ gọi người Đông Sơn là Cổ Mă Lai th́ không được ổn lắm. Theo Hậu Hán thư th́ người Lạc Việt ở vùng Giao Chỉ làm ruộng đă giỏi có dư thóc bán cho Hợp Phố và Cửu Chân. Thế nghĩa là họ đă biết cày, không c̣n làm hỏa canh và luân canh nữa th́ họ là Kim Mă Lai đứt đi rồi.

Người Thượng kia mà chúng tôi c̣n cho là Kim Mă Lai, huống hồ ǵ là người Lạc Việt Đông Sơn.

Tuy nói thế chớ biên giới giữa Cổ và Kim cũng không có ǵ rơ rệt cho lắm. Hiện nay ở Phi Luật Tân có ba nhóm người mà khoa học rất bối rối, không biết sắp họ vào hạng Cổ hay Kim. Chính v́ t́nh trạng hỏa canh và luân canh của họ. Đó là ba nhóm Igorotes, Ifugaos và Bontok mà ông O. Jansé cho là đồng bào của hai bà Trưng di cư sang, sau cuộc tàn sát của Mă Viện (nhưng ông O. Jansé dù có chuyên môn nhưng nói vô bằng chứng).

Nhưng như đă nói, không có biên giới rơ rệt th́ ta cứ tạm xem người Đông Sơn là Anh-Đô-Nê-Diêng vậy, cho dứt khoát vấn đề, trong giai đoạn nầy cái đă, rồi sẽ hay.

Cả hai nghĩa của danh xưng Indonésien đều sai về mặt khoa học. Thế mới chết!

Trong danh xưng Anh-Đô-Nê-Diêng nghĩa thứ nhứt, tức nghĩa thông thường, có ngữ căn Ấn Độ. Mà ngữ căn ấy sai. Ở xứ đó, không có người dân Ấn Độ nào hết, hay chỉ có leo heo như Sài G̣n vậy thôi, họ là Ấn kiều chớ không phải dân.

Số là khi người Âu châu tới đó, thấy dân xứ ấy theo văn hóa Ấn Độ, họ bèn gọi gộp xứ ấy và nước Ấn Độ là “Những xứ Ấn Độ” (Les Indes).

Về sau, biết rơ hơn, họ phân biệt xứ đó (Nam Dương) với Ấn Độ, nhưng vẫn cứ c̣n giữ ngữ căn Ấn Độ và gọi Nam Dương là Indonésien tức cứ c̣n vô lư hoài.

Nhưng nếu chỉ có một nghĩa ấy mà thôi, th́ có sai cũng chẳng sao. Phiền lắm là c̣n một nghĩa thứ nh́ nó khiến cho cả một số học giả Âu châu cũng lầm v́ cái ngữ căn Ấn Độ sai đó.

Nghĩa thứ nh́, như đă nói, là Cổ Mă Lai.

Người đặt danh xưng với cái nghĩa đầu, đă đặt sai như đă giải thích trên đây. Rồi nhà bác học nào đó, đă cho nó cái nghĩa thứ nh́ mà giới bác học đă trót nh́n nhận, lại không mát tay chút nào hết.

Đa số dân ở xứ Nam Dương thuộc chủng Mă Lai, trong đó có cả Cổ Mă Lai và Kim Mă Lai.

Khi muốn t́m một danh xưng chỉ các nhóm Cổ Mă Lai th́ nhà bác học khuyết danh ấy nghĩ ngay đến cái xứ mà họ gọi sai là Indonésie, và cho danh xưng Indonésien cái nghĩa là Cổ Mă Lai. Ông ấy đă từ một danh xưng sai, tạo ra một thuật ngữ chuyên môn sai.

Đành rằng khó ḷng mà khi đặt ra danh từ mới, một nhà khoa học không nghĩ đến cái ǵ, trường hợp đặt tên đâu th́ họ nghĩ đến tên xứ đó. Ở đây hẳn ông đó đă nghĩ đến xứ Indonésie, ở đó có rất đông dân Cổ Mă Lai. Nhưng đó là một ư nghĩ phất phơ, không có tánh cách đồng hóa xứ và dân, và nếu ông ấy giàu tưởng tượng, ông ấy đă thấy rằng người ta sẽ ngộ nhận bởi ở Việt Nam cũng có Cổ Mă Lai, ở Cao Miên, ở Thái Lan, Miến Điện, Trung Hoa cũng thế th́ ông ấy nên tránh cho người ta sự ngộ nhận có thể xảy ra, không nên dùng danh xưng sai có sẵn đó với một nghĩa thứ nh́ nữa, nghĩa thứ nhứt vốn đă sai rồi.

Nhưng cái nghĩa khoa học của danh xưng Indonésien đă trót có từ lâu, đă được trước bạ khắp thế giới khoa học th́ ta cũng đành phải hiểu đúng như giới khoa học đă hiểu, không mong sửa lại được, phương chi những người lầm, không phải v́ muốn sửa đổi, mà chỉ lầm bởi ngộ nhận thôi.

Giáo sư Lê Văn Hảo lại có một định nghĩa khác, không biết v́ ngộ nhận hay v́ muốn dịch khác đi. Nhưng ta nên xem như là giáo sư không có ngộ nhận, chỉ dịch khác mà thôi.

Trong quyển Hành tŕnh vào dân tộc học giáo sư Lê Văn Hảo viết: “Chủng Anh-Đô-Nê-Diêng là chủng tộc Ấn Độ Nam Dương”, ư giáo sư muốn nói đó là dân bổn xứ của quần đảo Nam Dương, hay Ấn Độ nào ở đó? Sự thật th́ chẳng hề có dân Ấn Độ ở đó bao giờ, c̣n dân bổn xứ ở đó mà thuộc hạng cổ, th́ ở đâu cũng có cả, không riêng ǵ ở đó.

Lại c̣n một sự lầm lẫn rối ḅng bong nữa, do Anh ngữ tạo ra. Trong Anh ngữ có hai danh xưng IndonésiaIndonésian.

Indonésia là tên nước, cái nước Nam Dương ngày nay. C̣n Indonésian mới là tên chủng tộc tương đương với danh xưng Indonésien của Pháp. Sử gia Phạm Văn Sơn đă lầm lẫn hai danh xưng đó, nó chỉ khác nhau có một chữ n sau cùng.

Trong Việt sử tân biên, ở trang 54, sử gia Phạm Văn Sơn có viết: “Một số trí thức Việt Nam cũng thắc mắc rằng người Việt ta nay chưa chắc đă là một nhóm trong gia đ́nh Bách Việt. Nếu chúng tôi không lầm, các vị đó đă chịu ảnh hưởng của ư kiến do cô M. Colani, H. Mansuy, Patte, Parmentier, cùng một số học giả Thụy Điển, Ḥa Lan, chủ trương rằng thánh tổ cơ bản của dân tộc Việt Nam chính là thánh tổ “Indonésia”.

Ư sử gia muốn nói: “Thánh tổ Indonésian” đấy v́ sử gia đang nói đến chủng tộc chớ không hề nói đến xứ nào hết, mà các ông Tây bà đầm mà sử gia ám chỉ đến cũng chỉ nói đến chủng Indonésian mà không hề nói đến xứ Indonésia, v́ đă bảo người Cổ Mă Lai có mặt khắp nơi chớ không riêng ǵ ở nước Indonésia.

Đó là nói về sự lầm lẫn danh xưng chớ “bên trong c̣n lắm điều hay”, v́:

Indonésian – Bách Việt

đó, chớ không phải là hai thứ khác nhau đâu. Đó là nội dung của quyển sách nầy với hàng trăm chứng tích cụ thể và khoa học.

Kể cả một số nhà học giả Âu châu cũng chẳng biết Indonésian là ǵ, nên họ mới lập ra cái thuyết dân Hoa Nam tràn xuống lưu vực Hồng Hà và đồng hóa dân Indonésian ở đó, rồi biến thành dân Việt Nam.

Thuyết nầy được ông Hoàng Trọng Miên (V.N.V.H.T.T.) lập lại.

Người Hoa Nam thuở xưa đích thị là Cổ Mă Lai, như chúng tôi sẽ chứng minh ở những chương sau, và khi dân ở lưu vực Hồng Hà cũng là Cổ Mă Lai th́ không thể có sự kiện nhóm Mă Lai nầy “đồng hóa” nhóm Mă Lai khác.

Hơn thế, khoa khảo tiền sử đă cho thấy rằng người Indonésien ở lưu vực Hồng Hà chỉ mới tới đó từ sau, chớ không phải là dân thổ trước nằm sẵn đó để đợi dân Hoa Nam tới để mà bị “đồng hóa”.

Nhà bác học G. Cocdès nguyên Viện trưởng Viện Viễn Đông bác cổ cũng thấy nhiều nhà học giả Âu Mỹ dốt, nên ông đă nhiều lần nói khéo cho họ biết rằng Indonésien là Cổ Mă Lai, đừng có hiểu bậy bạ mà làm rối ren vấn đề. Nhưng ông G. Cocdès rất khiêm tốn, ăn nói rất kín đáo, chớ không ḥ hét vô lễ như chúng tôi.

Sở dĩ chúng tôi có thái độ vô lễ là v́ phải ḥ hét như vậy thiên hạ mới hết ngộ nhận chớ nói thầm như ông G. Cocdès th́ các nhà bác học Âu Mỹ cứ tiếp tục ăn nói hồ đồ hỗn độn rối trí người đọc, chẳng ai hiểu ǵ cả.

Chúng tôi sẽ bị mắng, bị ghét, nhưng chúng tôi tự hy sinh, cốt làm ổn định một t́nh trạng loạn xà ngầu.

Nhưng ông G. Cocdès đă biết Indonésien rồi, đă chỉnh thiên hạ rồi, vẫn không biết sự thật lịch sử v́ rồi ông viết: “Dân Việt Nam tràn đến, đuổi dân Anh-Đô-Nê-Diêng lên Cao nguyên”.

Ấy, họ là ai, ở đâu tràn đến hở ông G. Cocdès? Nói như sử gia Nguyễn Phương mà c̣n nghe được: Người Tàu tràn đến, đuổi người Indonésien đi mất, chớ nói như ông th́ bí mật quá. Dân Việt Nam thuộc chủng nào mà đuổi Cổ Mă Lai đi?

Ngữ căn Anh-Đô nầy c̣n gây ngộ nhận ở nhiều nơi khác, rất là buồn cười.

Thuở xưa ông Kít Tốp Cô Long đi t́m Ấn Độ về ngă hướng Tây. Ông gặp Châu Mỹ với dân thổ trước ở đó và ông ngỡ đă gặp dân Ấn Độ, nên ông đặt tên họ là Indien.

Báo hại mấy trăm năm sau, khi Âu Châu biết Ấn Độ thật sự rồi th́ phải bày ra danh xưng thứ nh́ là Hindou để chỉ người Ấn Độ. Họ đă lầm, nhưng rồi đă xoay xở để không gây ngộ nhận.

Indien = Thổ dân Mỹ Châu

Hindou = Ấn Độ

Thế mà cho đến năm nay, các sách dịch của ta về Mỹ Châu cứ tiếp tục dịch Indien là Ấn Độ, khiến học tṛ phải điên đầu, tự hỏi tại sao mà ở Châu Mỹ lại có dân Ấn Độ?

Chưa bao giờ mà một ngữ căn lại gây ngộ nhận nhiều đến thế, sâu rộng đến thế, và sự ngộ nhận lan vào cả giới văn nghệ và bác học nữa, tức lan vào toàn khối trí thức ta.

Các nhà bác học Âu Mỹ, tuy nói thế chớ không phải ông nào cũng dốt. Và họ dùng danh xưng bí hiểm không cố ư. Nó chỉ bí hiểm với người không chuyên môn, chớ các nhà bác học thế giới th́ hiểu rất đúng. Tại ta không thông ngoại ngữ đó thôi.

Nhưng biết Indonésien là Cổ Mă Lai rồi, thiên hạ vẫn cứ sa lầy như thường v́ hai lẽ:

1.      Phản khoa học

2.      Tự ái xằng

Tự ái xằng th́ chỉ có ta là tự ái, chớ các ông Tây th́ không. Tổ tiên ta không bảnh th́ ta thất vọng, phủ nhận họ chớ mắc mớ ǵ tới các ông Tây. Các ông không tự ái tầm ruồng, nhưng các ông vẫn không rút chơn ra khỏi đầm lầy Đông Sơn v́ tất cả bao nhiêu nhà bác học đó đều thiếu mất cái đức tính số một là tinh thần khoa học.

Trí thức Việt Nam, khi thốt ra danh xưng Anh-Đô-Nê-Diêng, luôn luôn nghĩ đến người Thượng cao nguyên v́ các ông Tây dốt đă nói không minh bạch rằng người Thượng là Mọi.

Thiên hạ ngạc nhiên hết sức tự hỏi sao một thứ người như người Thượng lại lập được một nền văn minh rực rỡ thế kia ở Đông Sơn.

Chúng tôi nói rực rỡ không phải là nói quá đâu. Một nhà bác học trong nhóm đó có thử nghĩ ra một biến cố như sau. Nếu có thiên tai khủng khiếp nào xảy ra tại nước Huê Kỳ và tiêu diệt tất cả th́ hai ngàn năm sau, loài người tới đó, cũng chỉ t́m được vài ngàn món đồ bằng đồng thau, y như ở Bắc Việt và Đông Sơn, chớ những ǵ bằng sắt, bằng lụa, bằng gỗ, bằng gạch sẽ đều mục nát hết.

Như thế, ta đoán biết được rằng ngoài hàng ngàn món đồ bằng đồng thau đó, dân Đông Sơn hẳn có hàng vạn thứ khác nữa, cùng mức độ khéo léo tinh xảo như đồ đồng thau, tất cả hợp lại thành một nền văn minh mà trong đó đời sống của dân chúng có thể xem là khá tốt đẹp.

Nhưng ranh giới giữa Cổ Mă Lai và Kim Mă Lai không rơ rệt lắm, và người Đông Sơn không chắc lắm là giống đồng bào Thượng ngày nay về vóc dáng c̣n về mức sống th́ hẳn phải hơn, như cổ vật cho thấy.

Các ông Tây không tự ái xằng như ta, nhưng các ông cứ vùi đầu vào nền văn minh Đông Sơn và ngỡ nguồn gốc dân tộc ta ở đó.

Chúng tôi bảo rằng các ông thiếu tinh thần khoa học, không phải là chúng tôi phách lối dám coi thường cả các nhà bác học của Viện Viễn Đông bác cổ, nhưng sự thật là thế. Đă bảo làm thế nào mà nguồn gốc của một dân tộc lại nằm tại giai đoạn đồng pha cực hạ (basse époque de bronze) được hở trời!

V́ thế mà rồi các ông bị mất nửa thế kỷ. Quả thật thế, các nhà bác học ấy đều lâm vào một ngơ bí mà chúng tôi gọi đùa là ngơ bí Đông Sơn, bí không phải về nền văn minh đó mà họ biết rất rơ, mà về một điểm sử của nước Việt Nam, khi họ đặt ra câu hỏi: “Người Đông Sơn có phải là tổ tiên của người Việt Nam hay không?”.

Đă thấy quá rơ rằng họ là Cổ Mă Lai, c̣n người Việt Nam th́ không có ǵ là Mă Lai cả th́ làm thế nào để ráp nối Đông Sơn với Việt Nam được?

V́ không nuốt trôi được sự kiện kỳ dị đó, nên nhà bác học V. Goloubew, thuộc Viện Viễn Đông bác cổ mới phúc tŕnh tại Bá Lê năm 1936, cuộc phúc tŕnh về khảo tiền sử ấy rồi được in thành tập. Trong tập Le peuple de Đông Sơn, ông viết: “Cái nền văn minh đó (tức văn minh Đông Sơn) tiết lộ cho ta thấy những dây liên hệ sâu đậm với văn hóa Mă Lai, thế nên không có vấn đề xem dân Đông Sơn là tổ tiên trực tiếp của dân Annam hiện nay (mà văn hóa mang màu sắc Trung Hoa)”.

Những chữ ở trong dấu ngoặc là do chúng tôi tự ư thêm vào cho rơ nghĩa câu nói của ông V. Goloubew.

Nhượng Tống, giáo sư Kim Định và sử gia Phạm Văn Sơn nói là các ông Tây, Thụy Điển, Ḥa Lan làm cho trí thức ta thắc mắc. Nhưng chính các ông Tây đă phủ nhận rằng: tổ tiên ta là Mă Lai đó chớ.

Các nhà học giả đă ngộ nhận v́ lư do sau đây. Ta cứ nh́n nhận càn rằng nền văn minh Đông Sơn là của tổ tiên ta, mà nó lại có tánh cách Mă Lai, thế nên rồi ta cứ hiểu càn rằng các ông Tây cho rằng tổ tiên ta là Mă Lai.

Thật ra th́ các ông Tây không bao giờ nh́n nhận nền văn minh Đông Sơn là của tổ tiên ta, như cuộc phúc tŕnh của ông V. Goloubew đă cho thấy, v́ cái lẽ họ không thấy ta là Mă Lai, trong khi đó th́ Đông Sơn là Mă Lai rơ rệt.

Người ta chỉ nói Đông Sơn là Mă Lai, và phủ nhận nó là của tổ tiên ta. C̣n ta th́ nhận càn, thành thử cái yếu tố Mă Lai dính chặt trong nền văn minh Đông Sơn bị lôi cuốn theo. Thế nên mới có việc tin mạnh và đính chánh ầm ĩ.

Thật là quái dị, cái hiện tượng đó, về đủ cả mọi mặt. Người ta phủ nhận Mă Lai Đông Sơn là tổ tiên ta thế mà trí thức ta lại viết cả những quyển sách thật dày để đính chánh nguồn gốc Mă Lai của ta, làm như khoa học đă quả quyết xong rồi, phải căi cho kỳ được mới nghe.

Trong khi đó th́ một nhóm trí thức khác lại cứ nhận càn Đông Sơn là tổ tiên ta, nhưng loại trừ tánh cách Mă Lai của nền văn minh ấy, v́ chính họ cũng không nuốt trôi sự kiện ta là Mă Lai.

Nhưng thà là phủ nhận như V. Goloubew, chớ nhận nửa chừng sao được hở các ông, v́ Mă Lai dính chặt như keo sơn vào nền văn minh Đông Sơn làm thế nào mà các ông hất cẳng nó ra được.

Nhà bác học V. Goloubew nuốt không trôi, mà một số trí thức ta lại càng nuốt không trôi hơn ông ấy nữa, v́ họ thấy ta khác Mă Lai quá xa, khác như nước với lửa, th́ làm thế nào ta là con cháu Mă Lai được. (Chúng tôi chỉ nói đến trí thức, v́ mặc dầu câu chuyện xảy ra từ năm 1920, nhưng đến nay, đa số dân chúng cũng chẳng ai hay biết ǵ hết. Thỉnh thoảng có một vài bài báo Việt có tánh cách phổ thông, kể câu chuyện đó, nhưng cũng ít người buồn xem lắm).

Trí thức ta không nuốt trôi cái vụ Mă Lai đó, thế mà đa số lại càng nhận nền văn minh ấy là của tổ tiên ta, cái mới là mâu thuẫn. Họ thấy nó rực rỡ, không nhận th́ uổng lắm, nhưng nhận mà chỉ nhận nửa chừng, tức phủ nhận tánh cách Mă Lai, mặc dầu tánh cách ấy rất rơ rệt.

Có người nói rằng người Pháp họ ác ư nên mới phủ nhận nền văn minh rực rỡ ấy là của tổ tiên ta. Sự thật th́ không phải thế. Ông V. Goloubew là người Nga chớ không phải là người Pháp.

Mười năm sau ông V. Goloubew, một ông Tây khác ra đời. Đó là ông O. Jansé.

Nói ra đời th́ không đúng, v́ ông nầy là người cũ, lâu năm hơn cả ông V. Goloubew nữa, nhưng ông ta đă nín đi mười năm mới lên tiếng.

Ông O. Jansé là trưởng phái đoàn mà Viện Bác cổ Viễn Đông Hà Nội đă gởi xuống Thanh Hóa để thám quật các cổ vật nói trên. Các cổ vật ấy đă được dân chúng t́m thấy từ năm 1920, và tiếng đồn thấu đến tai hai ông H. Parmentier và V. Goloubew vào năm 1923 và hai ông nầy mới chính thức cho Viện hay tin và xin Viện khảo cứu vùng đó. Nhưng người được danh dự giao trọng trách lại là ông O. Jansé, người Mỹ gốc Thụy Điển, chớ không phải ông H. Parmentier, người Pháp, hoặc V. Goloubew, người Pháp gốc Nga.

Ông O. Jansé lỗi lạc về môn khai quật đúng phương pháp khoa học và công việc mà ông đă thực hiện tưởng trên thế giới không ai làm hơn được.

Tuy nhiên, khai quật xong, c̣n phải làm cái ǵ nữa, mà cái ǵ đó th́ ông O. Jansé làm không trôi được một cách trọn vẹn.

Ông đă nghiên cứu rất kỹ và rất đúng những cổ vật đào được và riêng về việc nghiên cứu nền văn minh Đông Sơn, tưởng ông không thua ai hết.

Nhưng có một khoản trong việc nghiên cứu đó th́ thấy rơ là ông phản khoa học. Đó là cái phần kết luận về liên hệ giữa người Đông Sơn và Việt Nam.

Trong tập phúc tŕnh viết bằng tiếng Anh, do Havard University Press 1947 xuất bản nhan là Arechaoelogical Résearch in Indo China ông O. Jansé chứng minh rất khoa học rằng người Đông Sơn thuộc chủng Cổ Mă Lai. Mặt khác, ông không hề chứng minh được rằng dân Việt Nam cũng thuộc chủng Mă Lai. Thế mà ông lại dám kết luận rằng:

Đông Sơn = Việt Nam

Theo phương pháp khoa học th́ ông O. Jansé phải tŕnh ra cho kỳ được tam đoạn luận sau đây:

Đông Sơn = Mă Lai

Việt Nam = Mă Lai

Đông Sơn = Việt Nam

Nhưng ông không bao giờ viết ra được cái đẳng thức toán học thứ nh́:

Việt Nam = Mă Lai

thành thử tam đoạn luận của ông kể như là một con số không.

Tới đây th́ sự thừa nhận càn và sự đính chánh ầm ĩ mới nổi lên. Nhận càn v́ một nhà bác học đă xác nhận càn, c̣n đính chánh ầm ĩ, cũng chính v́ sự xác nhận vô bằng chứng của nhà bác học đó. Cả hai phe phái Việt Nam đều dựa vào một nhà bác học nói tầm ruồng để làm việc đại sự.

Năm 1964, nhà nho Nhượng Tống viết: “Mấy người ngoại quốc khảo cứu về nhân chủng ở xứ ta, có người bảo tổ tiên ta ở Mă Lai sang. Đó chỉ là ức thuyết, chả có ǵ là chắc chắn”.

Thấy rơ là Nhượng Tống ám chỉ đến ông O. Jansé, v́ cho tới năm đó, chỉ có hai ông V. Goloubew và O. Jansé là đă công khai lên tiếng mà thôi, nhưng ông V. Goloubew th́ đă phủ nhận như ta đă thấy trên kia.

Nhưng ông O. Jansé cũng chẳng buồn lập ra ức thuyết nào cả, ông chỉ khẳng định suông bằng nửa câu ngắn mà thôi.

Sở dĩ Nhượng Tống viết như thế v́ ông O. Jansé đă thất bại trong kết luận của ông.

Trong ba quyển sách dày lối mười ki lô của ông, ông không bao giờ viết ra được đẳng thức:

Việt Nam = Mă Lai

Nhượng Tống là một nhà nho cừ khôi, ông ấy biết khoa học, biết tinh thần khoa học, và không chấp nhận được một cuộc kết luận phản khoa học như kết luận của ông O. Jansé.

Thật ra th́ ông O. Jansé có thử chứng minh, chứng minh của ông khá vững, nhưng khoa học không công nhận, cho là không vững.

Trong tập phúc tŕnh nói trên, ông viết ngay ở mấy trang đầu, chớ không phải nơi chương kết luận: “Cứ theo lời dân làng th́ chỗ đó (chỗ mà phái đoàn Viện Viễn Đông bác cổ sắp sửa thám quật lần đầu, tại Đông Sơn) không bao giờ được ai đả động tới v́ lẽ bí mật ǵ không biết (For reasons unknow to them). Xem ra th́ nơi đó chắc là nơi kiêng kỵ vào thời cổ (taboo in ancient times) và cả khi sự kiêng kỵ bị quên rồi, dân làng vẫn tiếp tục kính trọng nơi đó v́ truyền thống. Tôi (lời ông O. Jansé) nghĩ rằng sự kiêng kỵ ấy có lư do nầy là đất ấy ngày xưa dùng làm nơi chôn cất (cho những nhơn vật quan trọng)”.

Đoạn văn trên đây, ngụ ư rất minh bạch, không thể hiểu lầm: dân làng Đông Sơn ngày nay là hậu duệ của dân Lạc Việt tiền Mă Viện. Nếu có sự đứt đoạn trong ḍng thế hệ, nếu dân làng ngày nay là hậu duệ của người Tàu di cư sau Mă Viện như sử gia Nguyễn Phương nói th́ không làm sao mà có cái truyền thống kính trọng đất thiêng nói trên.

Dân làng Đông Sơn ngày nay (tức năm 1924) giữ truyền thống của dân Đông Sơn Lạc Việt, thế nghĩa là không có sự đứt đoạn, không có dân tộc khác xen vào.

Thế nghĩa là:

Đông Sơn = Việt Nam

Tuy nhiên, khoa học cứ đ̣i hỏi hơn, v́ có thể người Việt Nam ngày nay vốn là người Tàu (theo sử gia Nguyễn Phương) vẫn sợ cái ǵ mà cổ dân vốn thuộc chủng khác đă sợ hăi, v́ họ được chứng kiến sự sợ hăi của thứ cổ dân đó khi họ mới đến, mới chung đụng với cổ dân đó. Rồi cổ dân đó bị họ tàn sát hết, nhưng họ cứ c̣n sợ nổi sợ cổ thời của dân bị diệt chủng.

V́ thế mà chúng tôi cho rằng chứng minh của ông O. Jansé khá vững, nhưng khoa học không nh́n nhận.

Thật ra th́ các nhà bác học ấy không tha thiết lắm trong công việc t́m nguồn gốc của dân tộc ta, v́ đó không phải là công việc của họ. Họ nghiên cứu nền văn minh Đông Sơn chỉ v́ nền văn minh Đông Sơn. Nền văn minh ấy, tự nó, có giá trị riêng. Họ không phải là sử gia, và dùng kết quả khảo cứu cách nào cho đúng để viết sử là công việc của sử gia chớ không phải của họ là những nhà khảo tiền sử.

Phương chi họ lại đang bí v́ không thể lập ra được cái tam đoạn luận nói trên, nên đă không tha thiết, họ bỏ trôi luôn.

Họ là nhà khảo cổ, và họ đă làm xong sứ mạng, y như cố đạo L. Cadière nói, c̣n về sau, các sử gia tự ư kết luận sao đó th́ kết luận. Họ chỉ dại dột kết luận về mặt sử học, để cho phải sai lầm, cả hai ông đều sai, cách nhau mười năm.

V́ quá bí, nên họ chỉ c̣n biết say mê những ǵ họ làm được chớ không bận tâm đến nguồn gốc dân tộc Việt Nam nữa. V́ vậy mà vấn đề cứ c̣ng ḷng ḍng hoài.

Cuộc sa lầy, nằm tại chỗ không nối kết được Mă Lai với Việt Nam, mà nếu có nối kết được, cũng c̣n cứ sa lầy như thường, v́, như đă nói, nguồn gốc của một dân tộc không làm sao mà nằm tại giai đoạn đồng pha, hơn thế, đó là giai đoạn cực hạ v́ kỹ thuật đồng pha Đông Sơn đă là nghệ thuật rồi, th́ giai đoạn Đông Sơn là giai đoạn quá mới, tương đối với thượng cổ sử của một dân tộc.

Tuy nhiên, các ông Tây khác, sau đó, vẫn có thử nối kết Mă Lai với Việt Nam, các ông có thành công phần nào, nhưng đó chỉ là công dă tràng v́ nguồn gốc dân ta sao mà nằm tại thời đại đồng pha được kia chớ.

Trong khi đó trí thức Việt Nam lại lấy một thái độ dễ dăi và vô lư nầy là nhận càn nền văn minh Đông Sơn là của tổ tiên ta.

Nhưng tất cả ba thái độ, ba khuynh hướng trên đều phản khoa học:

  1. Ông V. Goloubew phủ nhận quá sớm khi chưa nỗ lực t́m ra cái đẳng thức Việt Nam = Mă Lai.
  2. Trí thức ta không thèm t́m ǵ hết mà cứ nhận. Họ nhận Đông Sơn là tổ tiên mà không đưa ra được lấy một bằng chứng nhỏ rằng ngày nay ta cứ c̣n là Mă Lai.

Có người c̣n làm một cuộc loại trừ rất là buồn cười. Họ nhận Đông Sơn là tổ tiên ta, nhưng không nhận Đông Sơn là Mă Lai. Họ làm như là một bà nội trợ, đi chợ, chọn món ngon th́ mua, món dở th́ thôi, nền văn minh đó rực rỡ th́ họ nhận, c̣n Cổ Mă Lai không rực rỡ th́ họ phủ nhận. Họ quan niệm sai lầm rằng làm Cổ Mă Lai xấu xa lắm v́ họ thấy người Cổ Mă Lai ở Cao nguyên không bảnh.

Nhưng viết sử khác với mua ăn. Tổ tiên ta hay dở ǵ ta cũng phải nh́n nhận trọn vẹn, chớ không thể chọn lựa. Cha tôi là tướng cướp, tôi cũng đành chịu vậy, c̣n tôi nói ngọng cha tôi cũng đành chịu vậy, không ai chọn ai được cả.

Đây là việc thừa tự chớ không phải là một cuộc kết hôn, phương chi lắm khi trong cuộc kết hôn, người ta cũng có thể bị đẩy vào cái thế không thể lựa chọn.

Thí dụ quân lính của Mă Viện họ hiếp con gái Lạc Việt, sau khi tàn sát hai bà Trưng, cho đẻ ra Tàu lai, con gái Lạc Việt lựa chọn được hay không ?

Nhưng như đă nói, Cổ Mă Lai không có ǵ xấu xa hết và chúng tôi đă tiếp xúc với đồng bào Thượng, đă thương mến họ v́ đức tính và đạo đức của họ, nó hơn hẳn ta nhiều bực. Thế nên chúng tôi mới nêu câu nói của bác sĩ Haurd ở trang đầu sách nầy.

Trường hợp điển h́nh nhứt và sau cùng nhứt là trường hợp của giáo sư Kim Định. Ông chối bỏ nguồn gốc Mă Lai của tổ tiên ta, nhưng lại nhận Đông Sơn, mặc dầu Đông Sơn là Mă Lai một trăm phần trăm không thể chối.

Quả thật thế, ông đă trích một cuốn sách Tàu chép rằng Xuy Vưu là chim mà không biết bay, ông cho rằng câu đó ngầm nói rằng Việt thờ vật tổ là chim, v́ ông nối kết nó với h́nh chim ở trống Đông Sơn.

Thế là ông vừa phủ nhận Mă Lai xong th́ lại nhận Đông Sơn ngay, tức chia hai Đông Sơn ra, tánh cách Mă Lai th́ bỏ đi, c̣n cái ǵ hay của Đông Sơn th́ giữ lại.

(Thật ra th́ câu sách Tàu bí hiểm đó, không có nghĩa ấy, v́ chúng tôi sẽ chứng minh rằng chim không phải là vật tổ của dân ta như các ông Tây đă lầm).

Ông O. Jansé nhận càn trọn vẹn Việt Nam = Mă Lai mà cũng chẳng đưa ra được bằng chứng khoa học nào hết.

Tóm lại, trước ngơ bí Đông Sơn, tất cả mọi khuynh hướng đều phản khoa học. Xin tŕnh ra nguyên tắc khoa học sắc bén nhứt để ta noi theo đó mà làm việc cho khỏi sai lầm.

Nguyên tắc nầy là khuôn vàng thước ngọc mà nếu không theo ta khó mong t́m ra sự thật lịch sử. Đây, tóm lược nguyên tắc: Lịch sử của một dân tộc giống hệt sợi dây xích sắt, có cái khoen đầu, cái khoen cuối và những cái khoen nối kết trung gian. Trong trường hợp của ta, cái khoen đầu là nền văn minh Đông Sơn có tánh cách Mă Lai, cái khoen cuối là nền văn minh Việt Nam hiện đại nhuốm màu sắc Trung Hoa. Nếu chưa t́m được những cái khoen trung gian nó minh họa sự biến chuyển từ Mă Lai sang Trung Hoa th́ không được phép lôi kéo Đông Sơn vào Việt Nam.

Như vậy phương pháp làm việc là t́m những cái khoen trung gian đó, chớ không phải cứ vội bận tâm về việc nh́n nhận hay phủ nhận.

Chừng nào t́m được rồi th́ vấn đề mới được giải quyết, bằng chưa th́ cứ để cho nó ḷng ḍng, không ai có quyền hối thúc, bắt ép ai phải nh́n nhận hay phủ nhận ngay từ năm 1936, hay vào năm nay (1964) hoặc trong 50 năm nữa.

Ông V. Goloubew không t́m ṭi đến chốn mà cứ dám phủ nhận, c̣n ông O. Jansé t́m không thấy lại cứ dám nh́n nhận, th́ thật là kỳ, mà kỳ nhứt là trí thức ta, không t́m ṭi ǵ hết, vậy mà vẫn cứ nhận, lại nhận có điều kiện nữa chớ!

Lư trí, kinh nghiệm và khoa học dạy ta rằng không phải nền văn minh cổ nào nằm trong ḷng đất ta, đều là của tổ tiên ta. Không, cách đây hai ba ngàn năm, rất có thể có một dân tộc khác làm chủ đất ta ngày nay th́ cho rằng nền văn minh Đông Sơn nhứt định phải là nền văn minh của tổ tiên ta, không khoa học chút nào hết.

Không thể chắp nổi hai nền văn minh khác tánh cách lại với nhau khi không đưa ra được những cái khoen trung gian chứng tỏ có sự biến dạng, mà sự chắp nối ấy c̣n giá trị khoa học nào.

Nhận văn minh Đông Sơn là của tổ tiên ta, th́ quá dễ, bởi nền văn minh đó không có chủ, chẳng ai tranh giành với ta, nhưng ta có yên tâm được hay không, khi nhận càn, không chứng tích?

Cả ba khuynh hướng trên đều là khuynh hướng bí và nó đưa tới những kết quả không được khoa học công nhận, và chính lương tâm của ta cũng không công nhận nữa.

Thế nên, để an ḷng ḿnh, ông O. Jansé của khuynh hướng thứ nh́ mới viết: “Bọn phiêu lưu tiên phuông Tàu là thợ giỏi nên các thủ lănh địa phương (Đông Sơn) ưa gả con gái cho họ”.

Ông O. Jansé muốn ám chỉ đến một cuộc hợp chủng Hoa Việt để cắt nghĩa tại sao giờ dân ta mang bản sắc Tàu chớ không phải bản sắc Mă Lai như người dưới mồ.

Chương kết luận của ông O. Jansé là một trang sách, nếu in chữ nhỏ th́ không đầy một trang tiểu thuyết b́nh thường, trong đó câu trên đây được nêu ra. Nhưng đó chỉ là một mưu trá để ráp nối Mă Lai với Tàu cho nó thành Việt Nam chớ không phải là chứng tích v́ ông không chứng minh được rằng cuộc hợp chủng ấy lớn lao đến mức làm mất hẳn bản sắc Mă Lai, mà c̣n trái lại nữa, cuộc hợp chủng ấy quá nhỏ nên chỉ được ông bố thí cho có nửa câu ám chỉ ngắn mà thôi, th́ làm sao tánh cách Mă Lai lại biến mất được?

Phải chứng minh được một cách toán học rằng:

Việt = Mă Lai

th́ khoa học mới thôi thắc mắc.

Sử chỉ là khoa học nhân văn chớ không phải khoa học chính xác như lư-hóa, nhưng đó là về một mặt nào đó thôi, chớ nơi vài khía cạnh, khoa học vẫn đ̣i hỏi nó phải chính xác y như toán.

Trong trường hợp Đông Sơn, Mă Lai, Việt Nam, phải viết cho được ba đẳng thức, ba đẳng thức đó phải hợp thành một tam đoạn luận, như đă nói trên kia, mới dứt khoát được vấn đề.

V́ cả ba khuynh hướng đều phản khoa học, để lộ một sơ hở quá thô sơ, nên giáo sư đại học Nguyễn Phương mới xen vào, chứng minh rằng ta là người Tàu thuần chủng.

Thế mới chết nữa, và có tai hại hay không, chỉ v́ cả ba khuynh hướng trên đều sơ hở quá lớn?

Chúng tôi đă có nhiều bài báo bác bỏ cái thuyết sai lầm của sử gia Nguyễn Phương, nhưng chúng tôi vẫn phải nh́n nhận rằng sử gia Nguyễn Phương đă thấy được tánh cách phản khoa học của ba khuynh hướng trên.

Sở dĩ thuyết của sử gia Nguyễn Phương sai là v́ lúc lập thuyết sử gia lại cũng bất chấp khoa học, chớ riêng việc nhận xét ba khuynh hướng đó th́ sử gia rất sáng mà thấy được sơ hở ấy.

Làm thế nào mà thuở ấy, tại Đông Sơn, lại có ba dân tộc văn minh được kia chớ? Chắc một trăm phần trăm là chỉ có chủ đất là ta ở Đông Sơn và kẻ xâm lăng là Tàu, một dân tộc văn minh thứ ba xen vào đó sao được? Để cùng Tàu xâm lăng ta chăng, hay để cùng ta đồng làm chủ đất? Cả hai giả thuyết ấy đều không có lư. Vả lại nếu có, sử Tàu đă có chép về một dân tộc thứ ba ấy không (Chúng tôi không nói đến những bộ lạc kém mở mang khác, vẫn sống lẫn lộn với người Đông Sơn).

Thế th́ một là ta là Đông Sơn, hai là ta là Tàu, không sao khác hơn được. Nhưng khoa học lại chưa nhận rằng ta là Đông Sơn th́ sử gia Nguyễn Phương bỏ ta vào cái bị Trung Hoa vậy.

Sử gia Nguyễn Phương rất tinh ư, thấy chỗ sơ hở của người khác, nhưng ông vẫn phản khoa học như thường v́ ông không hề thử t́m những cái khoen nối kết mà khoa học đ̣i hỏi.

Ông lại “trễ tàu” v́ từ năm 1936 đến năm quyển Việt Nam thời khai sinh của ông ra đời năm 1965, nhiều nhà bác học khác đă t́m được vài cái khoen nối kết. Mà hễ có một cái, có vài cái, th́ sẽ có trăm ngàn cái, tuy chưa đủ, mà rồi sẽ đủ. Chỉ có một cái mà thôi, cũng đủ ngăn sử gia bỏ ta vào bị Trung Hoa rồi. Thế mà sử gia không hay biết, làm như không ai t́m được ǵ cả, và đă tuyệt vô hy vọng rồi, nên ông chọn Tàu làm tiên tổ để dứt khoát vấn đề.

Sử gia nỗ lực kinh hồn để cố chứng minh rằng Việt = Hoa nhưng công tŕnh của sử gia lầm ngay ở tiền đề: Nếu người Việt Nam là Tàu th́ tại sao họ lại thờ vua Mă Lai Hùng Vương, thờ anh hùng Mă Lai Trưng Trắc?

Những người bạn Trung Hoa của chúng tôi ở Sài G̣n nầy, khi được chúng tôi cho biết nội dung quyển V.N.T.K.S. và được hỏi ư kiến, họ đều đáp: “Chúng tôi, người Trung Hoa, chúng tôi kính mến vua tổ của anh, khâm phục nữ anh hùng của anh, nhưng thờ những vị đó, th́ chắc chắn là không, bởi chúng tôi không có lư do thờ phượng vua và anh hùng nước khác. Cũng không lư do nào mà một ngày nào đó, người Tàu di cư sang Giao Chỉ lại bỗng dưng quên ḿnh là người Tàu, đi thờ vua và anh hùng Lạc Việt. Tri t́nh th́ không thờ, c̣n thờ v́ quên gốc, cũng không thể có được”.

Ông O. Jansé c̣n nói ra được hai tiếng “Hợp chủng Hoa Việt”, chí như sử gia Nguyễn Phương th́ không, mà c̣n trái lại nữa, ông cho rằng ta là người Tàu thuần chủng.

Buồn cười nhứt là Nhượng Tống. Nhượng Tống đă mắng Ngô Sĩ Liên v́ Ngô Sĩ Liên đă để lộ cho thấy rằng tổ tiên của ta là người Mường, bằng cách đưa truyền thuyết Mường vào sử Việt.

Nhưng Nhượng Tống cũng lại mắng những ai cho rằng tổ tiên của ta là người Tàu. Ông phủ nhận luôn nguồn gốc Mă Lai.

Như vậy tổ tiên ta là ai? Như nhiều nhà học giả khác, Nhượng Tống tưởng rằng người Việt Nam tự nhiên có mặt được ở xứ nầy, và xưa sao, nay vậy, không hề thay đổi, tức một chủng riêng biệt, theo thuyết H. Maspéro.

Cái thuyết Việt tộc là một chủng riêng biệt của H. Maspéro đă được nhiều sử gia ta lặp lại. Nhưng ông H. Maspéro, mặc dầu là nhà bác học, lại quên học khoa chủng tộc học. Không hề có một chủng chỉ đông có bảy trăm ngàn người (theo cuộc kiểm tra dân số của Mă Viện). Nếu có th́ đó là một mảnh vụn của một chủng tộc nào đó, rất lớn, v́ chủng tộc nào cũng rất lớn cả. Mà nếu sự kiện đă xảy ra như vậy th́ cái chủng tộc lớn đă tàn lụn, chỉ c̣n sót lại có bảy trăm ngàn người Lạc Việt ở châu thổ Hồng Hà, cái chủng lớn ấy, khoa chủng tộc học cũng đă biết. Không có chủng nào mà khoa đó không biết cả, từ khi các chủng thành h́nh một cách rơ rệt, cách đây hơn mười ngàn năm.

Nhưng tuyệt đối không hề có cái chủng lớn nào mà c̣n để sót lại một mảnh nhỏ là dân Lạc Việt hết.

Họ chưa biết cái gốc cũ đó, nên họ làm thinh mà t́m ṭi, chớ họ không bao giờ dám nói một điều rất dốt như ông H. Maspéro rằng Lạc Việt là một chủng riêng biệt.

H. Maspéro có tham vọng nghiên cứu nguồn gốc dân ta, nhưng lại chưa học khoa chủng tộc học (Raciologie).

Hơn thế, khoa chủng tộc học đă chứng minh rằng ngày nay, không c̣n chủng nào mà c̣n ở lại nơi phát tích của họ cả. Tất cả đều đă di cư, v́ sinh kế, v́ chiến tranh, v́ khí hậu thay đổi và v́ trăm ngàn lư do khác nữa.

Người cổ Ai Cập xưa, chủ nhơn của cái nền văn minh rực rỡ mà đền thờ c̣n tồn tại tại Ai Cập hiện kim, cũng là dân ở nơi khác đến đó rồi lập ra cái nền văn minh ấy tại đó, chớ gốc họ không phải ở đó.

Người Do Thái quả vừa trở về đất tổ ban đầu của họ, nhưng họ cũng phải đi lang thang suốt ba ngàn năm, và nếu gặp được đất mới th́ họ đă lập quốc ở nơi khác rồi.

Sở dĩ họ trở về là v́ trên quả địa cầu không c̣n đất trống để cho họ lập quốc, họ đă trở về là chuyện bất đắc dĩ, và phải đổ máu rất nhiều, chớ không, họ cũng đă đang sống ở nơi nào đó rồi, chớ không sao mà cứ được ở tại đất tổ của ngày xưa.

Nhưng họ mất nước và lấy lại nước chỉ trong ṿng có ba ngàn năm, c̣n dân ta th́ lại cổ ít lắm là năm ngàn năm, như sẽ chứng minh, th́ không làm sao mà dân ta gốc ở Bắc Việt ngày nay được cả.

Dân da trắng, từ cổ chí kim, chỉ thuộc ba chủng. Chủng Hamite của người Ai Cập, chủng Sémile của người Do Thái và Lưỡng Hà, chủng Ấn Âu của tất cả các dân da trắng hiện nay. Dân Albanie đông chỉ có hơn một triệu. Nhưng họ không là một chủng riêng biệt đâu, mà là một chi của chủng Ấn Âu đấy.

Tất cả những người t́m nguồn gốc dân Việt mà không thành công, đều do họ học thiếu khoa nầy hay khoa khác, v́ viết về nguồn gốc một dân tộc không có giản dị như viết về Tây Sơn chẳng hạn, chỉ cần có nhiều sử liệu là có thể làm được, không cần phải biết khoa học nào khác hết.

*

*      *

Những người phủ nhận Đông Sơn Lạc Việt là tổ tiên của ta có đại diện điển h́nh là V. Goloubew.

Đó cũng là một nhà bác học thiếu tinh thần khoa học.

Nhà bác học V. Goloubew đă quên mất sự thật nầy: Văn hóa là cái ǵ rất là gạt gẫm, nó biến dạng con người rất là kỳ dị.

Người Ấn Độ ở nước Ba-kít-tăng thấy họ giống người Á Rập chớ không giống Ấn Độ chút nào, chỉ v́ một đàng theo văn hóa Á Rập, một đàng theo văn hóa Ấn Độ, họ quên mất họ đồng máu Aryen với nhau.

Người Thái ở Vân Nam, cách đây 800 năm, thấy ḿnh là Á Rập v́ họ theo văn hóa Hồi, và thấy người Xiêm khác hẳn họ mặc dầu cả hai đều là Thái Vân Nam. Nhưng nay, cũng cứ người Thái ở Vân Nam th́ lại tự thấy họ là Tàu v́ họ đă bị Tàu đồng hóa từ đời nhà Nguyên.

C̣n về màu da th́ như đă nói, người Mă Lai không thuộc chủng da đen bao giờ, và khi đọc tới chương “Chủng Mă Lai” quư vị sẽ thấy họ nằm giữa chủng da trắng và chủng da vàng. Sở dĩ họ hơi đen là v́ nắng, bởi họ ở quá gần đường xích đạo, chớ hồi mà họ c̣n làm chủ đất Hoa Bắc cách đây hơn 5000 năm th́ họ trắng.

Buồn cười nhứt là tất cả các nhóm dân tộc gốc Mă Lai là: Mă Lai, Chàm, Cao Miên, Thái Lan, Gia Rai, Bà Na, Sơ Đăng v.v. đều gọi dân Việt Nam là “Man di”, chỉ v́ tất cả các nhóm Mă Lai ấy đều theo văn minh Ấn Độ, c̣n ta là nhóm Mă Lai độc nhứt ở Đông Nam Á theo văn minh Trung Hoa, nên họ mới thấy ta bằng con mắt Ấn Độ, con mắt nầy giống hệt con mắt Trung Hoa, hễ ai không phải là Trung Hoa đều bị gọi là man di tuốt hết.

Danh từ mà họ dùng là danh từ Phạn Yuavana, có nghĩa là “man di” và bị biến như thế nầy:

Mă Lai: Yuavan

Thái Lan: Yuôn

Chàm: Yuan

Miến Điện: Yuan

Cao Miên: Yuôn (Cáp Duồn)

Bà Na: Yuân

Ra Đê: Yoàn

Gia Rai: Yuân

Xi Tiêng: Yuơn

Mạ: Yen

Thật ra người Bà Na, Ra Đê, Gia Rai, Xi Tiêng, Mạ, không bao giờ theo văn minh Ấn như Mă Lai, Chàm và Cao Miên, Thái Lan, nhưng xưa kia họ là thần dân của Cao Miên và Chàm, nên họ gọi ta y theo chủ cũ của họ.

Ta không nên giận người Cao Miên, Thái Lan và Chàm, khi họ gọi ta là “Man di”, bằng ngôn ngữ Ấn Độ, chung quy cũng tại khi xưa họ dốt, rồi th́ nó quen miệng đi, chớ thật t́nh th́ họ không hiểu danh xưng ấy có nghĩa ǵ hết, cả trí thức của họ cũng không hiểu, mặc dầu trí thức họ rất thông Phạn ngữ, họ không hiểu v́ sự biến dạng đă xóa mất gốc Phạn đi.

Ở Sài G̣n có một người Ấn lai Việt làm ca sĩ, ca bằng tiếng Việt, một người Pháp lai Việt làm kép cải lương, lu bù phụ nữ Trung Hoa lai Việt làm đào cải lương, tất cả những tài tử đó đều xúc động thật sự v́ lời ca giọng hát của họ, chớ không phải là học thuộc ḷng như cái máy, tức họ nghe họ có tâm hồn Việt Nam thật sự, mặc dầu họ ư thức về nguồn gốc của họ.

Sự việc xảy ra như vậy, chỉ v́ giáo dục, mà giáo dục là văn hóa. Văn hóa biến tất cả, uốn nắn được tất cả, tṛn ra vuông, đen ra trắng.

Trên đây là sự thật khoa học, đă được chứng minh bằng nhiều cuộc thí nghiệm căn bản nổi danh, chớ không phải ư kiến của riêng chúng tôi.

Các nhóm Mă Lai đều tự thấy họ là Ấn Độ, riêng Mă Lai Việt và Mă Lai Nhật, Mă Lai Đại Hàn th́ lại hơi thấy ḿnh là Tàu (Rồi quư vị sẽ thấy rằng Nhật và Đại Hàn cũng đồng gốc Mă Lai như ta).

Riêng một nhóm Mă Lai kia th́ hiện nay lại tự thấy họ là Tây. Đó là Mă Lai Phi Luật Tân. Ngày xưa họ cũng theo văn hóa Ấn Độ, rồi Á Rập, y như Nam Dương, nhưng họ bị người da trắng trị họ từ 500 năm nay, họ theo đạo Kitô đến chín mươi phần trăm dân số, cảm nghĩ y như Âu Châu, với những ông tổng thống tên là José Rizal, Manuel Roxas, Elpidio Quirino v.v.

Tất cả đều do văn hóa biến dạng hết thảy, kể cả lănh vực sâu kín nhứt của tâm hồn ta, văn hóa cũng biến được nữa, chớ không riêng ǵ vóc dáng, đồ vật bên ngoài.

Tuy nói thế chớ ông V. Goloubew không có kém đến thế đâu mà không biết lẽ đó. Nhưng ông là nhà khoa học, nên ông mà có không quên cái lẽ đó, ông vẫn phải tôn thờ khoa học. Mà ở mặt khác, khoa học cũng dạy rằng văn hóa có biến dạng con người sâu đậm tới đâu đi nữa, dấu vết cũ vẫn c̣n.

Mà những dấu vết cũ ấy, dấu vết Mă Lai, ông V. Goloubew t́m măi vẫn không thấy được trong xă hội Việt Nam ta ngày nay.

Dân Dravidien, chủ đất cũ thứ nh́ của nước Ấn Độ (họ cũng là Mă Lai đấy) đă bị quân xâm lăng Aryen cố xóa tẩy dấu vết văn hóa từ trên bốn ngàn năm nay, nhưng không sao mà Aryen thành công được hết, và các nhà dân tộc học thế giới tới đó nghiên cứu vài năm là biết rơ cả. Hơn thế, họ c̣n t́m được dấu vết văn hóa Dravidien xâm nhập văn hóa Aryen nữa.

Nhưng ta th́ chỉ bị Tàu xóa văn hóa có một ngàn năm, th́ dấu vết Mă Lai ở đâu, nếu quả thật tổ tiên ta là Mă Lai ?

Nhưng, như đă nói, ông V. Goloubew chỉ là một nhà bác học sớn sác, nói theo miền Nam, tức quá vội vàng kết luận.

Rồi các ông Tây, v́ quá bí, bỏ trôi luôn, nên các ông khỏi sa lầy sâu hơn. Chỉ có trí thức ta là lâm vào cảnh vua Đường sa nê, mà sa tới cổ.

T́m nguồn gốc của dân tộc Việt Nam tại giai đoạn Đông Sơn như là đi t́m Sài G̣n mà cứ dừng chơn tại Hội An. Thế nên các vị sử gia ấy cứ loay hoay măi với Đông Sơn mà không đi tới đâu hết. Chính v́ ta sa lầy chớ không phải Tây, v́ như đă nói, họ phủi tay v́ bí, sau khi làm xong công việc chính là khảo tiền sử.

Tuy nói thế, chớ trong quyển sách nầy, chúng tôi cũng có t́m những cái khoen nối kết đó, mặc dầu nền văn minh Đông Sơn không nói lên được cái ǵ cả. Nguồn gốc dân tộc ta phải nhiều ngàn năm cổ hơn thế kia.

Nhưng chúng tôi vẫn t́m để xem Đông Sơn có phải là Việt Nam hay không và nếu phải th́ ta lại được biết một giai đoạn của cổ sử ta trên đường t́m về thượng cổ sử.

Và mặc dầu không kể Đông Sơn, chúng tôi cũng làm việc cho Đông Sơn một cách khoa học hơn những ông O. Jansé và V. Goloubew.

Vậy tới đây th́ thiên hạ đă trăi qua hai cuộc sa lầy rưỡi từ 1918 đến 1964, năm mà chúng tôi khởi thảo sách nầy, sau nhiều năm học hỏi:

1.      Sa lầy thứ nhứt của hai ông L. Aurousseau và H. Maspéro là chỉ dựa vào cổ sử Tàu.

2.      Sa lầy thứ nh́ của tất cả mọi người v́ ngỡ nguồn gốc dân ta ở tại giai đoạn Đông Sơn.

3.      Phân nửa một cuộc sa lầy thứ ba là không biết thuật ngữ Indonésien có nghĩa là ǵ.

Cho đến năm 1964 th́ đáng lư ra ta đă thoát khỏi được cuộc sa lầy thứ ba đó, nhưng ta vẫn không thoát, và chúng tôi xem đó là cuộc sa lầy lớn thứ ba.

Đến năm 1964 th́ kết quả của khoa khảo tiền sử đúng đă được công bố. Chúng tôi nhấn mạnh về chữ đúng, v́ vụ Đông Sơn là một cuộc sai lầm như đă nói.

Một số trí thức Việt Nam mà chúng tôi chỉ đúng tên, thí dụ ông Phạm Việt Châu, đă biết kết quả đó, và nhứt là không ngộ nhận v́ danh xưng Anh-Đô-Nê-Diêng.

Nhưng nhà trí thức họ Phạm lại không viết sử. Thật là quá uổng. Ông chỉ viết chuyện khác, nhưng cho ta thoáng thấy là ông có biết tài liệu đó, và hiểu đúng các danh từ, danh xưng trong tài liệu.

Khoa khảo tiền sử đúng đó là như thế nầy: đào bới để t́m cho đủ sọ của các chủng tộc có mặt trong lănh thổ Việt Nam từ 15 ngàn năm tới nay.

Đó là công việc mà Patte, Colani, Mansuy đă làm rồi. Nhưng không đúng, v́ c̣n phải biết những con người ấy từ đâu đến cổ Việt, và đến vào năm nào, hay là họ phát tích tại cổ Việt, công việc mà ba nhà bác học trên không có làm, nhưng các sử gia ta lại dựa vào đó.

Khảo tiền sử đúng là cái công tŕnh lớn lao thứ nh́ ấy chớ không phải là công tŕnh của ba nhà bác học được kể tên trên kia.

Nhưng đó chỉ là việc khảo tiền sử.

Viết sử lại c̣n khác hơn rất xa.

Chúng tôi thí dụ là các ông ấy đă t́m được 8 loại sọ của 8 chủng tộc khác nhau.

Muốn biết tổ tiên ta là ai, nhà viết sử phải đo sọ của ta ngày nay rồi đối chiếu với các sọ đời xưa, có thế mới biết rơ nguồn cội của ta, chớ cứ đoán ṃ măi th́ làm thế nào mà đi tới một kết quả được khoa học nh́n nhận.

Và cũng nên biết rằng sọ của một chủng, không thay đổi trong ṿng 10 ngàn năm th́ sự đối chiếu ấy có đủ giá trị chứng minh khoa học.

Hiện nay có sách nói ta là Tàu thuần chủng, có sách nói ta là một chủng riêng biệt, có sách nói mù mờ một cách cố ư, v́ không biết chắc cái ǵ, nhưng không sách nào có làm cái công việc độc nhứt mà khoa học bằng ḷng nh́n nhận, tức đo sọ của người Việt Nam hiện đại để đối chiếu với những sọ cổ đào được ở Cổ Việt, tức Bắc Việt ngày nay.

Hơn thế, khi chưa bước sang giai đoạn viết sử, chỉ ở giai đoạn học khoa khảo tiền sử đúng mà thôi, th́ nếu có ai muốn sử dụng cái khoa khảo tiền sử đúng ấy, cũng không dễ ǵ sử dụng, bởi phải c̣n kiểm soát lại xem quả nó có đúng hay không.

Nhưng kiểm soát công việc của một trăm nhà bác học làm việc khắp Á Đông trong ṿng bốn mươi năm, th́ kể ra phải lao lực quá sức một cá nhân, ít ai đủ can đảm làm.

Công việc kiểm soát ấy lại đ̣i hỏi qua nhiều khoa học chuyên môn, mà thường th́ một cá nhân, nếu không v́ một quyết tâm nào, không học làm ǵ cho mất công.

Riêng về công việc viết sử cho Việt Nam, ta lại vấp phải danh xưng bí hiểm của khoa khảo tiền sử là danh xưng Anh-Đô-Nê-Diêng mà ta không biết là cái ǵ, hoặc tưởng là “Mọi”.

Ta cũng lại không hiểu tiếp đầu ngữ Austro chỉ có nghĩa là Phương Nam, và cứ dịch ra là Úc Châu, Úc Đại Lợi măi.

Kiểm soát đă khó, mà không hiểu danh từ th́ lại càng vô phương.

Thế nên, nếu có vài vị hiếm hoi biết được kết quả của công việc khảo tiền sử đúng, cũng chẳng ai dùng nó được để mà viết thượng cổ sử cho dân tộc Việt Nam.

Công việc khảo tiền sử đúng, ám chỉ trên kia, đă được giới khoa học thế giới kiểm soát rồi, nhưng họ chỉ kiểm soát để biết các nhà khảo tiền sử ấy làm việc có đúng hay không chớ không có kiểm soát về khía cạnh ăn khớp với thượng cổ sử Việt Nam.

Nói cách khác, nhà viết sử phải kiểm soát lại, nhưng dưới các khía cạnh khác, chớ không phải kiểm soát về phương diện khảo tiền sử.

Khoa khảo tiền sử nói đến 8, 9 chủng ở Việt Nam, chớ không phải chỉ nói đến một chủng, và chủng nào trong 8, 9 chủng ấy đúng là chủng của ta, th́ chỉ có nhà viết sử mới biết khi họ đối chiếu những chủng ấy với ta, về đủ cả mọi mặt: phong tục, cái sọ, ngôn ngữ, kiến trúc v.v.

Thế nên chúng tôi mới nói rằng mặc dầu công tŕnh khảo tiền sử đúng đă hoàn tất sứ mạng của nó, các sử gia viết về thượng cổ sử Việt Nam vẫn có c̣n sa lầy.

Cuộc sa lầy thứ ba nầy hiện chỉ đang ngấm ngầm v́ chưa ai có tác phẩm hết. Họ chỉ sa lầy v́ không biết làm thế nào để biết sọ của người Việt hiện là sọ của chủng nào, trong bao nhiêu sọ cổ đào được ở Bắc Việt, cái nôi thứ nh́ của dân tộc ta.

Cái nôi thứ nhứt, lại ở nơi khác, mà khoa khảo tiền sử cũng đă cho biết rơ, nhưng cũng không ai hay, mà có hay cũng chẳng kiểm soát được.

Năm mà quyển Việt Nam thời khai sinh của giáo sư Nguyễn Phương ra đời, năm 1965, th́ tài liệu đă được công bố từ ba năm rồi, ở Bá Lê từ năm 1962, nhưng sách chỉ tới Sài G̣n năm 1964. Có lẽ sử gia Nguyễn Phương cũng có đọc cuộc công bố mới ấy, nhưng v́ không kiểm soát được bằng hai khoa chủng tộc học (Anthropologie Physique) và ngôn ngữ tỷ hiệu (Etudes comparatives des langues) thành thử giáo sư đành bỏ qua. Giáo sư lại không biết Indonésien, Mélanésiens là ǵ th́ lại cũng không thể kiểm soát được cái ǵ.

Giáo sư đă bắt được một chứng tích cụ thể là cái lưỡi ŕu có tay cầm, nhưng cũng chẳng dùng được, v́ chính những người đào được lưỡi ŕu ấy: Mansuy, Colani, Patte, cũng chẳng biết dân có lưỡi ŕu từ đâu tới, và liên hệ thế nào tới dân Việt Nam.

Thành thử cái lưỡi ŕu có tay cầm, chứng tích khổng lồ ấy chỉ được giáo sư Nguyễn Phương nói phớt qua vài tiếng rồi thôi, v́ Mansuy, Colani, Patte chỉ làm việc tại Đông Pháp, không thể biết nhiều được, mà giáo sư họ Nguyễn th́ chỉ đọc có ba nhà đó.

Tài liệu trên bán đầy đường khắp ngơ năm 1964 ở Sài G̣n, chớ không phải là tài liệu bí mật, nên được rất nhiều báo dịch, nhưng báo chí vẫn cứ vấp phải vấn đề danh từ, hết ngộ nhận về danh xưng Indonésien rồi, nhưng lại ngộ nhận về các danh từ khác, chẳng hạn tĩnh từ Austro, chỉ có nghĩa là Phương Nam lại được dịch là Úc Châu, hoặc Úc Đại Lợi.

Sử dụng danh từ như thế đó, chỉ làm rối ren vấn đề, chớ không soi sáng nó chút nào hết.

 

*

*       *

Sử là một khoa học. Nếu có những cuốn sử hay về văn chương th́ nó cũng được xem là những văn phẩm, nhưng không mất, và không được phép mất tánh cách khoa học của nó, tánh cách nầy quan trọng hơn tánh cách văn chương nhiều lắm v́ một quyển sử văn hay đến đâu mà viết sai sự thật th́ chẳng c̣n giá trị nào, trong khi một quyển sử đúng sự thật một cách khoa học mà văn dở, vẫn c̣n đủ giá trị một quyển sử quan trọng.

Với Michelet, thiên hạ sắp môn sử vào văn học, nhưng với Augustin Thierry th́ quan niệm của thế giới đă khác rồi. Ngày nay mặc dầu sử cứ c̣n được giảng ở các phân khoa văn khoa, ở bất cứ nước nào cũng thế, nhưng người ta vẫn xem nó là một khoa học gần như là chính xác, hay có tham vọng vươn tới sự chính xác.

Khoa học cốt đúng sự thật không gây ngộ nhận, chớ không ham cạnh tranh với văn chương.

Là khoa học, môn sử phải có căn bản và tiêu chuẩn khoa học.

Giáo sư Kim Định đă gây ngộ nhận (Việt lư tố nguyên) làm cho nhiều người tưởng lầm rằng chỉ dùng khoa học để viết sử không c̣n hợp thời nữa, và ở Âu Mỹ, người ta dùng huyền thoại và truyền thuyết.

Làm ǵ có chuyện ấy. Những quyển sách mà giáo sư ám chỉ đến, chúng tôi đều có đọc, giáo sư đọc Granet nhiều nhứt, chúng tôi cũng đọc Granet nhiều nhứt. Và chính Granet khoa học triệt để đó chớ. Họ chỉ bổ túc những điểm sử thiếu tài liệu chính xác bằng truyền thuyết và huyền thoại, chớ họ không bao giờ dám đặt Mythos lên trên Logos cả.

Sự bổ túc ấy thỏa măn được nỗi bực tức của kẻ bí v́ thiếu tài liệu, nhưng không hề được xem là sự thật, mà chỉ là sự thật thoáng thấy, có khi đúng, có khi không, nhưng những người dùng phương pháp đó, phải là những nhà khoa học lỗi lạc, tức họ sử dụng sự mơ hồ một cách rất khoa học, chớ không phải vá víu càn bừa.

Nhưng Granet không có viết sử. Ông chỉ t́m hiểu văn minh cổ của Tàu qua các cổ thư Tàu, nhứt là qua Kinh Thi. Ông đă thấy được một cách bất ngờ những điều mà chính người Tàu cũng không thấy, từ hơn hai ngàn năm nay. Nhưng ông vẫn có những kết luận sai, kể cả ông H. Maspéro, cũng là người dựa theo Granet thường nhứt, bởi những điều mà các ông ấy thoáng thấy và ngỡ là đúng, chỉ là thoáng thấy. Các ông ấy đă lầm mà không hay biết, mà nay khoa khảo tiền sử và khoa chủng tộc học đă cho thấy là các ông ấy sai ở rất nhiều điểm.

Về nguồn gốc của một dân tộc th́ khoa học chỉ nh́n nhận có ba chứng tích sau đây:

1.      Khoa chủng tộc học

2.      Khoa khảo tiền sử

3.      Khoa ngôn ngữ tỷ hiệu (études comparatives des langues).

Sở dĩ ba cuộc sa lầy nói trên mà đă xảy ra, chỉ v́ các sử gia đă bất chấp cái căn bản khoa học đó. Có người muốn sử dụng nó, nhưng không đủ điều kiện, thí dụ giáo sư đại học Nguyễn Phương đă sử dụng khoa khảo tiền sử, nhưng chỉ v́ đọc có tài liệu Đông Pháp, nên hóa ra như không có sử dụng khoa khảo tiền sử. Ông chỉ khai thác khoa khảo tiền sử có một phần mười là các công tŕnh đào bới ở Bắc Việt, trong khi đó th́ dân ta lại từ 15 ngàn cây số cách đó, di cư đến mà không phải là từ các đảo Mă Lai đâu nhé, hóa ra, có tiến bộ, ông vẫn sa lầy như L. Aurousse là người dùng độc một nguồn sử Tàu.

Chỉ khi nào thiếu ba chứng tích nói trên, người ta mới bắt buộc dùng huyền thoại và truyền thuyết. Nhưng đó không phải là trường hợp của dân tộc ta. Ta c̣n đủ cả ba chứng tích mà c̣n một cách chính xác ngoài sức tưởng tượng của những người không t́m ṭi học hỏi.

Người có sách sau hơn hết là giáo sư đại học Kim Định. Nhưng ông nầy th́ công khai tuyên bố rằng không thèm sử dụng khoa khảo tiền sử v́ nó mơ hồ (Việt lư tố nguyên).

Nhưng chúng tôi có bằng chứng chắc chắn trong tay rằng giáo sư Kim Định không hay biết kết quả của khoa khảo tiền sử ở Á Đông nên mới dám nói như thế. Kết quả ấy đúng và chính xác đến làm cho người ta có cảm giác rằng họ nh́n được vào quá khứ u minh bằng một con mắt thần, không có mơ hồ một chút xíu nào hết.

Đây là bằng chứng cho thấy giáo sư Kim Định chưa biết kết quả của khoa khảo tiền sử ở Á Đông.

Kết quả ấy có đă lâu rồi, nhưng chúng tôi không có được, v́ như đă nói, phần lớn chưa in thành sách, c̣n tạp chí th́ tản mát khắp thế giới, lại viết bằng nhiều thứ tiếng mà chúng tôi không thạo. Nhưng ông G. Cocdès đă tóm lược lại trong một quyển sách xuất bản tại Ba Lê năm 1962, mà măi cho đến năm 1964 chúng tôi mới được đọc.

Theo kết quả đó th́ chủng Mă Lai từ Hoa Bắc di cư đến Đông Nam Á cách đây năm ngàn năm.

Trong khi đó th́ giáo sư Kim Định, sau khi bác bỏ nguồn gốc Mă Lai bởi ngộ nhận v́ lời của ông O. Jansé, khuyên ta đừng t́m nguồn gốc tổ tiên ta trong khối Mă Lai ở phương Nam. Ông nói thế v́ ông chỉ biết có khoa địa lư sai vào các thế kỷ XVII, XVIII, XIX, khoa đó cho rằng chủng Mă Lai phát tích tại Nam Dương, và ông chỉ biết có vụ Đông Sơn là một cuộc sa lầy.

Không thể chối căi rằng giáo sư không có học khoa khảo tiền sử. Ấy thế mà giáo sư lại dám lên án rằng nó mơ hồ, trong khi nó chính xác một cách làm ta kinh ngạc.

Nếu có học khoa ấy, ông đă biết rằng sách xưa nói đến gốc phương Nam của Mă Lai chủng là sai, ông đâu có khuyên ta đừng t́m gốc nơi khối Mă Lai ở phương Nam. (Nhưng thật ra th́ Mă Lai chủng cũng không có nguồn gốc ở Hoa Bắc đâu. Chủng đó xuất phát từ phía Tây nước Tàu, quanh Cao nguyên Tây Tạng, nhứt là dưới chơn núi Himalaya, như ta sẽ thấy ở các chương sau).

Nhà triết học Kim Định có ư kiến khác hơn giới khoa học về vấn đề căn bản sử. Theo vị giáo sư đại học triết đó (V.L.T.N. trang 35), th́ “Đám tân học nay lại chỉ căn cứ trên một số sử kiện khách quan quá hẹp ḥi”.

Thật t́nh th́ đám tân học không căn cứ trên sử kiện, mà trên sự kiện nhưng không có hẹp ḥi chút nào cả, chỉ v́ họ biết chắc một trăm phần trăm rằng nhảy ra khỏi ṿng rào sự kiện là sai. Và khoa viết sử nghiêm khắc của họ càng ngày càng chính xác, nó tiến chậm, nhưng trên những bước vững chắc vô địch.

Ở trang 58 và 59 giáo sư cho rằng Tần là chính gốc Viêm tộc mà theo giáo sư Viêm tộc là Việt tộc.

Nhưng sao Tàu lại có câu tục ngữ ngàn đời “Tần phi Việt sấu?”. Nếu Tần là Việt th́ phải Sấu y hệt như Việt ấy chớ?

Nói như thế xong th́ ở trang 216, ông lại cho rằng văn minh phương Tây là của Hoa tộc, văn minh phương Đông là của Việt tộc, và ở trang 217 ông phát triển cái ư đó ra là bên Chiêu v́ là Việt văn minh nên được trọng, và ở trang 218 ông lại cho rằng Tần là đại diện Tàu du mục và hung hăn từ Tây tràn sang Đông tàn phá văn minh của Việt ở đó.

Vậy Tần là Việt hay là Tàu đây?

Muốn biết Tần là Tàu hay Việt mà Việt là ai, bọn tân học và khoa học thỉ chung như nhứt, chỉ bằng vào cái sọ mà hễ nói rồi là không nói ngược lại như ông ở trang 58-59 và trang 218.

Cứ hẹp ḥi, dốt nát như bọn tân học vậy mà có đầu có đuôi, người học sử c̣n biết đâu là đâu, chớ lung tung th́ chẳng ai c̣n biết ai là ai nữa. Tần là Việt, nhưng Tần lại ph́, Việt lại sấu, Tần là Việt, nhưng lại là Tàu phương Tây tàn phá văn minh Việt ở phương Đông.

Rốt cuộc người học sử cứ vẫn như chưa học v́ vẫn chưa biết Tần là Tàu hay là Việt.

Muốn biết Tần là Tàu hay là Việt th́ quá dễ. Cứ học lại sử Tàu (sử thành văn chớ không phải truyền thuyết). Nhà Thương phong cho tổ nhà Chu là người Tàu cái đất Thiểm Tây cũng gọi là đất Kiểu (đọc theo miền Bắc là Cảo) để tiêu diệt rợ Khuyển Nhung.

Khi nhà Chu lên thay thế cho nhà Thương th́ nhà Chu cũng lại phong cho một người Tàu khác là tổ của nhà Tần để tiếp tục công việc diệt rợ Khuyển Nhung ở đó, v́ khi xâm nhập vào Hoa Bắc họ định cư ở Sơn Tây mà chừa Thiểm Tây ra v́ đó là đất của Khuyển Nhung, một thứ dân Lạc bộ Chuyện, rất dữ tợn mà họ phải mất hàng ngàn năm mới tiêu diệt được.

Thế th́ Tần làm sao mà là Việt, mà là Khuyển Nhung được hở trời!

*

*      *

Nhưng nếu có ai học khoa khảo tiền sử và biết kết quả của các công tŕnh đào bới ở Á Châu, và nhứt là hiểu được những danh từ bác học trong đó, cũng không viết về nguồn gốc của dân ta mà đúng được, v́ phải kiểm soát lại khoa đó bằng hai khoa quan trọng khác là khoa chủng tộc học và ngôn ngữ tỷ hiệu, như đă nói.

Khoa khảo tiền sử cho biết chủng Mă Lai từ Hoa Bắc di cư sang Đại Hàn, Nhựt Bổn, Đài Loan, Đông Nam Á và Nam Dương. Chỉ có thế thôi. Họ có đủ bằng chứng là cái sọ và dụng cụ của chủng đó trên lộ tŕnh di cư. Nhưng cái sọ của dân ta là sọ Tàu như sử gia Nguyễn Phương đă quả quyết, hay là sọ Mọi? Ngôn ngữ của ta là tiếng Tàu như sử gia Nguyễn Phương đă khẳng định hay là tiếng Tây?

Ấy thế, ba khoa đó kiểm soát lẫn nhau một cách chằng chịt mà nếu học sót một khoa là không làm nên việc rồi, phương chi đa số lại bất chấp cả ba khoa căn bản ấy, c̣n giáo sư Nguyễn Phương có kể đến một khoa, nhưng lại chỉ biết phiến diện là công tŕnh đào bới ở Bắc Việt mà thôi, lại không hiểu Anh-Đô-Nê-Diêng có nghĩa là cổ Mă Lai.

Chúng tôi làm việc theo phương pháp quốc tế là sử dụng ba khoa nói trên làm chứng tích chủ lực, và theo tinh thần quốc tế là tinh thần khoa học.

Tuy nhiên, những yếu tố phụ thuộc vẫn được dùng để kiểm soát thêm, thí dụ truyền thuyết Việt Nam, thượng cổ sử Trung Hoa, Ấn Độ v.v.

Nơi đây cũng xin nhắc lại ông Kim Định. Giáo sư đại học Kim Định đă vơ đũa cả nắm, mạt sát những người Việt Nam làm việc theo tinh thần khoa học là bọn học chưa tiêu hóa mà muốn bảo hoàng hơn ông vua, không hay biết rằng Âu Mỹ đă bỏ khoa học trong địa hạt t́m vết xưa mà trở về với huyền thoại và truyền thuyết nhiều hơn.

Sự thật th́ ở xứ ta quả có một bọn khoa học tập sự, chưa tiêu hóa nổi tinh thần Cartésien và bảo hoàng hơn vua, nhưng không phải là người Việt Nam nào cũng thế.

Mà chính giáo sư mới là chưa tiêu hóa nổi tinh thần làm việc mới của Âu Mỹ là trở về với huyền thoại và truyền thuyết. Họ dung ḥa, chớ không bao giờ họ bỏ khoa học của họ.

Giáo sư cũng chủ trương rằng ḿnh dung ḥa, nhưng trong Việt lư tố nguyên, ta thấy giáo sư bỏ tinh thần khoa học từ trang đầu đến trang chót, tưởng tượng cái ǵ nói cái ấy ra, theo ư muốn của ḿnh, bất chấp cả những sự kiện lịch sử rơ ràng nhứt mà không ai căi được hết.

Giáo sư chỉ đọc có Colani, Mansuy mà ngày nay đă bị thấy là sai rồi, nhưng giáo sư không hay, cứ trích dẫn họ, rồi lại chê khoa khảo tiền sử là mơ hồ, trong khi nó đúng một trăm phần trăm. Giáo sư dựng đứng lên một chủng tộc, chủng không bao giờ có mặt trên quả địa cầu.

Giáo sư có những quả quyết bất chấp lư trí sơ đẳng, không cần gán tội cho khoa học, người thường cũng không ai nh́n nhận quả quyết đó.

Thí dụ Tư Mă Thiên cho rằng dân Sở họ Mị. Giáo sư bảo rằng Mị do Mễ đọc trại ra, mà Mễ là v́ dân Việt ở nước Sở theo văn minh nông nghiệp, có lúa gạo.

Sự thật th́ văn Tàu nói không minh bạch chớ chỉ có vua nước Sở tức tổ tiên của họ Hùng là mang họ Mị c̣n dân th́ không. Dân Sở đông bao nhiêu, ta không thể biết, nhưng cứ bằng vào quân số mà Tần dùng để đánh Sở, mà sử Tàu có chép là 600 ngàn, th́ ta ước lượng nước Sở phải đông lối 10 triệu dân.

Nếu 10 triệu người đều mang họ Mị cả th́ làm thế nào để kết hôn với nhau?

Đó là chúng tôi suy luận để biết sự thật, v́ thấy Tư Mă Thiên viết một điều kỳ diệu, nhưng rồi sự thật ấy cũng hiện rơ ra ở các sách khác, là chỉ có tổ của họ Hùng là ngày xưa mang họ Mị, c̣n dân th́ không, v́ dân đă di cư vào Kinh Cức 500 năm trước khi họ Hùng được phong tước Tử ở Sở.

Dân đó mang đủ thứ họ, y như ở Hoa Bắc, chớ không hề mang họ Mễ, mặc dầu họ trồng Mễ và ăn Mễ, khác hơn dân Hoa Bắc.

Hơn thế tổ tiên của vua nước Sở lấy họ Mị vào thời mà dân Trung Hoa chưa biết lúa gạo, thời chưa có nước Sở, chưa được phong ở Sở mà ở Hoa Bắc th́ cây Mễ lại không mọc được.

Như vậy làm thế nào để họ biết Mễ hầu dùng cái từ đó để làm Họ rồi biến âm ra là Mị?

Ta sẽ thấy rằng măi cho đến ngày nay, dân Hoa Bắc vẫn ăn lúa ḿ, v́ cây Mễ không mọc được ở đó. Chỉ có khác là nhờ thông thương dễ nên họ biết cây Mễ và danh từ Mễ, c̣n vào thời mà tổ tiên của họ Hùng c̣n lấy họ Mị, chưa cải sang họ Hùng th́ Hoa Bắc không biết Mễ.

Hai chữ đó lại đọc hơi giống nhau là hơi giống trong Việt ngữ chớ trong Hoa ngữ th́ không, mà tự dạng cũng rất khác nhau, không thể có vấn đề lầm lẫn được.

Lần lượt ta sẽ thấy rằng giáo sư Kim Định không có dung ḥa ǵ cả mà hoàn toàn tưởng tượng để lập thuyết theo ư muốn của ông.

*

*      *

Phương pháp khoa học quá khắt khe thường làm cho thiên hạ bí, vấp ngă khi làm việc theo phương pháp, đành phải bỏ dở công tŕnh, thành thử nhiều người có thiện chí tức ḿnh, đâm ra oán ghét nó, mà tiêu biểu nhứt là nhà học giả Lê Văn Siêu.

Chúng tôi nói tiêu biểu là ông Lê Văn Siêu là người độc nhứt đủ can đảm tấn công một cách nghiêm trang phương pháp học và tinh thần khoa học, chớ không phải chửi bậy bạ như nhiều người khác, họ cho rằng Tây muốn d́m ta nên bày ra những hàng rào ngăn đón để ta không làm việc được.

Ông Lê Văn Siêu cho rằng phương pháp học quá “cứng rắn” đối với trường hợp Đông Sơn nó là “một ngoại lệ” (?), ngoại lệ v́ lớp sơn Trung Hoa quá dày đă xóa gần hết rồi, c̣n làm sao mà t́m ra cái ǵ cho được nữa.

Ông Lê Văn Siêu chủ trương “biến phương pháp học theo đối tượng nghiên cứu”, c̣n các nhà bác học Âu Châu th́ “ép đối tượng nghiên cứu theo phương pháp học”.

Nhưng phương pháp học không phải được lập ra không cân nhắc. Không ai mua dây buộc ḿnh làm ǵ, mà chỉ v́ không có phương pháp học th́ phải sai lầm nên các nhà bác học mới cúi đầu khuất phục phương pháp học.

Ông Lê Văn Siêu đă sai lầm ngay tức th́, sau khi bất chấp phương pháp học, sau khi “biến”, sau khi “dễ dăi” trong việc nghiên cứu.

Ông viết: “Ta phải kết luận rằng gốc chính nằm ở trung bộ đồng bằng sông Mă, tức Thanh Hóa bây giờ, mà không phải ở Phong Châu (Phú Thọ), (trang 57).

Ông kết luận như vậy, bất kể khoa học, v́ ông thấy quả cổ vật đă đào được ở Thanh Hóa. Nhưng để rồi xem.

Rồi ông lại cắt nghĩa tại sao trung tâm lại ở Thanh Hóa “Muốn tới Phong Châu, phải vượt qua cả một vùng lầy lội (v́) nước biển Bắc Việt c̣n lênh láng tới Việt Tŕ bây giờ”.

Nhưng những cuộc khai quật liên tiếp từ năm 1924 đến năm 1970 đă chứng tỏ hai điều trái hẳn với kết luận của ông Lê Văn Siêu:

1. Cổ vật của nền văn minh Đông Sơn tại lưu vực sông Nhị Hà, sáu lần nhiều hơn tại lưu vực sông Mă.

Phương pháp học đă phải nín im non 40 năm mới dám kết luận, và phương pháp học đúng, c̣n ông Lê Văn Siêu, v́ bất chấp phương pháp học th́ như thế đó. Phương pháp học không cho phép kết luận cái ǵ hết khi chưa có bằng chứng. Chưa đào đủ khắp nơi, sao lại dám quả quyết rằng trung tâm văn minh là ở Thanh Hóa?

Chỉ có sự vắng mặt của cổ vật ở các nơi khác; hoặc sự hiếm hoi của các cổ vật ở các nơi khác mới là bằng chứng rằng trung tâm là Thanh Hóa. Khoa học có lư mà cứng rắn, và các nhà khảo cứu có lư mà nô lệ khoa học.

2.   Cuộc khai quật ở Việt Khê (Hải Pḥng) đă cho thu lượm được cổ vật trước thời Đông Chu Liệt Quốc, cổ vật nhập cảng, chưa được dùng tới v́ chưa có dấu vết được dùng tới. Thế nghĩa là dưới thời Đông Chu Liệt Quốc, vịnh Bắc Việt đă thành h́nh rồi chớ không hề có vấn đề nước biển lênh láng tới Việt Tŕ.

Phương pháp học không cho phép tưởng tượng để quả quyết cái ǵ hết. Muốn biết thuở ấy tại vịnh Bắc Việt, có đất hay chưa, chỉ có một phương pháp độc nhứt là nghiên cứu đất ở Hải Pḥng để xem coi đó là đất c̣n trinh, đất mới bồi, hay đất có chứa cổ vật, mà cổ đến mức nào, tức phải định tuổi đích xác cổ vật đào được. Thấy đồ Tàu thời Đông Chu, không có nghĩa là đồ ấy được chôn ở đó vào thời Đông Chu mà c̣n phải xem bằng kính hiển vi coi nó có được dùng lần nào chưa. Nếu đồ đă được dùng th́ có thể người ta nhập cảng vào Việt Tŕ thời Đông Chu, dùng cho tới thời Đinh Bộ Lĩnh, nó mới trôi dạt tới Hải Pḥng. Cổ vật Hải Pḥng không có dấu vết được dùng th́ mới kết luận được rằng đúng là cổ vật bị chôn vào thời ấy, và ở đó đă có đất rồi, hơn thế, đó là đất trọng yếu v́ cổ vật t́m thấy trong một ngôi mộ, rất có vẻ là mộ vua, bằng vào sức lớn của chiếc ḥm (săng), chiếc ḥm ấy dài tới 4th70, trong khi những chiếc ḥm kế cận và đồng thời, chỉ dài có 2 thước mà thôi.

Sử gia Nguyễn Phương cũng đă dựa vào sự đất chưa thành h́nh ở đó để bác thuyết của Madolle.

Nhưng cả ông Lê Văn Siêu lẫn giáo sư Nguyễn Phương đều không có đọc sách địa chất học về Đông Dương. Sách ấy đă có rồi vào năm mà hai ông bác bỏ người khác, các sách ấy cho biết rằng đất châu thổ Bắc Việt đă thành h́nh hẳn từ sáu bảy chục ngàn năm rồi.

Tiếc rằng cuốn sách phổ thông Lịch sử thành lập đất Việt ra đời quá trễ (cuối 1970).

Cuộc đào mồ ở Việt Khê là chứng tích của Việt Nam do sự t́nh cờ hơn là do khoa học. Chứng tích của ông G. Cocdès c̣n kinh hồn hơn nữa.

Ông nghiên cứu tỉ mỉ địa chất ở bờ biển Bắc Việt với những con số đích xác, và ông cho thấy các con số sau đây:

1.      Từ năm 1830 đến năm 1930 đất lấn ra biển được 10 cây số trong ṿng 1 trăm năm đó.

2.      Nhưng từ 1470 đến 1830 th́ chỉ lấn được có 3 cây số mỗi một trăm năm.

Tại sao mà xưa đất lấn ra ít mà nay th́ nhiều? Nay có những ông Phạm Công Trứ, c̣n xưa th́ không, càng xưa càng không. Chính ở miền Nam cũng vậy. Đất phù sa ở bờ biển, không thể thành đất được, nếu con người không xen vào, đắp đê, trồng mắm, trồng tràm, để cho phù sa ch́m, nổi lần lên. Phù sa có tuôn ra thật đó, nhưng nó cứ ở dưới mặt biển khá sâu, và bờ biển xưa sao, nay vậy, nếu không có công tŕnh nhân tạo. Từ 1830 th́ dân ta noi gương Phạm Công Trứ tự động biến thương hải thành tang điền, c̣n trước Phạm Công Trứ th́ đất đai ta xưa nay không khác bao nhiêu.

Bờ biển Trung Việt th́ lại lở, nhưng cũng chẳng bao nhiêu. Việc lở bồi phải mất hàng trăm ngàn năm, chớ hàng ngàn năm cũng chẳng cho thấy ǵ đáng kể, khoa địa chất học đă chứng minh như vậy.

Kỹ thuật lấn đất cũng do ông Phạm Công Trứ phát minh ra năm 1660 nhưng từ 1660 đến 1830, không phải dân ta bắt chước được như từ 1830 về sau, bởi thường có giặc giả, biến loạn, vả lại thuở ấy cũng chưa thiếu đất một cách bi thảm như từ năm 1830, nên tuy sáng kiến đă có nhưng trong (1830-1660) 170 năm đầu th́ sự áp dụng không đáng kể. Nhưng cũng c̣n tùy nơi. Như ở Việt Khê th́ xưa sao nay vậy v́ phù sa không phải nằm bất kỳ ở đâu, dọc theo bờ biển, mà tùy thuộc ḍng nước biển ngầm rất nhiều.

Trường hợp điển h́nh nhứt là sông Cửu Long. Sông ấy đưa phù sa ra biển c̣n nhiều hơn sông Hồng Hà nữa. Thế mà theo nghiên cứu của ông Malleret th́ đất ở các cửa biển Cửu Long từ xưa đến nay không được bồi thêm chút nào cả!

Vậy phù sa ấy đi đâu? Nó đánh một ṿng thật lớn, đi qua khỏi mũi Cà Mau rồi nó mới tấp vô bờ, nhờ ảnh hưởng của gió mùa Tây Bắc tại miền Nam nước Việt.

Nhưng nếu ông Lê Văn Siêu không có học địa chất Việt Nam, ông cũng có thể biết được rằng ông sai lầm, bằng vào những đoạn sử Tàu đă được phổ thông từ lâu rồi.

Hậu Hán thư cho biết rằng thuở Mă Viện tới, tức sau khi người Đông Sơn được chôn có 31 năm, th́ dân Giao Chỉ đă giỏi làm ruộng, c̣n dân Cửu Chơn th́ c̣n săn bắn và câu kéo.

Thanh Hóa thuộc Cửu Chơn. Làm thế nào mà trung tâm lại nằm ở cái nơi mà dân chưa biết trồng trọt, chớ không phải ở cái nơi mà dân đă giỏi làm ruộng.

Hậu Hán thư lại cho biết rằng luật pháp của Giao Chỉ khác luật pháp Tàu đến 10 điều. (Thành ngữ Tàu “Khác 10 điều, có nghĩa là mỗi-mỗi mỗi khác). Thế nghĩa là Giao Chỉ đă có luật pháp, c̣n Cửu Chơn th́ không?

Sao trung tâm lại nằm ở nơi man dă được?

Trên đây chỉ là suy luận, nhưng suy luận cũng là một yếu tố mà phương pháp học thường dùng, khi nào không có tài liệu.

Tưởng mấy trường hợp nêu ra trên đây đủ chứng minh giá trị không thể chối căi của phương pháp học mà nếu bỏ học đi, hoặc mềm dẻo một chút là các nhà khảo cứu sẽ phải đi từ sai lầm nầy đến sai lầm khác.

Khoa học cho phép lập giả thuyết, khi nào tuyệt đối không có tài liệu. Nhưng lập xong, phải kiểm soát giả thuyết bằng những sự kiện khác xem có ăn khớp với giả thuyết đó hay không. Việc lập giả thuyết th́ quá dễ, nhưng kiểm soát th́ khó khăn vô cùng, chính v́ việc kiểm soát đ̣i hỏi phải biết quá nhiều việc khác.

Ông Lê Văn Siêu, ở trang 114 đă lập ra cái giả thuyết nầy là loạn Chiến Quốc bên Tàu, đă khiến một số hảo hán Trung Hoa chạy trốn sang Thanh Hóa (cũng cứ Thanh Hóa) và chính bọn ấy đă dạy vua An Dương Vương bí quyết chế tạo nỏ.

Ông Lê chứng minh giả thuyết đó bằng luận cứ nầy: tại sao khi thua Triệu Đà, An Dương Vương không chạy đi hướng nào khác mà chạy về phía Thanh Hóa, có phải chăng là để t́m các tay hảo hán đó? Ta thử kiểm soát lại xem:

1.      Vua An Dương Vương làm thế nào để chạy hướng khác được? Bắc là Triệu Đà, Đông là biển cả, Tây là nước nào đó, vào thuở ấy, cái nước có nền văn minh cánh Đồng Chum ấy chăng? Ông ta chỉ c̣n hướng Nam là đất Cửu Chơn, tức đất Việt, th́ ông không chạy về đó sao được, chớ nào phải để t́m hảo hán tưởng tượng nào đâu.

2.      Trong chương Ngôn ngữ, chúng tôi sẽ chứng minh rằng cái Nỏ là phát minh của chủng Mă Lai Bách Việt và Trung Hoa đă học của Mă Lai Bách Việt tại đất Kinh Man, cách chế tạo vũ khí đó cả danh từ Nỏ của Trung Hoa cũng là phiên âm danh từ Pnả của Mă Lai nữa.

Nhưng mà, phải biết tiếng Mă Lai, và biết khoa chiết tự để t́m nguồn gốc của tự dạng Nỏ của Tàu, như vậy hơi nhọc trong việc kiểm soát giả thuyết lắm.

Ông Lê Văn Siêu luôn luôn công kích những đ̣i hỏi khắt khe của khoa học, v́ ông tin rằng không c̣n dấu vết cũ nào đâu mà mong t́m ṭi. Nhưng tại chính ông không hề t́m ṭi và cũng không hề theo dơi các nhà t́m ṭi, chớ thật ra th́ c̣n rất nhiều, càng ngày người ta càng khám phá được đủ thứ việc, không phải chỉ dưới ḷng đất sâu, mà ngay trong sử Tàu xưa, tài liệu cũng đă nằm sẵn ở đó rồi, tại ta không có đọc kỹ đó thôi, thí dụ Đào Duy Anh đă t́m được một lô cổ thư Trung Hoa nói về trống đồng của dân Việt ở Hoa Nam, mà trước đó không sử gia nào có đọc những sách ấy cả.

Ông Lê tin rằng t́nh trạng ở xứ ta khác, v́ không có những kiến trúc bằng đá như ở Âu Châu, nơi đó tài liệu rất dồi dào phong phú.

Nhưng có đâu chuyện ấy ở Âu Châu? Đời sống của dân Gô Loa trước khi họ bị La Mă chinh phục, người Pháp cũng tưởng là không c̣n ǵ cả, cách đây ba trăm năm, y như ông Lê Văn Siêu ngày nay tin như vậy, đối với nước ta. Thế mà rồi các nhà khảo cổ Pháp họ cũng t́m được cả, tôn giáo Druidisme ra sao, Gô Loa đắp lũy thế nào, rèn vũ khí làm sao, họ t́m được cả và vẽ đúng lại được đời sống của Gô Loa, mà Pháp lại không có lấy được một chiếc trống đồng thau để mà nghiên cứu như ta đă có hàng trăm và hàng ngàn món bằng đồng khác. Dân Gô Loa đâu có xây cất bằng đá bao giờ.

Nghe các nhà bác học Âu Mỹ đ̣i chứng tích, ông Lê Văn Siêu lại nghi oan cho họ, và viết (trang 27) “Chúng ta không cần suy nghĩ nhiều cũng thấy ngay chứng tích và tài liệu, phần lớn chỉ là những thứ để đón ư kẻ mạnh”.

Kẻ mạnh bị ám chỉ ở đây hẳn là người Pháp tiền chiến. Và nếu ta đưa ra được chứng tích mà họ đ̣i hỏi là cái đẳng thức:

Việt Nam = Mă Lai

th́ họ hưởng được cái ǵ? Được ăn hiếp ta mạnh tay hơn chăng?

Hoặc được khinh ta nhiều hơn chăng? Không, họ chỉ có hại mà không có lợi, v́ cách đó một trăm năm, họ vừa khám phá ra được một quá tŕnh văn minh lớn của Mă Lai ở Nam Dương. Ta sẽ hănh diện hơn, bớt mặc cảm hơn, và họ sẽ khó trị ta hơn.

Kẻ đưa ra chứng tích không hề đón ư kẻ mạnh nào hết. Và giờ đây, kẻ mạnh đó không c̣n, sao chúng tôi và bao nhiêu nhà khoa học đều cứ cần đưa ra chứng tích, để đón ư ai đây? Giới khảo cổ Thụy Điển chẳng hạn, cũng cứ đ̣i chứng tích, nhưng họ có cai trị ta bao giờ đâu, họ có bao giờ là kẻ mạnh thích được ta đón ư bao giờ đâu? Thụy Điển đ̣i ta đón ư họ để làm ǵ kia chớ?

Ông Lê Văn Siêu bất chấp khoa học và ông có những lập luận rất lạ lùng trong quyển sách của ông. Ở trang 116, ông cho rằng dân Giao Chỉ đón tiếp dân Việt ở Dương Tử chạy loạn Chiến quốc xuống xứ lạ, rồi đồng hóa được họ, nếu không “đất Bắc Việt đă trở thành một tỉnh của Trung Quốc từ lâu”.

Câu sử của ông Lê Văn Siêu thật là lạ kỳ. Theo lối dùng chữ của ông, ta phải hiểu rằng dân Giao Chỉ không phải là Việt. Thế nên họ mới đồng hóa Việt Dương Tử, chớ nếu họ cũng là Việt th́ làm ǵ có sự kiện nhóm Việt A đồng hóa nhóm Việt B. Họ tự nhiên mà có chung văn hóa với nhau, mặc dầu họ ở hai địa bàn khác nhau.

Chúng ta chỉ biết đoán ṃ chớ không thể hiểu được câu sử kỳ diệu của ông. Chúng ta giả thiết:

1.      Ông Lê Văn Siêu cho rằng dân Giao Chỉ không phải là Việt. Mà như thế là sai với sự kiện: người Tàu xưa gọi dân Giao Chỉ là Việt. Danh xưng Giao Chỉ có sau danh xưng Việt rất lâu mà cũng chỉ dùng để trỏ đất chớ không trỏ dân.

2.      Ông Lê Văn Siêu vẫn biết rằng ta là Việt nhưng tin rằng Việt Dương Tử đă biến thành Tàu rồi. Ông dùng chữ nhiêu khê như vậy để phân biệt hai nhóm Việt. Nói lối dùng chữ ấy nhiêu khê v́ viết như thế nầy, sẽ dễ hiểu hơn “Việt Giao Chỉ đă đồng hóa Việt Dương Tử, nhóm nầy đă biến thành Tàu rồi, theo văn hóa khác rồi”.

Nhưng sự đoán ṃ thứ nh́ của ta lại vấp phải sự kiện văn minh của ta hiện nay mang đến 70 phần trăm yếu tố Trung Hoa. Sao kẻ đồng hóa lại bị tô màu của kẻ bị đồng hóa?

3.      Bằng vào câu “Nếu không, đất Bắc Việt đă trở thành một tỉnh của Trung Hoa”, ta có thể hiểu rằng ông Lê Văn Siêu cho rằng Việt Dương Tử đă biến thành Tàu rồi.

Nhưng thành Tàu rồi, th́ họ làm sao mà chạy ngang qua ba nước Việt mà Khổng Tử đă nói đến. Thật thế, trong Xuân thu, Khổng Tử cho biết rằng khi nước Sở cướp được nước Việt Cối Kê rồi th́ tướng Ngô Khởi kư hiệp ước thân hữu với ba quốc gia độc lập ở dưới Cối Kê, mà ai cũng biết đó là ba quốc gia Việt không phải là Giao Chỉ: Đông Âu, Mân Việt và Tây Âu.

1.      Nếu họ đă thành Tàu, th́ không thế nào mà họ được phép chạy ngang qua ba quốc gia độc lập và khá hùng cường đó, hùng cường nên Tàu đă phải kư hiệp ước thân hữu.

2.      Nếu họ chưa thành Tàu, th́ họ mà có chiếm được Giao Chỉ th́ làm thế nào mà Giao Chỉ lại biến thành một tỉnh của Trung Quốc v́ họ không là Tàu kia mà!

Nếu họ chưa thành Tàu, mà rủi ro họ thắng ta th́ ta vẫn không bao giờ biến thành một tỉnh Trung Quốc mà chỉ biến thành một nước trong đó gồm có hai thứ Việt.

Câu sử kỳ dị của ông Lê Văn Siêu rất hữu lư với người bất kể đến phương pháp học, nhưng nó lại không thể hiểu được đối với người khác, không cần ǵ là nhà khoa học, tiêm nhiễm tinh thần khoa học, mà người thường nhưng biết suy luận theo lẽ phải cũng không thể hiểu được câu sử đó muốn nói ǵ bởi nó mâu thuẫn rối ren hết, mà như vậy cũng chỉ v́ tác giả không kể đến phương pháp nào hết.

Phương pháp đó là tự hỏi xem có phải ta là Việt hay không? Nếu không, sao Mă Viện lại gọi ta là Việt?

Nếu ta là Việt th́ sự kiện Việt dưới đồng hóa Việt trên không hề xảy ra v́ tất cả các nhóm Việt đều có văn hóa giống nhau.

Rồi lại tự hỏi xem Việt Dương Tử đă thành Tàu chưa?

Nếu họ đă thành Tàu, họ đă không có quyền chạy qua ba nước Việt độc lập và hùng cường đến nỗi Tàu phải kư hiệp ước thân hữu, chớ không dám gọi là man di nữa.

Họ chưa thành Tàu th́ làm ǵ lại có sự kiện Việt dưới đồng hóa Việt trên được.

C̣n cái sự rủi ro không có xảy ra mà họ Lê cũng biết, là họ không thắng Việt dưới, sự rủi ro ấy nếu có, không sao biến Giao Chỉ thành một tỉnh Trung Hoa được cả v́ chính kẻ thắng (nếu có thắng) không là Tàu, chưa thành Tàu kia mà! Nó chỉ biến Văn Lang thành một nước Việt trong đó có hai nhóm Việt nhập lại, và đồng văn hóa một cách đương nhiên chớ chẳng hề thành một tỉnh Tàu được.

Xin nhắc rằng câu sử của ông Lê Văn Siêu ngược lại với một câu sử khác, cũng sai, nhưng sai cách khác mà ông Hoàng Trọng Miên đă lặp lại, câu sử sai đó là của ông G. Cocdès, nguyên Viện trưởng Viện Viễn Đông bác cổ, ông ấy nói là người Việt Dương Tử tràn xuống, đuổi hết người Cổ Mă Lai lên núi rừng.

Câu sử nầy cũng sai tuốt. Người Thượng ở Cao nguyên và người Chàm đích thị là người Cổ Mă Lai đồng chủng với ta và cùng ta di cư xuống Cổ Việt một lượt với nhau, nhưng họ chiếm địa bàn bất lợi nên họ không tiến, sau đó họ lại không có thọ lănh văn hóa của Tàu như ta, hoặc văn hóa Ấn Độ như Chàm để mà tiến thật mạnh như ta và Chàm. Nhưng mặc dầu sai, ông G. Cocdès vẫn có mạch lạc từ đầu đến cuối v́ ông có tinh thần khoa học, chớ không mâu thuẫn lung tung như ông Lê Văn Siêu trong một câu thật ngắn. Và ông G. Cocdès đă tự đính chánh ông. Hai mươi năm sau, trong một quyển sách ra đời năm 1962, nhưng ông Hoàng Trọng Miên không hay biết lời đính chánh đó.

Theo phương pháp khoa học, phải kiểm soát lại giả thuyết, điều mà ông Lê Văn Siêu không có làm. Chúng tôi kiểm soát th́ thấy như sau: Cuộc kiểm tra dân số của Mă Viện cho biết ở Giao Chỉ có 92.440 nhà, ở Cửu Chơn có 37.743 nhà.

Riêng huyện Tây Vu của Giao Chỉ đă có số nhà gần bằng toàn quận Cửu Chơn là 32 ngàn nhà. Như vậy, Đông Sơn, thuộc Cửu Chơn, không thể là trung tâm của nền văn minh Lạc Việt được v́ luôn luôn trung tâm nằm giữa nơi nào đông dân cư nhứt.

Vậy nếu không hay biết những cuộc khai quật liên tiếp nói trên, nếu không có đọc Hậu Hán thư, ông Lê Văn Siêu vẫn có thể kiểm soát kết luận của ông bằng cách đọc sử từ thời Mă Viện. Nhưng v́ bất chấp khoa học, nên ông không có kiểm soát, v́ sự kiểm soát là một yếu tố của cái khoa học mà ông không nh́n nhận.

Ông có ám chỉ sơ đến một cuộc dời đổi trung tâm từ Thanh Hóa đến Bắc Việt, nhưng không có bằng chứng, mà trái lại có bằng chứng ngược hẳn bao nhiêu cổ tích và ca dao của ta đều lấy khung cảnh núi Tản sông Đà, chớ không phải khung cảnh Thanh Hóa trừ một chuyện truyền thuyết độc nhứt là truyện đền Thần Đồng cổ ở núi Khả Lao.

Đọc mấy trang nầy, có lẽ ông cho rằng cuộc kiểm tra dân số của Mă Viện không đáng tin, nên ông không dùng.

Nhưng thử hỏi Mă Viện bịa ra những con số đó để làm ǵ? Và y sẽ chết, v́ vua Tàu sẽ cho người kiểm soát, bởi y đâu có phải là kẻ ở lại sau chiến tranh. Y không có lư do bịa, mà cũng không dám bịa.

Cái ǵ cũng c̣n cả, khoa học biết thế, nên cứ đ̣i hỏi gắt. Mà khoa học biết thế là nhờ kinh nghiệm. Khoa khảo cổ và khoa chủng tộc học dạy họ thấy chắc một trăm phần trăm rằng sự sống sót của các chủng tộc cổ, các nền văn minh cổ, bị ai cố xóa đi, những thứ ấy trường thọ ngoài sức tưởng tượng của con người.

Chủ đất cũ của Ấn Độ, cách đây 6 ngàn năm, hiện cứ c̣n. Chủ đất thứ nh́ là chủng Drawidien, bá chủ Ấn Độ cách đây 5000 cũng cứ c̣n và c̣n cả lâu dài, thành phố Harappa và Molienjo Daro vừa đào lên được cách đây không lâu mặc dầu bọn xâm lăng Aryen đă cố xóa tất cả.

Chúng tôi xin đưa ra một thí dụ điển h́nh nhứt về kết quả của việc kiểm soát giả thuyết và sử liệu.

Trong Việt sử: Xứ Đàng trong, tác giả là giáo sư Phan Khoang dựa vào Đại Nam thực lục, viết rằng người Anh, lập nghiệp ở Côn Đảo năm 1670 (đông 200 người) đă bị 15 người Mă Lai ăn tiền của quan trấn thủ Trấn Biên, tàn sát. Người Anh đến lập nghiệp mà không xin phép nên phải chịu cảnh đó.

Thấy mâu thuẫn trong câu sử ấy, 15 người không súng mà loại được 200 người có súng, giáo sư Nguyễn Thế Anh đă kiểm soát lại, và giáo sư t́m được giấy tờ của chúa Nguyễn Phúc Chu đă cho phép người Anh lập nghiệp ở Côn Đảo.

Khi mà Nguyễn Phúc Chu đă nh́n nhận hội buôn của Anh và đă cấp cái giấy phép đó th́ chúa c̣n có quyền rút giấy phép lại mà không cần ra lệnh cho trấn thủ của Trấn Biên làm đặc công ở Côn Đảo làm ǵ.

Nếu đánh bằng tay không th́ 200 người Anh vẫn thắng được 15 người Mă Lai dễ dàng, bởi đó là đặc công chỉ có dao, mà dao th́ không đáng sợ chút nào.

Hễ thấy tài liệu không ổn th́ luôn luôn phải kiểm soát lại và luôn luôn có tài liệu khác xác nhận hay đính chánh.

Có lẽ Đại Nam thực lục không hoàn toàn bịa. Soạn giả quyển đó có biết sự kiện quan trấn thủ Trấn Biên thuê điệp viên Mă Lai coi chừng người Anh. Rồi th́ khi thấy người Anh rút đi mà không biết v́ lẽ ǵ, soạn giả Đại Nam thực lục mới dùng sự có mặt của điệp viên để biến thành một trận Commando tưởng tượng. Nhưng người đời sau, phải thấy rằng Đại Nam thực lục đă viết một điều vô lư, không thể xảy ra được, cần kiểm soát lại người xưa mới xong. Khoa học là cái đó.

Từ năy giờ, chúng tôi có vẻ nhắm vào ông Lê Văn Siêu hơi nhiều. Nhưng không phải thế. Về mặt cá nhân, chúng tôi rất mến ông, và về mặt học vấn, chúng tôi cũng rất khâm phục ông.

Ở đây chỉ là một quan niệm khảo cứu chọi với một quan niệm khảo cứu. Khi quan niệm khác nhau, th́ cần có sự tranh luận. Và một người viết sách cần tŕnh phương pháp của ḿnh ra v́ dĩ nhiên là y cần được người đọc đồng ư nhờ thấy sự vững vàng về phương pháp của y.

Chúng tôi thấy các nhà bác học Âu Châu họ sai lầm là v́ họ không biết một số yếu tố mà thôi, chớ phương pháp của họ vẫn đúng và cần thiết để ngăn người nghiên cứu lập thuyết liều lĩnh.

Nếu họ kết luận rằng người Đông Sơn là tổ tiên của ta th́ phái học giả Việt Nam mà phủ nhận Đông Sơn, như ông Nguyễn Phương chẳng hạn, đ̣i hỏi bằng chứng, họ sẽ trả lời sao cho trôi?

Cho đến năm 1965 mà giáo sư đại học Nguyễn Phương c̣n đ̣i hỏi bằng chứng rằng Mă Lai Đông Sơn = Việt, th́ ta phải nghiêng ḿnh trước phương pháp học vậy, và phải t́m bằng chứng vậy.

Ông Lê Văn Siêu phàn nàn những nhà bác học ở Viện Viễn Đông Bác Cổ đo tài con người bằng uy tín bằng cấp. Sự thật th́ không hề có vấn đề bằng cấp trong đó. Quả họ có bằng cấp cao thật đó, nhưng mà đó là bằng luật khoa, y khoa hay ǵ ǵ khoa, chớ không ông nào có bằng cấp khảo cổ, bằng ngôn ngữ cả, và thế giới đánh giá họ trên giá trị của công tŕnh khảo cổ của họ, chớ những bằng cấp mà họ có, chẳng dính líu ǵ tới công việc của họ hết. Họ phần lớn là những người tự học trong bộ môn mà họ đeo đuổi. Ông Parmentier là một kiến trúc sư mà khoa kiến trúc đâu có là bằng cấp khảo cổ bao giờ?

Ông Lê lại nói rằng những thuyết của họ quá trống đánh xuôi kèn thổi ngược nên không có ǵ đáng cho ta phải bận tâm tới.

Không rơ ông Lê Văn Siêu có theo dơi những công tŕnh khảo cổ ở Âu, Mỹ, Phi v.v. hay không. Không có vấn đề nào mà không đẻ ra ít lắm là 5 thuyết khác nhau, chớ không phải chỉ ở xứ ta mà thôi đâu. Nhưng rồi chỉ có một thuyết là đúng và vững nhứt về mặt khoa học, và sự đúng nầy được nhiều kiểm soát, nhiều thử thách do các nhà bác học khác thử lửa nó, chớ không phải thiên hạ nhận nó đúng v́ t́nh cảm nào hay quyến rũ nào.

Ngay nhà Nho Nhượng Tống không thông khoa học mà c̣n phải nh́n nhận rằng không sao tránh được có nhiều thuyết xuôi ngược v́ “Tài liệu của sử học nguyên là một mớ lẫn lộn vàng thau. Sự lựa lọc thực là một chuyện trăm ngh́n khó, nó khó đến nỗi khoa học phải định phương pháp hẳn ḥi, vậy mà không phải ai ai cũng sáng suốt, cũng cẩn thận, đủ sức để theo những lời chỉ bảo ấy cho có kết quả” (Trích một lời b́nh trong bản dịch Sử kư của Tư Mă Thiên).

Đă bảo Nhượng Tống là một nhà Nho mà vẫn phải nh́n nhận sự dĩ nhiên của t́nh trạng ngược xuôi cả khi phương pháp đă được bày ra rồi.

Nhượng Tống không có nói nhiều, nhưng ta vẫn hiểu được rằng nhà Nho ấy công nhận phương pháp và nh́n nhận sự ngược xuôi không thể tránh, và nhứt là hiểu rằng thế nào rồi cũng sẽ chỉ có một thuyết là đúng.

Ông Lê Văn Siêu đưa ra t́nh trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược để ngầm phủ nhận giá trị của phương pháp học, và ông tŕnh bày thế nào mà người đọc cứ ngỡ là t́nh trạng xuôi ngược chỉ có ở Á Đông mà phương pháp học không thể áp dụng được, c̣n Âu Mỹ th́ áp dụng xuôi rót. Sự thật ngược hẳn lại. Ở Âu Mỹ người ta làm việc nhiều hơn, đông người tham dự hơn, nên xuôi ngược lại nhiều hơn ở Á Đông gấp bội.

Nội cái màu tóc của bà Jeanne d’Arc đă có đến 10 thuyết khác nhau rồi th́ đủ biết phương pháp học có đi xuôi chèo mát mái măi ở bên ấy hay chăng.

Ông Lê Văn Siêu lại c̣n lo rằng các thuyết “sai lầm” của người Âu Châu về nền văn minh cổ của ta đă được trước bạ mất rồi trong giới quốc tế, giờ “ta biết kêu với ai”. Xin Lê tiên sinh đừng có lo. Từ ngày người Pháp đi mất, các hội nghiên cứu trên thế giới vẫn trao đổi tạp chí và sách vở với V.N.C.H. và có lẽ với Bắc Việt nữa, thế nghĩa là họ cứ theo dơi công việc do chính ta tiếp tục. Lo là lo ta tiếp tục không xong ấy thôi, bằng cách bỏ cả mọi phương pháp khoa học th́ họ không c̣n coi ta ra ǵ nữa. Và cũng đừng tưởng rằng họ không đọc được tiếng Việt. Năm 1858, khi Pháp đến đây xâm lăng ta, không phải ông Trương Vĩnh Kư là thông ngôn đầu tiên đâu, và người thảo những thư từ đầu tiên bằng chữ Hán và chữ Nôm đều là người Pháp.

Sự trước bạ mà Lê tiên sinh lo sợ, không có nghĩa ǵ cả, chúng tôi vừa nói đến việc tự đính chánh của ông G. Cocdès 20 năm sau, một câu sử sai lầm.

Họ đủ lương tâm để tự đính chánh. Bằng như họ không biết họ sai, th́ đă có người khác đính chánh. Tất cả những nghiên cứu về Chơn Lạp, Phù Nam, Lâm Ấp của các ông Tây trước năm 1945 đă bị các ông Tây khác đính chánh tất cả rồi, v́ sự học hỏi của họ không bao giờ ngừng, và sự trước bạ ấy cũng chẳng có nghĩa ǵ hết.

Ông vẽ ra một con c̣, một con ngựa, ông đưa lên sở trước bạ để xin trước bạ, họ cũng nhận như thường, trước bạ chỉ để đánh dấu thời gian và chủ quyền chớ không hề là chứng minh thư đúng sự thật.

Theo ông Lê Văn Siêu th́ nước Tàu và nước Pháp là nước thống trị th́ những ǵ họ viết về ta là xuyên tạc không nên dùng.

Chúng tôi không hiểu khi Tàu bảo rằng dân ta đă có vua là Lạc Vương th́ họ xuyên tạc cái ǵ. Trái lại họ c̣n gián tiếp giúp ta chống lại L. Aurousseau về sau, ông nầy bảo rằng ta c̣n sống dưới chế độ bộ lạc vào thời đó chớ không có vua.

Hơn thế khi họ nói đến những rợ Lạc ở Hoa Bắc ba ngàn năm trước họ biết ta th́ họ xuyên tạc cái ǵ đây?

Theo Lê tiên sinh th́ không có cái ǵ tin được cả, cổ sử Tàu, hoặc các chứng tích khác đều không dùng được.

Như thế chỉ c̣n biết suy luận viễn vông, mà như vậy không c̣n là khảo cứu nữa, mà là viết luận thuyết rồi vậy.

Lê tiên sinh chủ trương phi phương pháp mà theo định nghĩa của tiên sinh là không nệ theo một lối suy luận nào mà tùy trường hợp để rộng tay áp dụng bất cứ phương pháp nào.

Thứ nhứt, chủ trương đó tự nó mâu thuẫn với nó. Đă bảo là phi phương pháp rồi lại định nghĩa là phải uyển chuyển dùng nhiều phương pháp khác nhau. Thế th́ phi ở chỗ nào? Đó là đa phương pháp chớ nào phải phi.

Và Lê tiên sinh có theo dơi các nhà bác học hay không, họ đâu có dùng độc một phương pháp bao giờ. Và họ luôn luôn uyển chuyển. Các ông Tây cho rằng những kiểu trang trí ở trống đồng Đông Sơn là do ảnh hưởng Lưỡng Hà, ảnh hưởng Pont Euxin theo thuyết truyền bá của Đức nhưng Đại tá Abadie bác bỏ ngay, cho rằng nhiều phong tục, kỹ thuật ở thượng du Bắc Việt giống hệt phong tục kỹ thuật ở vài miền của nước Pháp, đó chỉ là tương đồng ngẫu nhiên, không hề có ảnh hưởng qua lại nào cả.

Không phải hễ cứ một nhà bác học nói bậy là bao nhiêu nhà bác học khác đều phụ họa theo, và họ dùng đủ cả các phương pháp chớ không hề cứng ngắt như Lê tiên sinh đă nói.

Nhưng sử Tàu và nghiên cứu Âu Mỹ có sai, ta thấy ngay tức th́, nếu ta biết phê phán. Và họ vẫn có đúng, chớ không phải là sai toàn loạt như Lê tiên sinh tưởng. Và họ đúng rất nhiều.

*

*       *

Các nhà bác học, các nhà học giả, các sử gia ta lại có cái khuyết điểm nầy là họ lập trước một giả thuyết rồi cố lượm lặt những ǵ khả dĩ củng cố được giả thuyết của họ để chứng minh giả thuyết đó. Lối làm việc ấy thường đưa ta tới sai lầm, v́ chính con người của ta chủ quan, t́m đủ cách để giúp cho ta có lư.

Phải làm việc với một khối óc và một tấm ḷng trống trơn định kiến, không buồn đoán tổ tiên là ai, để chính sự việc tự do đưa ta tới cái đích nào đó, có thể cái đích đó mới thật là cái đích không bị khuynh hướng nào hướng dẫn tới cả mà chỉ có tài liệu và sự kiện cho xuất hiện ra mà thôi.

Tổ tiên ta là Tây, là Tàu, là “Mọi”, ta cũng đừng ham, đừng lo, đừng phấn khởi, đừng thất vọng.

Kẻ t́m ṭi, thoạt tiên phải là một anh mù hoàn toàn, mà anh mù đó cũng không nên có ư định nào hết, trừ ư định t́m biết một sự thật mà y hoàn toàn mù tịt. Chỉ trong điều kiện đó, y mới mong đi tới một sự thật hoàn toàn không bị chính y bóp méo, hoặc không bị tài liệu gạt gẫm. Vâng, tài liệu rất gạt gẫm khi ta đang cố ư t́m nó. Ta thấy nó hơi phục vụ ta được, ta vội chụp ngay để mà dùng. Thế là ta bị mắc bẫy ngay bởi nó nói một đàng mà ta hiểu đàng khác v́ ta đang quá cần nó nói theo ta, hễ thấy bề ngoài hơi đúng ư muốn của ta là ta dùng liền để chứng minh cái ǵ ta đang cần chứng minh.

Sử gia Nguyễn Phương, tác giả Việt Nam thời khai sinh, chủ trương rằng (Tạp chí Đại học Huế số 37) phải có “một cái nh́n tổng quát”, rằng “những chi tiết là cần phải dùng để cho câu chuyện chứa đầy sự sống, chớ đại cuộc mới là việc quan trọng”.

Nhưng không hiểu về nguồn gốc của dân tộc khá lâu đời như dân tộc ta, sử gia và ta phải đứng tại đâu, trong thời gian, để mà có cái nh́n tổng quát nói trên?

Muốn có, hẳn phải lập ra trước một giả thuyết rồi đứng trên đó như “đứng trên đỉnh núi cao nh́n xuống một cách bao la” h́nh ảnh mà sử gia đă dùng.

Và sử gia và bao nhiêu người khác đă sai lầm là v́ có cái nh́n tổng quát về một sự kiện vốn đang vô h́nh. T́m về nguồn gốc các dân tộc th́ phương pháp phải ngược hẳn lại, là lần ḍ từ các chi tiết nhỏ mà leo tới cái đỉnh nói trên. Khi cái nguồn gốc đó không ai biết nó là ǵ, và ở đâu, vào thời nào, th́ không làm sao mà t́m được một chỗ đứng cao hơn nó được, hầu có một cái nh́n tổng quát.

Sử gia lại chủ trương rằng “Ḿnh phải làm chủ sử liệu”. Làm chủ sử liệu thế nào? Sử gia chưa bao giờ đối chiếu sọ Việt và sọ Hoa, nhưng sử gia lại làm chủ sử liệu và quả quyết rằng cái sọ Việt giống cái sọ Hoa. Đó là “nắm các chi tiết dưới quyền điều khiển mạnh mẽ của ḿnh” (nguyên văn).

V́ điều khiển theo lối đó nên sử gia mới đi đến cái kết luận sai:

Việt = Hoa

Ông Lê Văn Siêu trong tạp chí Tân Văn số 21 và 22 năm 1970 cũng chủ trương giống như thế nhưng theo ông th́ “t́m ra chơn lư rồi tự cái chơn lư ấy dẫn đến cứu cánh ao ước”.

Chính mối nguy là ở chỗ đó. Ta không nên ao ước một cứu cánh nào cả, v́ hễ có ao ước là đă có mục đích sẵn rồi và chủ quan của ta luôn luôn xuôi ta thấy chơn lư nơi những cái không phải là chơn lư, chỉ v́ cái đó phù hợp với ao ước của ta.

Ta ao ước được làm Tây chăng? Mà nhà bác học O. Jansé th́ đă chứng minh rằng ta là Hy Lạp v́ những đống đá bên đường ở Việt Nam giống hệt phong tục Hy Lạp. Ông ấy không có ao ước ǵ hết cho ta, mà c̣n nói liều như thế, nếu ta lại có ao ước, ta sẽ sai đến đâu?

Nhà bác học O. Jansé không biết rằng những đống đá đó là tục của dân Dravidien ở Nam Ấn mà chúng tôi sẽ chứng minh rằng dân Dravidien là một chi của chủng Mă Lai cũng như dân ta không hề có dính líu đến Hy Lạp bao giờ cả.

Ta không ao ước ǵ cho Dravidien cả, cũng chẳng ao ước ǵ cho Việt Nam cả, nhưng nếu có những dấu vết Mă Lai trong xă hội Việt Nam ngày nay, chừng ấy ta mới dùng chứng tích những đống đá bên đường để củng cố thêm những chứng tích Mă Lai về Mă Lai Việt, bằng không th́ nên để yên các đống đá đó cho thời gian xóa mất nó, chớ không thể kéo dân Hy Lạp xa xôi vào với dân Lạc Việt.

*

*      *

Tinh thần khoa học rất cần trong một công việc khoa học, ai cũng biết thế, nh́n nhận rằng là đúng, nhưng thường th́ người ta bị chủ quan và định kiến đưa vào chỗ lạc lối mà không hay biết.

Nhan sách, chúng tôi đề là như thế, là đề sau khi viết sách xong, chớ thật ra th́ khi bắt tay vào việc, chúng tôi không có một ư kiến nào cả về nguồn gốc của tổ tiên ta, hay nói cho đúng ra là có, nhưng chúng tôi không nhận. Chúng tôi đă bị những ông H. Maspéro làm cho chúng tôi ngỡ rằng dân ta thuộc một chủng riêng biệt, phát tích tại chỗ, những ông L. Aurousseau làm chúng tôi ngỡ rằng ta là hậu duệ của Câu Tiễn, những ông Nguyễn Phương làm cho chúng tôi ngỡ rằng ta là Tàu thuần chủng, những ông Kim Định làm cho chúng tôi ngỡ rằng ta là con cháu của Thần Nông.

Nhưng rồi chúng tôi đều bất kể những ông ấy, tự tẩy năo ḿnh để học hỏi và t́m ṭi với một cái đầu trống không thành kiến, và chúng tôi đă đi đến cái đích Mă Lai. Nhan sách, chừng ấy mới được viết ra, và chính chúng tôi là kẻ kinh ngạc đầu tiên về khám phá của chúng tôi.

 

*

*      *

Các chương sách, viết xong, phải được sắp xếp lại cho có một trật tự hữu lư, một mạch lạc có khả năng dẫn dắt, thế nên người đọc có cảm giác y như là chúng tôi đă biết trước ḿnh muốn đi tới đâu, và biết sẵn nơi xuất phát của ḿnh, nhưng lúc làm việc th́ không phải thế.

Trong thời gian làm việc, chỉ có những ghi chép xô bồ, ghi chép nầy không dính líu tới ghi chép khác, gặp ǵ đọc nấy, gặp chi tiết nào quan trọng th́ giữ lại, chẳng biết để làm ǵ, sau thoáng thấy sự thật rồi, mới kiểm điểm và kiểm soát lại, rồi mới cho một trật tự thành h́nh.

*

*      *

Như ngay trong chương đầu nầy mà chúng tôi lại có nói đến sách của giáo sư Kim Định là sách ra đời cuối năm 1970, trong khi chúng tôi bắt đầu học hỏi từ năm 1960 và bắt đầu làm việc thật sự từ năm 1964. Ấy là v́ những đoạn nói về chuyện mới xảy ra khi sách được viết xong, lại được thêm vào, trước khi đưa cho nhà xuất bản, mà v́ những đoạn ấy phải nằm ở chương I hoặc chương III, nên nó có vẻ kỳ cục v́ sách viết từ năm 1964 mà ngay ở ḍng đầu lại nói đến cuốn Lịch sử thành lập đất Việt, phát hành vào đầu năm 1971.

*

*      *

Trí thức ta thường chỉ học có một môn, mà trong đó họ có thể đi rất sâu. Họ lỗi lạc trong môn đó. Nhưng có những ngành hoạt động đ̣i hỏi một cuộc tổng hợp của quá nhiều môn, thành thử ngành sử của ta không được tin cậy lắm v́ nó thường phiến diện. Ngay như viết về thời vua Lê chúa Trịnh mà thiên hạ cũng cứ chỉ dựa vào độc một nguồn tài liệu Trung Hoa mà bỏ sót nguồn khác phong phú hơn, là nguồn Tây phương, th́ nói chi là thượng cổ sử nó đ̣i hỏi một trăm lần hơn thế.

Ngay ở trang đầu, chúng tôi đă ám chỉ đến quyển Lịch sử thành lập đất Việt của ba nhà trí thức Việt Nam. Đó là ba nhà trí thức uyên bác trong ngành địa chất học. Nhưng ở trang 97, ba tác giả đó lại viết: “Thời lịch sử dân tộc cách đây lối 10 ngàn năm”.

Có lẽ ba tác giả muốn nói đến thời lịch sử của loài người tại đất Việt chăng, chớ tổ tiên ta th́ đă có bằng chứng đích xác là họ chỉ mới di cư tới đây 5 ngàn năm mà thôi.

Nhưng chúng tôi xét ở một câu sau th́ thấy ba soạn giả ấy đă lầm hệt như đại chúng, chớ không phải chỉ ngộ nhận thường.

Đại chúng, những người ṭ ṃ, có đọc sách phổ thông về khảo tiền sử, cứ cho rằng dân ta cổ trên mười ngàn năm, v́ khoa khảo tiền sử đă t́m thấy dấu vết loài người cổ trên mười ngàn năm tại đất Việt.

Y hệt như đại chúng Trung Hoa, họ cứ khoe rằng tổ tiên họ là “con người Bắc Kinh”, sống cách đây hơn ba trăm ngàn năm. Nhưng thật ra người Tàu th́ chỉ mới xuất hiện ở nước Tàu già năm ngàn năm mà thôi.

Ba tác giả trên băn khoăn tự hỏi: “Làm thế nào để biết đích xác về đời sống của tổ tiên ta, khi người Pháp đă cho biết có nhiều dấu vết đáng kể như một số răng, xương, dụng cụ thô sơ, như một ḥn đá h́nh trứng” (trang 102).

Xin thưa rằng không, tổ tiên chúng ta di cư đến dây cách đây 5 ngàn năm th́ đă văn minh hơn tác giả của những ḥn đá h́nh trứng nhiều lắm. Đá trứng là dấu vết của chủng Mélanésien và Négritos, mà theo khoa chủng tộc học th́ hai chủng đó không thể biến thành chủng của ta.

Đất nước ta đă qua tay rất nhiều chủ từ mười ngàn năm nay rồi, và chính v́ thế mà biết nguồn gốc của tổ tiên ta mới là chuyện khó, chớ nếu xương sọ nào cũng là xương của tổ tiên ta hết th́ tưởng nguồn gốc dân tộc, đă được biết chắc từ lâu, bởi chỉ với một cái xương quai hàm, các nhà bác học cũng có thể h́nh dung được đại khái chủ nhân xương ấy vóc dáng ra sao và sống một đời sống như thế nào rồi.

*

*      *

Như đă nói, khoa khảo tiền sử đă làm việc xong, cho biết đích xác là chủng Mă Lai từ Hoa Bắc di cư đến cổ Việt. Nhưng ở cổ Việt có đến năm bảy chủng khác nhau thay phiên nhau mà làm chủ, cho đến thời Mă Viện.

Nhà viết sử phải biết khoa chủng tộc học để xem người Việt hiện nay thuộc chủng nào trong năm bảy chủng đó, và phải kiểm soát bằng ngôn ngữ mà như thế th́ phải học ít lắm là ba bốn chục sinh ngữ và cổ ngữ Á Đông, rồi cuộc kiểm soát phải được bỏ ṿi qua các lănh vực khác nữa như thượng cổ sử Ấn và Tàu, truyền thuyết Việt, những phong tục bí mật, của Việt và của các dân khác, chúng tôi nói đến phong tục bí mật, v́ phong tục thường mà ai cũng thấy, sẽ đưa ta đến sai lầm, v́ đó là những điều mà dân tộc A có thể vay mượn của dân tộc B. Giáo sư Nguyễn Phương đă lầm khi thấy ta có những điểm giống Tàu. Nhưng những điểm bí ẩn mà Tàu và ta khác nhau như đen với trắng th́ giáo sư lại bỏ qua đi, v́ không hay biết hay v́ lẽ ǵ không rơ.

Chúng tôi viết quyển sách nầy sau khi đă quá thất vọng và không thấy sách nào về nguồn gốc dân tộc mà ta ổn cả. Ban đầu, chúng tôi chỉ học để mà biết vậy thôi, cho thỏa cái tánh ṭ ṃ, nhưng rồi chúng tôi tự hỏi sao lại không ghi lên giấy những ǵ ḿnh khám phá được, công bố ra thử xem có đúng hay không bởi sách nầy sẽ bị người khác mổ xẻ, và sự thật nhờ thế mà xuất hiện ra lần lần.

Tất cả những thuyết mà chúng tôi cho là không đúng, đều đă giúp ích cho chúng tôi rất nhiều th́ những trang sách của chúng tôi mà có sai đi nữa cũng sẽ giúp ích cho ai đó.

Cho tới nay, 1964, ta có thể nói rằng một quyển thông sử Việt Nam, cho dẫu là lược biên như Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, cũng chưa nên viết. Những Đại Việt sử kư toàn thư ngoại kỷ của Ngô Sĩ Liên, Khâm Định Việt sử của sử quán trào Nguyễn, những Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, đáng lư ǵ chưa nên viết, bởi ta c̣n thiếu những quyển sử dứt khoát cho từng vấn đề một.

Đối với một dân tộc khá lâu đời như dân tộc ta th́ Sử kư gồm hàng vạn vấn đề, thí dụ: Nền kinh tế dưới trào Lư. Y phục dân chúng Việt Nam dưới trào Đinh, Chế độ thi cử dưới trào Trần, mỗi vấn đề tạm gọi là nhỏ như thế, cần được hằng vài mươi cuốn sử khai thác, để cho không c̣n ǵ mờ ám trong đó nữa.

Nếu người viết thông sử tự ḿnh làm lấy tất cả th́ người ấy phải bỏ ra ít lắm là 80 năm làm việc mà không phải làm ǵ khác hơn là khảo sử và viết sử. Không ai có đủ điều kiện tài chánh và sức khoẻ để làm như vậy hết, kể cả ở các nước gọi là tân tiến. Ở các nước ấy người viết thông sử vẫn phải tham khảo các bộ sử cho từng vấn đề nói trên.

Chúng tôi thấy nhà xuất bản Presses universitaires de France cho xuất bản một quyển sử như thế nầy: Giá rau, cải ở Bá Lê từ năm 1468 đến năm 1683. Có kinh hồn chưa?

Cố đạo L. Cadière, một tay kiện tướng trong ngành khảo cổ ở Việt Nam có nói, sau khi viết xong bài “Nghiên cứu về Lũy Thầy”: Khi mà hàng trăm người làm xong những công việc nho nhỏ như thế nầy rồi th́ những người khác sau nầy mới có thể viết một bộ sử cho Annam (1906).

Câu nói tưởng như không có ǵ trên đây của L. Cadière chỉ dám viết về từng vấn đề một như thế mà thôi, chẳng hạn: “Những di chỉ lịch sử ở Quảng B́nh”, chẳng hạn “Nghiên cứu về các sử liệu của Việt sử”, chẳng hạn “Niên biểu các trào đại Annam qua lịch sử”.

Cố đạo đă bỏ ra đến ba năm để nghiên cứu về cái Lũy Thầy đó, mà trong nước ta, có hàng vạn cái cần phải nghiên cứu như thế, nên chi qua đời năm 80 tuổi, L. Cadière vẫn chưa dám viết một bộ Việt sử lược mà ông mơ ước.

Thế nên những thông sử đă có, đầy dẫy sai lầm và mơ hồ, càng xưa càng sai hơn, thậm chí những quyển thông sử viết sau năm 1945 mà c̣n bất chấp đến những phát kiến mới, ở trong nước và ở nước ngoài, về Việt sử, th́ nói chi những quyển sách viết năm 1920, 1930, 1940. Các ông viết thông sử không kể đến phát kiến mới th́ là lỗi ở các ông, nhưng có ông nào muốn kể đến, cũng không thể kể được, bởi ta quá thiếu về loại sử cho từng vấn đề nói trên.

Chúng tôi thấy rằng trong t́nh thế nghèo nàn của ta hiện nay th́ ai có tài liệu ǵ về vấn đề nào, xin cứ viết ra, như vậy chừng 100 năm nữa th́ một bộ sử lược Việt Nam tương đối không sai, có thể viết được. Bằng không th́ không biết tới đời kiếp nào ta mới có thông sử đúng và học tṛ cứ tiếp tục phải học chuyện sai, bởi các nhà soạn sử cho học tṛ tất phải bằng vào những quyển thông sử viết sai hiện có.

Ngày lễ Hai Bà Trưng, ta thấy ban tổ chức, cho hai Bà mặc áo vàng rực rỡ, bịt khăn màu rất đẹp, chỉ v́ ban tổ chức đă dựa vào những quyển thông sử sai.

Ít có quyển sử nào viết đúng về thời đó cả mà các ban tổ chức nghi lễ th́ đâu có bổn phận khảo sử kỹ hơn sử gia.

Những quyển sử cho từng vấn đề, đă quá ít mà riêng vấn đề nguồn gốc dân tộc th́ chỉ có 2 quyển, là quyển của sử gia Nguyễn Phương và của Đào Duy Anh, vừa đây có thêm một triết thuyết của giáo sư Kim Định, dựa trên một giả thuyết về nguồn gốc dân tộc ta.

Địa hạt thượng cổ sử ít người để chơn tới v́ đó là địa hạt hóc búa, sử liệu quá ít nên phải học quá nhiều môn phụ thuộc, thành thử chợ ế khách. Nhưng chính v́ thiên hạ chê mà ta có bổn phận dấn thân vào để bổ túc hoặc đính chánh những công tŕnh hiếm hoi của vài sử gia lưa thưa.

Sau ông L. Aurousseau 32 năm, năm nay, năm 1964, chúng ta lại vẫn c̣n phải nói gần gần như là ông đă nói.

Chúng tôi không ngại viết sử dở, mà viết sai cũng không phải lo, bởi v́:

“Trong lănh vực cổ sử cũng như trong các lănh vực khác, sự khảo cứu không măi măi đứng yên một chỗ mà tiến triển không ngừng, những thủ đắc của người trước nếu không là điểm tựa cho người sau tiến lên th́ cũng là chính đề để người sau xây dựng phản đề. Nhứt là khi gặp những nghi vấn lịch sử, ư kiến của những người đối lập càng cần được đem ra kiểm soát, phê b́nh, để biện minh cho ư kiến của chính ḿnh”.

Trần Viên

Tạp chí Bách Khoa, số 205, 15.7.1965

Nếu quyển sách nhỏ nầy mà có chừng một trang giúp ích được vào việc nghiên cứu cổ sử Việt Nam của người sau, th́ cũng không uổng công chúng tôi đă bỏ ra một chục năm học hỏi.

Trong sách nầy chúng tôi thường có dịp phê b́nh và công kích những nhà bác học Tây phương làm việc khảo cứu cho xứ ta. Nhưng xin đừng tưởng rằng chúng tôi sướng miệng lắm khi làm như vậy, nhứt là đối với ông H. Maspéro.

Ông H. Maspéro, trở về già, đă gia nhập kháng chiến bí mật chống Đức trong trận thế chiến thứ II, và đă bị Đức quốc xă ngược đăi đến chết. Đối với chúng tôi, ông là một bậc anh hùng.

Nhưng chúng tôi phải v́ sự thật khoa học, biết sao giờ!

Họ giỏi hơn ta quá nhiều, họ phân biệt được một đồng tiền nhà Chu thật với một đồng tiền nhà Chu giả th́ tưởng ta khó mà làm một ḿnh cái công việc mà họ đă làm, nhưng v́ không biết vài yếu tố nào đó mà họ sai, ta vẫn phải vạch rơ, và công việc kiểm soát của ta, không có nghĩa là phụ ơn họ.

Cố đạo L. Cadière thường nói: “Chúng tôi không có tham vọng viết sử, chúng tôi chỉ có lôi ra ánh sáng và thu thập cho thật nhiều tài liệu vững để dành cho các sử gia đời sau”.

Đó là một câu nói khiêm tốn thật sự chớ không giả, và tả đúng tinh thần làm việc của người Tây phương. Nội cái chương tŕnh hạn định ấy, đă là một công tŕnh vĩ đại rồi, và ba tờ tạp chí B.E.F.E.O. – B.S.E.I. – B.A.V.H. là kho tàng vô giá của dân tộc ta vậy. Nếu thỉnh thoảng các ông có thử viết sử, mà có viết sai đi nữa cũng chẳng sao, và công phu của các ông, ta không bao giờ quên, và trái lại c̣n cần nói lớn lên ḷng tri ân của ta đối với các ông.

Trong địa hạt khoa học, bài bác nhau, không hề có nghĩa là không ưa nhau hay thù nghịch nhau, và chính từ các cuộc bài bác, sự thật mới xuất hiện ra được.

*

*      *

Ở mấy chương trước chúng tôi có nói đến cái bí của các ông Tây về Đông Sơn và chúng tôi sẽ theo phương pháp học để t́m những cái khoen trung gian cần thiết.

Nhưng như đă nói, Đông Sơn là một cuộc sa lầy, nguồn gốc dân tộc ta làm sao mà nằm tại giai đoạn đó được.

Tuy nhiên, việc học hỏi ấy, không phải là đáng vứt đi, v́ nó soi sáng giai đoạn giữa. Ta ngược ḍng thời gian nhưng rồi cũng phải xuôi ḍng thời gian để đi đến những cái bến đích xác. Một cái bến đó là thời Mă Viện chớ không phải là thời Lộ Bác Đức như ông L. Aurousseau đă nói. Từ năm 111 T.K. đến năm Mă Viện, sử ta c̣n mơ hồ nhiều lắm, và đă bị ông L. Aurousseau làm cho rối loạn thêm chính v́ ông tưởng rằng nó đă rơ, theo lối hiểu sử Tàu quá sai lầm của ông.

Đông Sơn là giai đoạn nằm trước thời Hai Bà Trưng đúng 31 năm.

Biết rơ Đông Sơn không thể biết nguồn gốc dân tộc ta, nhưng vẫn biết rơ được một thời vài trăm năm, vào giai đoạn trung điệp.

*

*      *

Người làm loại sách nầy không thể cả tham, vừa phổ thông, vừa khảo cứu thật sự, nên y phải hy sinh tinh thần phổ thông, nói tắt về rất nhiều điểm được xem như là người trong giới đă biết rơ cả rồi, thành thử đối với người không theo dơi vấn đề, có đôi chỗ hơi tối.

Chẳng hạn những cuộc khai quật ở Đông Sơn, chúng tôi chỉ ám chỉ đến mà thôi chớ không kể rơ lại.

Về xuất xứ tham khảo th́ chúng tôi cũng chỉ ghi xuất xứ của những trích dẫn mà chưa ai dùng làm chứng tích. Những trích dẫn khác vẫn được ám chỉ đến, nhưng cũng kể như là đă được phổ biến rồi, th́ xin không kể ra đầy đủ và dài ḍng về tác giả và về sách được trích dẫn.

Làm như thế cốt để tỉa bớt sự rườm rà cho một trang sách đỡ nặng, chớ không có ǵ lạ.

Chúng tôi chỉ trích nguyên văn khi nào một câu sử có chứa đựng một hoặc vài ḍng chữ mà toàn thể người đọc đều cần, để nghiền ngẫm chớ không phải trích nguyên văn tất cả mọi tham khảo.

Nhưng những biểu chỉ số sọ, có biểu tưởng như không cần thiết lại cũng được cho in hết cả ra đây, v́ các biểu chỉ số sọ là tài liệu hiếm mà người khác có thể cần, không như Sử kư, Tiền Hậu Hán thư mà bất kỳ ai muốn mua giờ nào cũng có tại Chợ Lớn.

Chứa đựng của quyển sách nầy là tŕnh ra những ǵ chưa có sách nào nói, hoặc bác bỏ những ǵ của các sách khác mà chúng tôi tưởng là sai lầm, chớ không giẫm chơn lên những công tŕnh của người trước.

Thành thử lắm chương rất là ngắn, bởi vấn đề đă được sách khác nghiên cứu kỹ rồi, chúng tôi chỉ đưa ra một bằng chứng mới để bác bỏ th́ không cần dài làm ǵ.

Quyển sách nầy chia ra làm hai phần, tuy không có biên giới rơ rệt, nhưng vẫn thấy được. Hai phần ấy nằm rải rác khắp quyển sách chớ không phải phần đầu và phần cuối của tác phẩm.

Chúng tôi, một mặt bác bỏ những thuyết sai lầm của người khác, một mặt tŕnh ra những sự thật khoa học.

Cái phần bác bỏ ấy có vẻ như là bút chiến, khiến chúng tôi rất khổ tâm, nhưng không thể tránh, v́ có những điều sai mà được cả nước đều tin từ lâu năm, th́ phải ḥ hét cho to, như về vụ Anh-Đô-Nê-Diêng chẳng hạn.

Tuy nhiên, khoa học vẫn không cấm bút chiến. Giới khoa học bút chiến với nhau bằng sách và bằng tạp chí là điều thường thấy, chớ không phải chỉ có báo hằng ngày mới là có bút chiến mà thôi.

Nhưng xin quư vị đừng xem đây là bút chiến. Chúng tôi không cố ư bút chiến với vị nào hết, nhưng cần phải vạch những điểm sử sai ra, cho trống đường, hầu khoa học tiến tới, chỉ có thế thôi.





Tài liệu tham khảo riêng cho chương nầy:

O. Jansé: Arehaco logical Research in Indo China, H.Y.I 1947

V. Goloubew: La maison Dongsonienne, BEFEO 1938

V. Goloubew: Le peuple de Đông Sơn, Toulouse 1936

V. Goloubew: Le Tambour de métaltique de Hoàng Hạ, BEFEO 1934

H. Parmentier: Anciens tambours de bronze, BEFEO 1908

L. Bezacier: Découvertes archéologiques au Tonkin, Paris 1946

Nguyễn Phương: Việt Nam thời khai sinh, Huế 1915

Lê Văn Hảo: Hành tŕnh vào dân tộc học, Saigon

R. Grousset: Histoire de l’Asie T. II, Paris 1925

Nguyễn Siêu: Phương Đ́nh dư địa chí, Saigon

Lê Văn Siêu: Việt Nam văn minh sử cương, Saigon

Những trích dẫn Phù Nam Kư, Lâm Ấp Kư, Thủy Kinh Chú Giao Châu ngoại việc kư của A. Stein (Tạp chí Hán học), Bắc Kinh 1947

G. Coedès: Les peuples de la péninsule Indochinoise, Paris 1962

H. Maspéro: Études d’histoire d’Annam (Le royaume de VanLang), BEFEO 1918

L. Aurousseau: La première conquête chinoise des pays annamites, 1923 (Notes sur les origines du peuple annamite)

P. Liston ;  J. Millot: Les races humaines, Paris 1936

H.V. Vallois: Les races humaines, Paris 1914

Cl. Madrolle: Le Tonkin ancien, BEFEO 1933

Lê Chi Thiệp: Gốc tích dân tộc Việt Nam, Saigon

Phạm Văn Sơn: Việt sử tân biên, Saigon

Kim Định: Việt lư tố nguyên, Saigon

Nguyễn Phương: Tạp chí Đại học, Huế

Phạm Việt Châu: Trăm Việt trên ḍng định mệnh (Tạp chí Bách khoa), Saigon

Lê Văn Siêu: Tạp chí Tân Văn, Saigon

L. Cadière: Toàn bộ B.A.V.H., Saigon

Phạm Việp: Hậu Hán thư, N.T.N.S.